Như vầy tôi nghe.
SC 1Một thời Thế Tôn ở Sāvatthi (Xá-vệ), tại Jetavana (Kỳ-đà Lâm), vườn ông Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Ðộc).
SC 2Lúc bấy giờ, Tỷ-kheo tên là Ariṭṭha, xưa làm nghề huấn luyện chim ưng, khởi lên ác tà kiến như sau: “Theo như ta hiểu pháp Thế Tôn thuyết giảng, khi thọ dụng những pháp được Thế Tôn gọi là chướng ngại pháp, thật sự không có chướng ngại gì”.
SC 3Một số đông Tỷ-kheo nghe như sau: “Tỷ-kheo tên Ariṭṭha, xưa làm nghề huấn luyện chim ưng, khởi lên ác tà kiến như sau: “Theo như ta hiểu pháp Thế Tôn thuyết giảng, khi thọ dụng những pháp được Thế Tôn gọi là chướng ngại pháp, thật sự không có chướng ngại gì”. Rồi những Tỷ-kheo ấy đi đến chỗ Tỷ-kheo Ariṭṭha, xưa làm nghề huấn luyện chim ưng, khi đến xong, liền nói với Tỷ-kheo Ariṭṭha, xưa làm nghề huấn luyện chim ưng như sau
SC 4—Này Hiền giả Ariṭṭha, có đúng sự thật rằng, Hiền giả khởi lên ác tà kiến như sau: “Theo như tôi hiểu … thật sự không có chướng ngại gì”?
SC 5—Thật sự là vậy, chư Hiền. Theo như tôi hiểu … không có chướng ngại gì.
SC 6Rồi những Tỷ-kheo ấy muốn Tỷ-kheo Ariṭṭha, xưa làm nghề huấn luyện chim ưng từ bỏ ác tà kiến ấy, liền cật vấn, nạn vấn lý do, thảo luận—“ Hiền giả Ariṭṭha, chớ nói như vậy, chớ xuyên tạc Thế Tôn. Xuyên tạc Thế Tôn là không tốt. Thế Tôn không có nói như vậy. Hiền giả Ariṭṭha, Thế Tôn đã dùng nhiều pháp môn thuyết chướng đạo pháp. Và những ai thọ dụng chúng tự đủ bị chướng ngại. Thế Tôn đã thuyết các dục vui ít, khổ nhiều, não nhiều, do vậy nguy hiểm càng nhiều hơn. Thế Tôn đã thuyết các dục được ví như khúc xương … Thế Tôn đã thuyết các dục được ví như một miếng thịt … Thế Tôn đã thuyết các dục được ví như bó đuốc cỏ khô … Thế Tôn đã thuyết các dục được ví như hố than hừng … Thế Tôn đã thuyết các dục được ví như cơn mộng … Thế Tôn đã thuyết các dục được ví như vật dụng cho mượn … Thế Tôn đã thuyết các dục được ví như trái cây … Thế Tôn đã thuyết các dục vọng được ví như lò thịt … Thế Tôn đã thuyết các dục vọng được ví như gậy nhọn … Thế Tôn đã thuyết các dục được ví như đầu rắn, vui ít khổ nhiều, não nhiều và do vậy, nguy hiểm càng nhiều hơn”.
SC 7Tỷ-kheo Ariṭṭha xưa làm nghề huấn luyện chim ưng, dầu được các Tỷ-kheo ấy cật vấn, chất vấn thảo luận, vẫn nói lên ác tà kiến ấy, cứng đầu, chấp chặt, nắm chặt tà kiến ấy: “Thật sự là vậy, theo như tôi hiểu, pháp Thế Tôn thuyết giảng … không có chướng ngại gì”.
SC 8Vì các Tỷ-kheo không thể làm cho Tỷ-kheo Ariṭṭha, xưa làm nghề huấn luyện chim ưng, từ bỏ ác tà kiến ấy, nên họ đến chỗ Thế Tôn ở, khi đến xong, đảnh lễ Thế Tôn và ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, những Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn
SC 9—Bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo Ariṭṭha, xưa làm nghề huấn luyện chim ưng, khởi lên ác tà kiến như sau: “Theo tôi hiểu, pháp Thế Tôn thuyết giảng … không có chướng ngại gì”. Bạch Thế Tôn, chúng con nghe: “Tỷ-kheo tên Ariṭṭha, xưa làm nghề huấn luyện chim ưng … không có chướng ngại gì”. Bạch Thế Tôn, rồi chúng con đi đến chỗ Tỷ-kheo Ariṭṭha, xưa làm nghề huấn luyện chim ưng, khi đến xong, liền nói với Tỷ-kheo Ariṭṭha, xưa làm nghề huấn luyện chim ưng—“ Này Hiền giả Ariṭṭha, có đúng sự thật chăng? Hiền giả khởi lên ác tà kiến như sau: “Theo như tôi hiểu … thật sự không có chướng ngại gì”.
SC 10Bạch Thế Tôn, khi nghe nói vậy, Tỷ-kheo Ariṭṭha, xưa làm nghề huấn luyện chim ưng, nói với chúng con như sau—“ Thật sự là vậy. Chư Hiền, theo như tôi hiểu … thật sự không có chướng ngại gì”.
SC 11Bạch Thế Tôn, chúng con muốn khiến Tỷ-kheo Ariṭṭha, xưa làm nghề huấn luyện chim ưng, từ bỏ ác tà kiến ấy, liền cật vấn, nạn vấn lý do, thảo luận—“ Hiền giả Ariṭṭha, chớ nói như vậy! Chớ xuyên tạc Thế Tôn. Xuyên tạc Thế Tôn là không tốt. Thế Tôn không có nói như vậy, Hiền giả Ariṭṭha, Thế Tôn đã dùng nhiều pháp môn thuyết chướng đạo pháp. Và những ai thọ dụng chúng, tự đủ bị chướng ngại. Thế Tôn đã thuyết các dục vui ít, khổ nhiều, não nhiều, do vậy nguy hiểm càng nhiều hơn. Thế Tôn đã thuyết các dục được ví như khúc xương … Thế Tôn đã thuyết các dục được ví như đầu rắn, vui ít, khổ nhiều, não nhiều, và do vậy nguy hiểm càng nhiều hơn”.
SC 12Bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo Ariṭṭha, xưa làm nghề huấn luyện chim ưng, dầu được chúng con cật vấn, nạn vấn lý do, thảo luận, vẫn nói lên ác tà kiến ấy, cứng đầu, chấp chặt, nắm chặt tà kiến ấy: “Thật sự là vậy, theo tôi hiểu, pháp Thế Tôn thuyết giảng … không có chướng ngại gì”. Bạch Thế Tôn, vì chúng con không thể làm cho Tỷ-kheo Ariṭṭha, xưa làm nghề huấn luyện chim ưng, từ bỏ ác tà kiến ấy, nên chúng con đến hỏi Thế Tôn ý nghĩa này.
SC 13Rồi Thế Tôn cho gọi một Tỷ-kheo khác
SC 14—Này Tỷ-kheo, hãy đi và nhân danh Ta gọi Tỷ-kheo Ariṭṭha, xưa làm nghề huấn luyện chim ưng rằng: “Hiền giả Ariṭṭha, bậc Ðạo Sư gọi Hiền giả”.
SC 15—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
SC 16Tỷ-kheo ấy vâng lời Thế Tôn, đến chỗ Tỷ-kheo Ariṭṭha, xưa làm nghề huấn luyện chim ưng, sau khi đến, liền nói với Tỷ-kheo Ariṭṭha, xưa làm nghề huấn luyện chim ưng
SC 17—Hiền giả Ariṭṭha, bậc Ðạo sư gọi Hiền giả.
—Thưa vâng, Hiền giả.
SC 18Tỷ-kheo Ariṭṭha, xưa làm nghề huấn luyện chim ưng, đáp lời Tỷ-kheo ấy, đi đến chỗ Thế Tôn ở, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với Tỷ-kheo Ariṭṭha, xưa làm nghề huấn luyện chim ưng, đang ngồi xuống một bên
SC 19—Này Ariṭṭha, có thật chăng, Ông khởi lên ác tà kiến như sau: “Theo như tôi hiểu … thật sự không có chướng ngại gì”?
SC 20—Thật sự là vậy, bạch Thế Tôn. Theo như con hiểu, thật sự không có chướng ngại gì.
SC 21—Này kẻ ngu si kia, sao Ông lại hiểu pháp Ta thuyết giảng như vậy? Này kẻ ngu si kia, có phải chăng, Ta đã dùng nhiều pháp môn thuyết chướng đạo pháp. Và những ai thọ dụng chúng tự đủ bị chướng ngại? Ta đã thuyết các dục vui ít, khổ nhiều, não nhiều, do vậy nguy hiểm càng nhiều hơn. Ta đã thuyết các dục được ví như khúc xương … Ta đã thuyết các dục được ví như miếng thịt … được ví như bó đuốc cỏ khô … được ví như hố than hừng … được ví như cơn mộng … được ví như vật dụng cho mượn … được ví như trái cây … được ví như lò thịt … được ví như gậy nhọn … Ta đã thuyết các dục được ví như đầu rắn, vui ít, khổ nhiều, não nhiều, và do vậy nguy hiểm càng nhiều hơn. Và này kẻ ngu si kia, không những Ông xuyên tạc Ta, vì Ông đã tự chấp thủ sai lạc, Ông tự phá hoại Ông và tạo nên nhiều tổn đức. Này kẻ ngu si kia, và như vậy sẽ đưa đến bất hạnh và đau khổ lâu dài cho Ông.
SC 22Rồi Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo
SC 23—Chư Tỷ-kheo, các Ông nghĩ thế nào? Tỷ-kheo Ariṭṭha, xưa làm nghề huấn luyện chim ưng này có thể khởi lên tia lửa sáng gì trong Pháp và Luật này không?
SC 24—Bạch Thế Tôn, làm sao có thể được! Không thể được, bạch Thế Tôn.
SC 25Ðược nói vậy, Tỷ-kheo Ariṭṭha, xưa làm nghề huấn luyện chim ưng, im lặng, hổ thẹn, thụt vai, cúi đầu, lo âu, câm miệng. Rồi Thế Tôn, sau khi biết được Tỷ-kheo Ariṭṭha, xưa làm nghề huấn luyện chim ưng đang im lặng, hổ thẹn, thụt vai, cúi đầu, lo âu, câm miệng, bèn nói với Tỷ-kheo Ariṭṭha, xưa làm nghề huấn luyện chim ưng
SC 26—Này kẻ ngu si kia, người ta sẽ được biết Ông qua ác tà kiến của chính Ông. Ở đây, Ta sẽ hỏi các Tỷ-kheo.
SC 27Rồi Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo
SC 28—Chư Tỷ-kheo, các Ông có hiểu pháp Ta thuyết giảng, giống như Tỷ-kheo Ariṭṭha, xưa làm nghề huấn luyện chim ưng này, không những đã xuyên tạc Ta vì đã tự chấp thủ sai lạc, mà còn tự phá hoại mình và gây nên nhiều tổn đức?
SC 29—Bạch Thế Tôn, không. Bạch Thế Tôn, Thế Tôn đã dùng nhiều pháp môn thuyết chướng đạo pháp; và những ai thọ dụng chúng, tự đủ bị chướng ngại. Thế Tôn đã thuyết các dục vui ít, khổ nhiều, não nhiều, do vậy nguy hiểm càng nhiều hơn, Thế Tôn đã thuyết các dục ví như khúc xương … (như trên) … Thế Tôn đã thuyết các dục ví như đầu rắn, vui ít, khổ nhiều, não nhiều và do vậy nguy hiểm càng nhiều hơn.
SC 30—Lành thay, chư Tỷ-kheo! Lành thay, chư Tỷ-kheo! Các Ông hiểu pháp Ta thuyết giảng như vậy. Chư Tỷ-kheo, Ta đã dùng nhiều pháp môn thuyết chướng đạo pháp, và những ai thọ dụng chúng, tự đủ bị chướng ngại. Ta đã thuyết các dục vui ít, khổ nhiều, não nhiều, và do vậy nguy hiểm càng nhiều hơn. Ta đã thuyết các dục ví như khúc xương … (như trên) … Ta đã thuyết các dục ví như đầu rắn, vui ít, khổ nhiều, não nhiều, và do vậy nguy hiểm càng nhiều hơn. Nhưng Tỷ-kheo Ariṭṭha, xưa làm nghề huấn luyện chim ưng, không những xuyên tạc Ta vì đã tự chấp thủ sai lạc mà còn tự phá hoại mình và tạo nên nhiều tổn đức, và như vậy sẽ đưa đến bất hạnh, đau khổ lâu ngày cho kẻ ngu si ấy.
SC 31Thật sự, này các Tỷ-kheo, sự kiện này không xảy ra, người ta có thể thọ dụng các dục ngoài các dục, ngoài các dục tưởng, ngoài các dục tầm.
(Ví dụ con rắn)
SC 32Chư Tỷ-kheo, ở đây có một số người ngu si học pháp, như Kinh, Ứng tụng, Giải thuyết, Kệ tụng, Cảm hứng ngữ, Như thị ngữ, Bổn sanh, Vị tằng hữu pháp, Phương quảng. Sau khi học các pháp này, họ không quán sát ý nghĩa những pháp ấy với trí tuệ. Những pháp ấy, vì ý nghĩa không được trí tuệ quán sát, nên không trở thành rõ ràng. Họ học các pháp chỉ vì lợi ích, muốn chỉ trích người khác, chỉ vì lợi ích, muốn khoái khẩu biện luận, và họ không đạt được mục tiêu mà sự học pháp hướng đến. Những pháp ấy vì nắm giữ sai lạc nên đưa họ đến bất hạnh, đau khổ lâu dài. Vì sao vậy? Này các Tỷ-kheo, vì nắm giữ sai lạc các pháp.
SC 33Chư Tỷ-kheo, ví như một người ưa muốn rắn nước, tìm cầu rắn nước, đi khắp chỗ để tìm rắn nước. Người đó thấy một con rắn nước lớn, và người đó bắt con rắn ấy ở lưng hay ở đuôi. Con rắn ấy có thể quay lại cắn người đó nơi tay, nơi cánh tay hay ở một phần nào khác của cơ thể, và người đó có thể do nhân này mà bị chết hay bị đau khổ gần như chết. Vì sao vậy? Chư Tỷ-kheo, vì nắm bắt con rắn một cách sai lạc. Cũng vậy này các Tỷ-kheo, ở đây, một số người ngu si học pháp … Chư Tỷ-kheo, vì sự chấp thủ các pháp sai lạc.
SC 34Ở đây, này các Tỷ-kheo, một số Thiện nam tử học pháp, như Kinh, Ứng tụng, Giải thuyết, Kệ tụng, Cảm hứng ngữ, Như thị ngữ, Bổn sanh, Vị tằng hữu pháp, Phương quảng. Sau khi học các pháp này, họ quán sát ý nghĩa những pháp ấy với trí tuệ. Những pháp ấy, vì ý nghĩa được trí tuệ quán sát, nên trở thành rõ ràng. Họ học pháp không vì lợi ích, muốn chỉ trích người khác, không vì lợi ích, muốn khoái khẩu biện luận, và họ đạt được mục tiêu mà sự học pháp hướng đến. Những pháp ấy, vì khéo nắm giữ, nên đưa họ đến hạnh phúc, an lạc lâu dài. Vì sao vậy? Này các Tỷ-kheo, vì khéo nắm giữ các pháp.
SC 35Chư Tỷ-kheo, ví như một người ưa muốn rắn nước, tìm cầu rắn nước đi khắp chỗ để tìm rắn nước. Người đó thấy một con rắn nước lớn. Người đó có thể khéo đè con rắn nước với cây gậy có nạng. Sau khi khéo đè với cây gậy có nạng, người đó có thể khéo nắm giữ cổ rắn. Chư Tỷ-kheo, dầu cho con rắn nước ấy có thể cuốn thân nó xung quanh tay, hay cánh tay, hay một thân phần nào khác, người đó cũng không vì nhân duyên ấy đi đến chỗ chết hay đến sự đau khổ gần như chết. Vì sao vậy? Chư Tỷ-kheo, vì khéo nắm giữ con rắn nước vậy.
SC 36Cũng vậy, chư Tỷ-kheo, ở đây, một số Thiện nam tử học pháp … chư Tỷ-kheo, vì khéo nắm giữ các pháp vậy. Do vậy, này các Tỷ-kheo, hãy hiểu rõ ý nghĩa lời Ta thuyết giảng và thọ trì như vậy. Nếu có ai không hiểu rõ ý nghĩa lời Ta thuyết giảng thì ở nơi đây, các Ông hãy hỏi Ta hay hỏi những bậc Tỷ-kheo trí thức.
(Ví dụ chiếc bè)
SC 37Chư Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng pháp cho các Ông, ví như chiếc bè để vượt qua, không phải để nắm giữ lấy. Hãy nghe và khéo tác ý, Ta sẽ giảng.
SC 38—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
SC 39Những Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn thuyết giảng như sau
SC 40—Này các Tỷ-kheo, ví như có người đang đi trên con đường lớn dài, đến một vùng nước rộng, bờ bên này nguy hiểm và hãi hùng, bờ bên kia an ổn và không kinh hãi, nhưng không có thuyền để vượt qua hay không có cầu bắc qua từ bờ này đến bờ kia. Người đó tự suy nghĩ: “Ðây là vùng nước rộng, bờ bên này nguy hiểm và hãi hùng, bờ bên kia an ổn và không kinh hãi, nhưng không có thuyền để vượt qua hay không có cầu bắc qua từ bờ này đến bờ kia. Nay ta hãy thâu góp cỏ, cây, nhánh, lá, cột lại thành chiếc bè, và dựa trên chiếc bè này, tinh tấn dùng tay chân, có thể vượt qua bờ bên kia một cách an toàn”. Chư Tỷ-kheo, rồi người đó thâu góp cỏ, cây, nhánh, lá cột lại thành chiếc bè, và nhờ chiếc bè này, tinh tấn dùng tay chân vượt qua bờ bên kia một cách an toàn. Khi qua bờ bên kia rồi, Người đó suy nghĩ: “Chiếc bè này lợi ích nhiều cho ta, nhờ chiếc bè này, ta tinh tấn dùng tay chân để vượt qua bờ bên kia một cách an toàn. Nay ta hãy đội chiếc bè này trên đầu hay vác nó trên vai, và đi đến chỗ nào ta muốn”. Chư Tỷ-kheo, các Ông nghĩ thế nào? Chư Tỷ-kheo, nếu người đó làm như vậy, thì có làm đúng với sở dụng của chiếc bè chăng?
—Bạch Thế Tôn, không.
SC 41—Chư Tỷ-kheo, người đó phải làm thế nào cho đúng sở dụng của chiếc bè? Ở đây, chư Tỷ-kheo, người đó sau khi vượt qua bờ bên kia, có thể suy nghĩ: “Chiếc bè này lợi ích nhiều cho ta. Nhờ chiếc bè này, ta tinh tấn dùng tay chân đã vượt qua bờ bên kia một cách an toàn. Nay ta hãy kéo chiếc bè này lên trên bờ đất khô, hay nhận chìm xuống nước, và đi đến chỗ nào ta muốn”. Chư Tỷ-kheo, làm như vậy, người đó làm đúng sở dụng chiếc bè ấy. Cũng vậy, này chư Tỷ-kheo, Ta thuyết pháp như chiếc bè để vượt qua, không phải để nắm giữ lấy.
SC 42Chư Tỷ-kheo, các Ông cần hiểu ví dụ cái bè. Chánh pháp còn phải bỏ đi, huống nữa là phi pháp.
(Các kiến xứ)
SC 43Này các Tỷ-kheo, có sáu kiến xứ. Thế nào là sáu? Ở đây, này các Tỷ-kheo, có kẻ vô văn phàm phu, không đi đến yết kiến các bậc Thánh, không thuần thục pháp các bậc Thánh, không tu tập pháp các bậc Thánh, không đi đến yết kiến các bậc Chơn nhơn, không thuần thục pháp các bậc Chơn nhơn, không tu tập pháp các bậc Chơn nhơn, xem sắc pháp: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”, xem cảm thọ: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”, xem tưởng: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”, xem các hành: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”, xem cái gì được thấy, được nghe, được cảm xúc, được ý thức, được đạt tới, được tìm cầu, được ý suy tư: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”, và bất cứ kiến xứ nào đều nói rằng: “Ðây là thế giới, đây là tự ngã, sau khi chết, tôi sẽ thường còn, thường hằng, thường trú, không biến chuyển, tôi sẽ trú như thế này cho đến mãi mãi”, xem như vậy là: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”.
SC 44Và này chư Tỷ-kheo, có vị Ða văn Thánh đệ tử đi đến yết kiến các bậc Thánh, thuần thục các pháp bậc Thánh, tu tập pháp các bậc Thánh, đi đến yết kiến các bậc Chơn nhơn, thuần thục pháp các bậc Chơn nhơn, tu tập pháp các bậc Chơn nhơn, xem sắc pháp: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”, xem cảm thọ: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”, xem tưởng: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”, xem các hành: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”, xem cái gì được thấy, được nghe, được cảm xúc, được ý thức, được đạt tới, được tìm cầu, được ý suy tư: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”, và bất cứ kiến xứ nào đều nói rằng: “Ðây là thế giới, đây là tự ngã, sau khi chết tôi sẽ thường còn, thường hằng, thường trú, không biến chuyển, tôi sẽ trú như thế này cho đến mãi mãi”, xem như vậy là: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”. Vị này do quán sát như vậy, đối với sự vật chẳng thật có nên không có lo âu, phiền muộn.
(Lo âu)
SC 45Ðược nghe nói vậy, một Tỷ-kheo khác bạch Thế Tôn
SC 46—Có thể có cái gì không thực có ở ngoài, có thể gây lo âu phiền muộn?
Thế Tôn đáp
SC 47—Có thể có, này Tỷ-kheo, ở đây, có người nghĩ như sau: “Cái gì chắc chắn đã là của tôi, nay chắc chắn không còn là của tôi. Cái gì chắc chắn có thể là của tôi, chắc chắn tôi không được cái ấy”. Người đó sầu muộn, than vãn, khóc lóc, đấm ngực, đi đến bất tỉnh. Này Tỷ-kheo, như vậy, có cái không thực có ở ngoài, có thể gây lo âu, phiền muộn.
SC 48—Bạch Thế Tôn, có thể có cái gì không thực có ở ngoài, có thể không gây lo âu phiền muộn?
Thế Tôn đáp
SC 49—Có thể có, này Tỷ-kheo, ở đây, này Tỷ-kheo, có người không nghĩ như sau: “Cái gì chắc chắn đã là của tôi, nay chắc chắn không còn là của tôi. Cái gì chắc chắn có thể là của tôi, chắc chắn tôi không được cái ấy”. Người đó không sầu muộn, than vãn, khóc lóc, không đấm ngực, không đi đến bất tỉnh. Như vậy, này Tỷ-kheo, có cái không thực có ở ngoài, không gây lo âu phiền muộn.
SC 50—Bạch Thế Tôn, có thể có cái gì không thực có ở trong có thể gây ra lo âu phiền muộn?
Thế Tôn đáp
SC 51—Có thể có, này Tỷ-kheo, ở đây, này Tỷ-kheo, có người có (tà) kiến như sau: “Ðây là thế giới, đây là tự ngã, sau khi chết, tôi sẽ thường còn, thường hằng, thường trú không biến chuyển. Tôi sẽ trú như thế này cho đến mãi mãi”. Người này nghe Như Lai hay đệ tử Như Lai thuyết pháp để bạt trừ tất cả kiến xứ, cố chấp, thiên chấp, thiên kiến, tùy miên, sự tịnh chỉ mọi hành động, sự từ bỏ mọi sanh y, sự diệt trừ khát ái đưa đến ly tham, đoạn diệt, Niết-bàn. Người đó có thể nghĩ như sau: “Chắc chắn ta sẽ bị đoạn diệt, chắc chắn ta sẽ bị hoại diệt, chắc chắn ta sẽ không tồn tại”. Người đó sầu muộn, than vãn, khóc lóc, đấm ngực, đi đến bất tỉnh. Này Tỷ-kheo, như vậy là có cái không thực có ở trong có thể gây ra lo âu phiền muộn.
SC 52—Bạch Thế Tôn, có thể có cái gì không thực có ở trong, không gây ra lo âu, phiền muộn?
Thế Tôn đáp
SC 53—Có thể có, này Tỷ-kheo, ở đây, có người không có (tà) kiến như sau: “Ðây là thế giới, đây là tự ngã, sau khi chết, tôi sẽ thường còn, thường hằng, thường trú, không biến chuyển, tôi sẽ trú như thế này cho đến mãi mãi”. Người này nghe Như Lai hay đệ tử Như Lai thuyết pháp để bạt trừ tất cả kiến xứ, cố chấp, thiên chấp, thiên kiến, tùy miên, sự tịnh chi mọi hành động, sự từ bỏ mọi sanh y, sự diệt trừ khát ái để đưa đến ly tham, đoạn diệt, Niết-bàn. Vị ấy không nghĩ như sau: “Chắc chắn ta sẽ bị đoạn diệt, chắc chắn ta sẽ bị hoại diệt, chắc chắn ta sẽ không tồn tại”. Vị ấy không sầu muộn, than vãn, khóc lóc; vị ấy không đấm ngực, không đi đến bất tỉnh. Này các Tỷ-kheo, như vậy là có cái không thực có ở trong, không gây ra lo âu, phiền muộn.
(Vô thường và vô ngã)
SC 54Này các Tỷ-kheo, các Ông có thể nắm giữ một vật sở hữu gì, và vật sở hữu được nắm giữ ấy sẽ thường còn, thường hằng, thường trú, không chuyển biến, có thể trú như thế này mãi mãi không? Chư Tỷ-kheo, các Ông có thể thấy một vật sở hữu nào được nắm giữ và vật sở hữu được nắm giữ ấy sẽ thường còn, thường hằng, thường trú, không chuyển biến, có thể trú như thế này mãi mãi không?
—Bạch Thế Tôn, không.
SC 55—Lành thay, này các Tỷ-kheo. Này các Tỷ-kheo, Ta cũng không thấy một vật sở hữu được nắm giữ nào, mà vật sở hữu được nắm giữ ấy sẽ thường còn, thường hằng, thường trú, không chuyển biến, có thể trú như thế này mãi mãi. Này các Tỷ-kheo, các Ông có thể chấp thủ Ngã luận thủ nào mà Ngã luận thủ ấy được chấp thủ như vậy lại không khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não không? Này các Tỷ-kheo, các Ông có thấy Ngã luận thủ nào mà Ngã luận thủ ấy được chấp thủ như vậy lại không khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não không?
—Bạch Thế Tôn không.
SC 56—Lành thay, này các Tỷ-kheo. Này các Tỷ-kheo, Ta cũng không thấy Ngã luận thủ nào mà Ngã luận thủ ấy được chấp thủ như vậy lại không khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não. Này các Tỷ-kheo, các Ông có kiến y nào, mà kiến y ấy được y chỉ như vậy lại không khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não không? Này các Tỷ-kheo, các Ông có thấy kiến y nào, mà kiến y ấy được y chỉ như vậy lại không khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não không?
—Bạch Thế Tôn, không
SC 57—Lành thay, này các Tỷ-kheo! Này các Tỷ-kheo, Ta cũng không thấy một kiến y nào, mà kiến y ấy được y chỉ như vậy, lại không khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não. Chư Tỷ-kheo, nếu có ngã thời có ngã sở thuộc của tôi không?
—Bạch Thế Tôn, có.
SC 58—Chư Tỷ-kheo, nếu có ngã sở thuộc, thời có ngã của tôi không?
—Bạch Thế Tôn, có.
SC 59—Chư Tỷ-kheo, nếu ngã và ngã sở thuộc không thể được chấp nhận là thường còn, thường hằng, thì kiến xứ này: “Ðây là thế giới, đây là tự ngã, sau khi chết tôi sẽ thành thường còn, thường hằng, thường trú, không biến chuyển, tôi sẽ trú như thế này cho đến mãi mãi”. Này các Tỷ-kheo, kiến xứ ấy là hoàn toàn, triệt để chẳng ngu si không?
SC 60—Bạch Thế Tôn, làm sao có thể hoàn toàn, triệt để chẳng ngu si được!
SC 61—Này các Tỷ-kheo, các Ông nghĩ thế nào? Sắc là thường hay vô thường?
SC 62—Bạch Thế Tôn, vô thường.
SC 63—Cái gì vô thường là khổ hay lạc?
—Bạch Thế Tôn, khổ.
SC 64—Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, thì có hợp lý chăng khi chánh quán cái ấy là: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”?
—Bạch Thế Tôn, không.
SC 65—Chư Tỷ-kheo, cảm thọ là thường hay vô thường?
SC 66—Bạch Thế Tôn, là vô thường.
SC 67—Cái gì vô thường là khổ hay lạc?
SC 68—Bạch Thế Tôn, là khổ.
SC 69—Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại thì có hợp lý chăng khi chánh quán cái ấy là: “Cái này là của tôi … tự ngã của tôi”?
—Bạch Thế Tôn, không.
SC 70—Chư Tỷ-kheo, tưởng là thường hay vô thường?
SC 71—Bạch Thế Tôn, vô thường.
—Cái gì vô thường…?
—Bạch Thế Tôn, không.
SC 72—Chư Tỷ-kheo, các hành là thường hay vô thường … chư Tỷ-kheo, thức là thường hay vô thường?
SC 73—Bạch Thế Tôn, vô thường.
SC 74—Cái gì vô thường là khổ hay lạc?
—Bạch Thế Tôn, khổ.
SC 75- Cái gì vô thường, khổ thì có hợp lý chăng, khi chánh quán cái ấy là: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”?
—Bạch Thế Tôn, không.
SC 76—Do vậy, này các Tỷ-kheo, bất cứ các sắc pháp nào, quá khứ, tương lai, hiện tại, nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần; tất cả sắc pháp là: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”, cần phải như thật quán với chánh trí tuệ. Bất cứ cảm thọ nào … Bất cứ tưởng nào … Bất cứ hành nào … Bất cứ thức nào, quá khứ, vị lai, hiện tại, nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần, tất cả thức là: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”, cần phải như thật quán với chánh trí tuệ.
SC 77Chư Tỷ-kheo, nhờ thấy vậy, vị Ða văn Thánh đệ tử yểm ly đối với sắc, yểm ly đối với thọ, yểm ly đối với tưởng, yểm ly đối với hành, yểm ly đối với thức, do yểm ly nên ly tham, do ly tham, nên được giải thoát, trong sự giải thoát có trí khởi lên, biết được đã giải thoát. Vị ấy biết: “Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, những gì nên làm đã làm, không còn trở lui tại đây với một đời sống khác”.
(Bậc A-la-hán)
SC 78Chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy được gọi là vị đã vất bỏ đi các chướng ngại vật, là vị đã lấp đầy các thông hào, là vị đã nhổ lên cột trụ, là vị đã mở tung các lề khóa, là bậc Thánh đã hạ cây cờ xuống, đã đặt gánh nặng xuống, không có gì hệ lụy.
SC 79Và thế nào là Tỷ-kheo đã vất bỏ đi các chướng ngại? Ở đây, này các Tỷ-kheo, là đã đoạn trừ vô minh, cắt tận gốc rễ, làm cho như cây ta-la bị chặt đầu, khiến không thể tái sanh trong tương lai, không có khả năng sanh khởi. Chư Tỷ-kheo, như vậy là Tỷ-kheo đã vất bỏ đi các chướng ngại.
SC 80Này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo đã lấp đầy các thông hào? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đã đoạn trừ tái sanh và sự luân chuyển sanh tử, đã cắt tận gốc rễ, làm cho như cây ta-la bị chặt đầu, khiến không thể tái sanh trong tương lai, không có khả năng sanh khởi. Chư Tỷ-kheo, như vậy là Tỷ-kheo đã lấp đầy thông hào.
SC 81Này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo đã nhổ lên cột trụ? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đã đoạn trừ khát ái, đã cắt tận gốc rễ, làm cho như cây ta-la bị chặt đầu, khiến không thể tái sanh trong tương lai, không có khả năng sanh khởi. Chư Tỷ-kheo, như vậy là Tỷ-kheo đã nhổ lên cột trụ.
SC 82Này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo đã mở tung các lề khóa? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đã đoạn trừ năm hạ phần kiết sử, đã cắt tận gốc rễ, làm cho như cây ta-la bị chặt đầu, khiến không thể tái sanh trong tương lai, không có khả năng sanh khởi. Chư Tỷ-kheo, như vậy là Tỷ-kheo đã mở tung các lề khóa.
SC 83Này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo bậc Thánh, đã hạ cây cờ xuống, đã đặt gánh nặng xuống, không có gì hệ lụy? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đã đoạn trừ ngã mạn, đã cắt tận gốc rễ, làm cho như cây ta-la bị chặt đầu, khiến không thể tái sanh trong tương lai, không có khả năng sanh khởi. Chư Tỷ-kheo, như vậy là vị Tỷ-kheo bậc Thánh, đã hạ cây cờ xuống, đã đặt gánh nặng xuống, không có gì hệ lụy.
SC 84Chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đã giải thoát như vậy, thì chư Thiên ở Ðế thích Thiên giới, Phạm thiên giới, Sanh chủ giới sẽ không tìm được dấu vết của Tỷ-kheo ấy, nếu nghĩ rằng: “Y ở đây, có thức của Như Lai”. Vì sao vậy? Chư Tỷ-kheo, Ta nói ngay ở hiện tại, một Như Lai không thể tìm thấy dấu vết”.
(Xuyên tạc Như Lai)
SC 85Chư Tỷ-kheo, Ta nói như vậy, thuyết như vậy, một số Sa-môn, Bà-la-môn xuyên tạc Ta một cách phi chơn, hồ đồ, hư vọng, không thực: “Sa-môn Gotama chủ trương chủ nghĩa hư vô, đề cao đoạn diệt, hủy diệt, sự tiêu diệt các hữu tình”. Nhưng này các Tỷ-kheo, Ta không là như vậy, Ta không nói như vậy, Ta không như các Sa-môn, Bà-la-môn ấy đã xuyên tạc một cách phi chơn, hồ đồ, hư vọng, không thật: “Sa-môn Gotama chủ trương chủ nghĩa hư vô, đề cao đoạn diệt, hủy diệt, sự tiêu diệt các hữu tình”.
SC 86Chư Tỷ-kheo, xưa cũng như nay, Ta chỉ nói lên sự khổ và sự diệt khổ. Chư Tỷ-kheo, nếu ở đây những người khác nhiếc mắng, phỉ báng, làm cho Như Lai tức giận, thì này các Tỷ-kheo, ở đây, Như Lai không có sân hận, không có bất mãn, tâm không phẫn nộ. Chư Tỷ-kheo, nếu ở đây, những người khác cung kính, tôn trọng, lễ bái, cúng dường Như Lai, thì này các Tỷ-kheo, ở đây Như Lai không có hoan hỷ, sung sướng, Tâm không thích thú. Chư Tỷ-kheo, nếu những người khác cung kính, tôn trọng, lễ bái, cúng dường Như Lai, thì này các Tỷ-kheo, ở đây Như Lai suy nghĩ: “Ðây là điều xưa kia đã từng biết rõ: ở đây là trách nhiệm Ta phải làm”.
SC 87Do vậy, này các Tỷ-kheo, nếu có những người khác nhiếc mắng, phỉ báng, làm cho các Ông tức giận, ở đây các Ông chớ có sân hận, bất mãn, tâm chớ khởi phẫn nộ. Do vậy, này các Tỷ-kheo, nếu có những người khác cung kính, tôn trọng, lễ bái cúng dường các Ông, thì ở đây, các Ông chớ có hoan hỷ, sung sướng, tâm sanh thích thú. Do vậy, này các Tỷ-kheo, nếu có những người khác cung kính, tôn trọng, lễ bái cúng dường các Ông, thì ở đây, các Ông hãy suy nghĩ: “Ðây là điều xưa kia đã từng biết rõ, đây là những trách nhiệm ta phải làm”.
(Không sở hữu)
SC 88Do vậy, này các Tỷ-kheo, cái gì không phải của các Ông, các Ông hãy từ bỏ. Các Ông từ bỏ, sẽ đưa lại hạnh phúc, an lạc lâu dài cho các Ông. Chư Tỷ-kheo, cái gì không phải của các Ông? Chư Tỷ-kheo, sắc không phải của các Ông, hãy từ bỏ sắc. Các Ông từ bỏ sắc sẽ đưa lại hạnh phúc, an lạc lâu dài cho các Ông. Chư Tỷ-kheo, thọ không phải của các Ông, hãy từ bỏ thọ. Các Ông từ bỏ thọ sẽ đưa lại hạnh phúc, an lạc lâu dài cho các Ông. Chư Tỷ-kheo, tưởng không phải của các Ông, hãy từ bỏ tưởng. Các Ông từ bỏ tưởng sẽ đem lại hạnh phúc, an lạc lâu dài cho các Ông. Chư Tỷ-kheo, các hành không phải của các Ông, hãy từ bỏ các hành. Các Ông từ bỏ các hành sẽ đem lại hạnh phúc, an lạc lâu dài cho các Ông. Chư Tỷ-kheo, thức không phải của các Ông, hãy từ bỏ thức. Các Ông từ bỏ thức sẽ đem lại hạnh phúc, an lạc lâu dài cho các Ông.
SC 89Chư Tỷ-kheo, các Ông nghĩ thế nào? Trong rừng Jetavana này, nếu có người thâu lượm cỏ, cây, nhành, lá rồi đốt hay làm với chúng tùy theo ý muốn, các Ông có nghĩ chăng? Người ấy thâu lượm chúng ta, đốt chúng ta hay làm với chúng ta tùy theo ý muốn?
SC 90—Bạch Thế Tôn, không. Vì sao vậy? Bạch Thế Tôn, vì nó không phải tự ngã hay không phải sở thuộc của ngã.
SC 91—Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, cái gì không phải của các Ông, các Ông hãy từ bỏ. Các Ông từ bỏ sẽ đưa lại hạnh phúc, an lạc lâu dài cho các Ông. Chư Tỷ-kheo, và cái gì không phải của các Ông? Chư Tỷ-kheo, sắc không phải của các Ông, hãy từ bỏ sắc. Các Ông từ bỏ sắc sẽ đưa lại hạnh phúc, an lạc lâu dài cho các Ông. Chư Tỷ-kheo, thọ … (như trên) … Chư Tỷ-kheo tưởng … (như trên) … Chư Tỷ-kheo, hành … Chư Tỷ-kheo, thức không phải của các Ông, hãy từ bỏ thức. Các Ông từ bỏ thức sẽ đem lại hạnh phúc, an lạc lâu dài cho các Ông.
(Pháp khéo giảng)
SC 92Chư Tỷ-kheo, như vậy, pháp được Ta khéo giảng, làm cho tỏ lộ, làm cho khai thông, làm cho khai thị, được loại trừ các vải quấn cũ. Chư Tỷ-kheo, vì pháp được Ta khéo giảng, làm tỏ lộ, làm cho khai thông, làm cho khai thị, được loại trừ các vải quấn cũ, nên những vị Tỷ-kheo, là bậc A-la-hán, các lậu hoặc đã tận, tu hành thành mãn, việc nên làm đã làm, gánh nặng đã đặt xuống, lý tưởng đã thành đạt, hữu kiết sử đã đoạn trừ, được giải thoát nhờ chánh trí, vòng luân chuyển (sanh tử) của những vị này không thể chỉ bày.
SC 93Chư Tỷ-kheo, như vậy, pháp được Ta khéo giảng … được loại trừ các vải quấn cũ. Chư Tỷ-kheo, vì pháp được Ta khéo giảng, được loại trừ các vải quấn cũ, nên những Tỷ-kheo nào đã đoạn trừ năm hạ phần kiết sử, thì những vị này thành các vị hóa sanh, nhập diệt tại đây, không còn phải trở lui vào đời này nữa.
SC 94Chư Tỷ-kheo, như vậy, pháp được Ta khéo giảng … được loại trừ các vãi quấn cũ. Chư Tỷ-kheo, vì pháp được Ta khéo giảng … được loại trừ các vải quấn cũ, nên những Tỷ-kheo nào đã đoạn trừ ba kiết sử, đã làm cho muội lược tham sân si, thì tất cả những vị ấy thành bậc Nhất lai, chỉ đến đời này một lần nữa sẽ diệt tận khổ đau.
SC 95Chư Tỷ-kheo, như vậy, pháp được Ta khéo giảng … được loại trừ các vãi quấn cũ. Chư Tỷ-kheo, vì pháp được Ta khéo giảng … được loại trừ các vải quấn cũ, nên những Tỷ-kheo nào đoạn trừ ba kiết sử, thì tất cả những vị ấy trở thành bậc Dự lưu, không còn bị đọa lạc ác thú, quyết định hướng đến chánh giác.
SC 96Chư Tỷ-kheo, như vậy, pháp được Ta khéo giảng … được loại trừ các vải quấn cũ. Chư Tỷ-kheo, vì pháp được ta khéo giảng … được loại trừ các vải quấn cũ, nên những Tỷ-kheo nào là những vị tùy pháp hành, tùy tín hành, thì tất cả những vị này sẽ hướng về chánh giác.
SC 97Chư Tỷ-kheo, như vậy pháp được Ta khéo giảng … được loại trừ khỏi các vải quấn cũ. Chư Tỷ-kheo, vì pháp được Ta khéo giảng, làm cho tỏ lộ, làm cho khai thông, làm cho khai thị, được loại trừ các vải quấn cũ, nên những vị nào chỉ đủ lòng tin nơi Ta, chỉ đủ lòng thương mến đối với Ta, thì tất cả những vị ấy được hướng về chư Thiên.
SC 98Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Những Tỷ-kheo ấy hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy.
Evaṁ me sutaṁ—
ekaṁ samayaṁ bhagavā sāvatthiyaṁ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme.
Tena kho pana samayena ariṭṭhassa nāma bhikkhuno gaddhabādhipubbassa evarūpaṁ pāpakaṁ diṭṭhigataṁ uppannaṁ hoti:
“tathāhaṁ bhagavatā dhammaṁ desitaṁ ājānāmi yathā yeme antarāyikā dhammā vuttā bhagavatā te paṭisevato nālaṁ antarāyāyā”ti.
Assosuṁ kho sambahulā bhikkhū:
“ariṭṭhassa kira nāma bhikkhuno gaddhabādhipubbassa evarūpaṁ pāpakaṁ diṭṭhigataṁ uppannaṁ:
‘tathāhaṁ bhagavatā dhammaṁ desitaṁ ājānāmi yathā yeme antarāyikā dhammā vuttā bhagavatā te paṭisevato nālaṁ antarāyāyā’”ti.
Atha kho te bhikkhū yena ariṭṭho bhikkhu gaddhabādhipubbo tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā ariṭṭhaṁ bhikkhuṁ gaddhabādhipubbaṁ etadavocuṁ:
“saccaṁ kira te, āvuso ariṭṭha, evarūpaṁ pāpakaṁ diṭṭhigataṁ uppannaṁ:
‘tathāhaṁ bhagavatā dhammaṁ desitaṁ ājānāmi yathā yeme antarāyikā dhammā vuttā bhagavatā te paṭisevato nālaṁ antarāyāyā’”ti.
“Evaṁ byā kho ahaṁ, āvuso, bhagavatā dhammaṁ desitaṁ ājānāmi yathā yeme antarāyikā dhammā vuttā bhagavatā te paṭisevato nālaṁ antarāyāyā”ti.
Atha kho tepi bhikkhū ariṭṭhaṁ bhikkhuṁ gaddhabādhipubbaṁ etasmā pāpakā diṭṭhigatā vivecetukāmā samanuyuñjanti samanugāhanti samanubhāsanti:
“mā hevaṁ, āvuso ariṭṭha, avaca, mā bhagavantaṁ abbhācikkhi; na hi sādhu bhagavato abbhakkhānaṁ, na hi bhagavā evaṁ vadeyya.
Anekapariyāyenāvuso ariṭṭha, antarāyikā dhammā antarāyikā vuttā bhagavatā, alañca pana te paṭisevato antarāyāya.
Appassādā kāmā vuttā bhagavatā bahudukkhā bahupāyāsā, ādīnavo ettha bhiyyo.
Aṭṭhikaṅkalūpamā kāmā vuttā bhagavatā …
maṁsapesūpamā kāmā vuttā bhagavatā …
tiṇukkūpamā kāmā vuttā bhagavatā …
aṅgārakāsūpamā kāmā vuttā bhagavatā …
supinakūpamā kāmā vuttā bhagavatā …
yācitakūpamā kāmā vuttā bhagavatā …
rukkhaphalūpamā kāmā vuttā bhagavatā …
asisūnūpamā kāmā vuttā bhagavatā …
sattisūlūpamā kāmā vuttā bhagavatā …
sappasirūpamā kāmā vuttā bhagavatā bahudukkhā bahupāyāsā, ādīnavo ettha bhiyyo”ti.
Evampi kho ariṭṭho bhikkhu gaddhabādhipubbo tehi bhikkhūhi samanuyuñjiyamāno samanugāhiyamāno samanubhāsiyamāno tadeva pāpakaṁ diṭṭhigataṁ thāmasā parāmāsā abhinivissa voharati:
“evaṁ byā kho ahaṁ, āvuso, bhagavatā dhammaṁ desitaṁ ājānāmi yathā yeme antarāyikā dhammā vuttā bhagavatā te paṭisevato nālaṁ antarāyāyā”ti.
Yato kho te bhikkhū nāsakkhiṁsu ariṭṭhaṁ bhikkhuṁ gaddhabādhipubbaṁ etasmā pāpakā diṭṭhigatā vivecetuṁ, atha kho te bhikkhū yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Ekamantaṁ nisinnā kho te bhikkhū bhagavantaṁ etadavocuṁ:
“ariṭṭhassa nāma, bhante, bhikkhuno gaddhabādhipubbassa evarūpaṁ pāpakaṁ diṭṭhigataṁ uppannaṁ:
‘tathāhaṁ bhagavatā dhammaṁ desitaṁ ājānāmi yathā yeme antarāyikā dhammā vuttā bhagavatā te paṭisevato nālaṁ antarāyāyā’ti.
Assumha kho mayaṁ, bhante:
‘ariṭṭhassa kira nāma bhikkhuno gaddhabādhipubbassa evarūpaṁ pāpakaṁ diṭṭhigataṁ uppannaṁ—
tathāhaṁ bhagavatā dhammaṁ desitaṁ ājānāmi yathā yeme antarāyikā dhammā vuttā bhagavatā te paṭisevato nālaṁ antarāyāyā’ti.
Atha kho mayaṁ, bhante, yena ariṭṭho bhikkhu gaddhabādhipubbo tenupasaṅkamimha; upasaṅkamitvā ariṭṭhaṁ bhikkhuṁ gaddhabādhipubbaṁ etadavocumha:
‘saccaṁ kira te, āvuso ariṭṭha, evarūpaṁ pāpakaṁ diṭṭhigataṁ uppannaṁ—
tathāhaṁ bhagavatā dhammaṁ desitaṁ ājānāmi yathā yeme antarāyikā dhammā vuttā bhagavatā te paṭisevato nālaṁ antarāyāyā’ti?
Evaṁ vutte, bhante, ariṭṭho bhikkhu gaddhabādhipubbo amhe etadavoca:
‘evaṁ byā kho ahaṁ, āvuso, bhagavatā dhammaṁ desitaṁ ājānāmi yathā yeme antarāyikā dhammā vuttā bhagavatā te paṭisevato nālaṁ antarāyāyā’ti.
Atha kho mayaṁ, bhante, ariṭṭhaṁ bhikkhuṁ gaddhabādhipubbaṁ etasmā pāpakā diṭṭhigatā vivecetukāmā samanuyuñjimha samanugāhimha samanubhāsimha:
‘mā hevaṁ, āvuso ariṭṭha, avaca, mā bhagavantaṁ abbhācikkhi; na hi sādhu bhagavato abbhakkhānaṁ, na hi bhagavā evaṁ vadeyya.
Anekapariyāyenāvuso ariṭṭha, antarāyikā dhammā antarāyikā vuttā bhagavatā, alañca pana te paṭisevato antarāyāya.
Appassādā kāmā vuttā bhagavatā bahudukkhā bahupāyāsā, ādīnavo ettha bhiyyo.
Aṭṭhikaṅkalūpamā kāmā vuttā bhagavatā …pe…
sappasirūpamā kāmā vuttā bhagavatā bahudukkhā bahupāyāsā, ādīnavo ettha bhiyyo’ti.
Evampi kho, bhante, ariṭṭho bhikkhu gaddhabādhipubbo amhehi samanuyuñjiyamāno samanugāhiyamāno samanubhāsiyamāno tadeva pāpakaṁ diṭṭhigataṁ thāmasā parāmāsā abhinivissa voharati:
‘evaṁ byā kho ahaṁ, āvuso, bhagavatā dhammaṁ desitaṁ ājānāmi yathā yeme antarāyikā dhammā vuttā bhagavatā te paṭisevato nālaṁ antarāyāyā’ti.
Yato kho mayaṁ, bhante, nāsakkhimha ariṭṭhaṁ bhikkhuṁ gaddhabādhipubbaṁ etasmā pāpakā diṭṭhigatā vivecetuṁ, atha mayaṁ etamatthaṁ bhagavato ārocemā”ti.
Atha kho bhagavā aññataraṁ bhikkhuṁ āmantesi:
“ehi tvaṁ, bhikkhu, mama vacanena ariṭṭhaṁ bhikkhuṁ gaddhabādhipubbaṁ āmantehi:
‘satthā taṁ, āvuso ariṭṭha, āmantetī’”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho so bhikkhu bhagavato paṭissutvā, yena ariṭṭho bhikkhu gaddhabādhipubbo tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā ariṭṭhaṁ bhikkhuṁ gaddhabādhipubbaṁ etadavoca:
“satthā taṁ, āvuso ariṭṭha, āmantetī”ti.
“Evamāvuso”ti kho ariṭṭho bhikkhu gaddhabādhipubbo tassa bhikkhuno paṭissutvā yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnaṁ kho ariṭṭhaṁ bhikkhuṁ gaddhabādhipubbaṁ bhagavā etadavoca:
“saccaṁ kira te, ariṭṭha, evarūpaṁ pāpakaṁ diṭṭhigataṁ uppannaṁ:
‘tathāhaṁ bhagavatā dhammaṁ desitaṁ ājānāmi yathā yeme antarāyikā dhammā vuttā bhagavatā te paṭisevato nālaṁ antarāyāyā’”ti?
“Evaṁ byā kho ahaṁ, bhante, bhagavatā dhammaṁ desitaṁ ājānāmi: ‘yathā yeme antarāyikā dhammā vuttā bhagavatā te paṭisevato nālaṁ antarāyāyā’”ti.
“Kassa kho nāma tvaṁ, moghapurisa, mayā evaṁ dhammaṁ desitaṁ ājānāsi?
Nanu mayā, moghapurisa, anekapariyāyena antarāyikā dhammā antarāyikā vuttā? Alañca pana te paṭisevato antarāyāya.
Appassādā kāmā vuttā mayā, bahudukkhā bahupāyāsā, ādīnavo ettha bhiyyo.
Aṭṭhikaṅkalūpamā kāmā vuttā mayā …
maṁsapesūpamā kāmā vuttā mayā …
tiṇukkūpamā kāmā vuttā mayā …
aṅgārakāsūpamā kāmā vuttā mayā …
supinakūpamā kāmā vuttā mayā …
yācitakūpamā kāmā vuttā mayā …
rukkhaphalūpamā kāmā vuttā mayā …
asisūnūpamā kāmā vuttā mayā …
sattisūlūpamā kāmā vuttā mayā …
sappasirūpamā kāmā vuttā mayā, bahudukkhā bahupāyāsā, ādīnavo ettha bhiyyo.
Atha ca pana tvaṁ, moghapurisa, attanā duggahitena amhe ceva abbhācikkhasi, attānañca khanasi, bahuñca apuññaṁ pasavasi.
Tañhi te, moghapurisa, bhavissati dīgharattaṁ ahitāya dukkhāyā”ti.
Atha kho bhagavā bhikkhū āmantesi:
“Taṁ kiṁ maññatha, bhikkhave,
api nāyaṁ ariṭṭho bhikkhu gaddhabādhipubbo usmīkatopi imasmiṁ dhammavinaye”ti?
“Kiñhi siyā, bhante;
no hetaṁ, bhante”ti.
Evaṁ vutte, ariṭṭho bhikkhu gaddhabādhipubbo tuṇhībhūto maṅkubhūto pattakkhandho adhomukho pajjhāyanto appaṭibhāno nisīdi.
Atha kho bhagavā ariṭṭhaṁ bhikkhuṁ gaddhabādhipubbaṁ tuṇhībhūtaṁ maṅkubhūtaṁ pattakkhandhaṁ adhomukhaṁ pajjhāyantaṁ appaṭibhānaṁ viditvā ariṭṭhaṁ bhikkhuṁ gaddhabādhipubbaṁ etadavoca:
“paññāyissasi kho tvaṁ, moghapurisa, etena sakena pāpakena diṭṭhigatena.
Idhāhaṁ bhikkhū paṭipucchissāmī”ti.
Atha kho bhagavā bhikkhū āmantesi:
“tumhepi me, bhikkhave, evaṁ dhammaṁ desitaṁ ājānātha yathāyaṁ ariṭṭho bhikkhu gaddhabādhipubbo attanā duggahitena amhe ceva abbhācikkhati, attānañca khanati, bahuñca apuññaṁ pasavatī”ti?
“No hetaṁ, bhante.
Anekapariyāyena hi no, bhante, antarāyikā dhammā antarāyikā vuttā bhagavatā;
alañca pana te paṭisevato antarāyāya.
Appassādā kāmā vuttā bhagavatā bahudukkhā bahupāyāsā, ādīnavo ettha bhiyyo.
Aṭṭhikaṅkalūpamā kāmā vuttā bhagavatā …pe…
sappasirūpamā kāmā vuttā bhagavatā bahudukkhā bahupāyāsā, ādīnavo ettha bhiyyo”ti.
“Sādhu sādhu, bhikkhave, sādhu, kho me tumhe, bhikkhave, evaṁ dhammaṁ desitaṁ ājānātha.
Anekapariyāyena hi kho, bhikkhave, antarāyikā dhammā vuttā mayā, alañca pana te paṭisevato antarāyāya.
Appassādā kāmā vuttā mayā, bahudukkhā bahupāyāsā, ādīnavo ettha bhiyyo.
Aṭṭhikaṅkalūpamā kāmā vuttā mayā …pe…
sappasirūpamā kāmā vuttā mayā, bahudukkhā bahupāyāsā, ādīnavo ettha bhiyyo.
Atha ca panāyaṁ ariṭṭho bhikkhu gaddhabādhipubbo attanā duggahitena amhe ceva abbhācikkhati, attānañca khanati, bahuñca apuññaṁ pasavati.
Tañhi tassa moghapurisassa bhavissati dīgharattaṁ ahitāya dukkhāya.
So vata, bhikkhave, aññatreva kāmehi aññatra kāmasaññāya aññatra kāmavitakkehi kāme paṭisevissatīti—netaṁ ṭhānaṁ vijjati.
Idha, bhikkhave, ekacce moghapurisā dhammaṁ pariyāpuṇanti—
suttaṁ, geyyaṁ, veyyākaraṇaṁ, gāthaṁ, udānaṁ, itivuttakaṁ, jātakaṁ, abbhutadhammaṁ, vedallaṁ.
Te taṁ dhammaṁ pariyāpuṇitvā tesaṁ dhammānaṁ paññāya atthaṁ na upaparikkhanti.
Tesaṁ te dhammā paññāya atthaṁ anupaparikkhataṁ na nijjhānaṁ khamanti.
Te upārambhānisaṁsā ceva dhammaṁ pariyāpuṇanti itivādappamokkhānisaṁsā ca.
Yassa catthāya dhammaṁ pariyāpuṇanti tañcassa atthaṁ nānubhonti.
Tesaṁ te dhammā duggahitā dīgharattaṁ ahitāya dukkhāya saṁvattanti.
Taṁ kissa hetu?
Duggahitattā, bhikkhave, dhammānaṁ.
Seyyathāpi, bhikkhave, puriso alagaddatthiko alagaddagavesī alagaddapariyesanaṁ caramāno.
So passeyya mahantaṁ alagaddaṁ.
Tamenaṁ bhoge vā naṅguṭṭhe vā gaṇheyya.
Tassa so alagaddo paṭiparivattitvā hatthe vā bāhāya vā aññatarasmiṁ vā aṅgapaccaṅge ḍaṁseyya.
So tatonidānaṁ maraṇaṁ vā nigaccheyya maraṇamattaṁ vā dukkhaṁ.
Taṁ kissa hetu?
Duggahitattā, bhikkhave, alagaddassa.
Evameva kho, bhikkhave, idhekacce moghapurisā dhammaṁ pariyāpuṇanti—
suttaṁ, geyyaṁ, veyyākaraṇaṁ, gāthaṁ, udānaṁ, itivuttakaṁ, jātakaṁ, abbhutadhammaṁ, vedallaṁ.
Te taṁ dhammaṁ pariyāpuṇitvā tesaṁ dhammānaṁ paññāya atthaṁ na upaparikkhanti.
Tesaṁ te dhammā paññāya atthaṁ anupaparikkhataṁ na nijjhānaṁ khamanti.
Te upārambhānisaṁsā ceva dhammaṁ pariyāpuṇanti itivādappamokkhānisaṁsā ca.
Yassa catthāya dhammaṁ pariyāpuṇanti tañcassa atthaṁ nānubhonti.
Tesaṁ te dhammā duggahitā dīgharattaṁ ahitāya dukkhāya saṁvattanti.
Taṁ kissa hetu?
Duggahitattā, bhikkhave, dhammānaṁ.
Idha pana, bhikkhave, ekacce kulaputtā dhammaṁ pariyāpuṇanti—
suttaṁ, geyyaṁ, veyyākaraṇaṁ, gāthaṁ, udānaṁ, itivuttakaṁ, jātakaṁ, abbhutadhammaṁ, vedallaṁ.
Te taṁ dhammaṁ pariyāpuṇitvā tesaṁ dhammānaṁ paññāya atthaṁ upaparikkhanti.
Tesaṁ te dhammā paññāya atthaṁ upaparikkhataṁ nijjhānaṁ khamanti.
Te na ceva upārambhānisaṁsā dhammaṁ pariyāpuṇanti na itivādappamokkhānisaṁsā ca.
Yassa catthāya dhammaṁ pariyāpuṇanti tañcassa atthaṁ anubhonti.
Tesaṁ te dhammā suggahitā dīgharattaṁ hitāya sukhāya saṁvattanti.
Taṁ kissa hetu?
Suggahitattā bhikkhave dhammānaṁ.
Seyyathāpi, bhikkhave, puriso alagaddatthiko alagaddagavesī alagaddapariyesanaṁ caramāno.
So passeyya mahantaṁ alagaddaṁ.
Tamenaṁ ajapadena daṇḍena suniggahitaṁ niggaṇheyya.
Ajapadena daṇḍena suniggahitaṁ niggahitvā, gīvāya suggahitaṁ gaṇheyya.
Kiñcāpi so, bhikkhave, alagaddo tassa purisassa hatthaṁ vā bāhaṁ vā aññataraṁ vā aṅgapaccaṅgaṁ bhogehi paliveṭheyya, atha kho so neva tatonidānaṁ maraṇaṁ vā nigaccheyya maraṇamattaṁ vā dukkhaṁ.
Taṁ kissa hetu?
Suggahitattā, bhikkhave, alagaddassa.
Evameva kho, bhikkhave, idhekacce kulaputtā dhammaṁ pariyāpuṇanti—
suttaṁ, geyyaṁ, veyyākaraṇaṁ, gāthaṁ, udānaṁ, itivuttakaṁ, jātakaṁ, abbhutadhammaṁ, vedallaṁ.
Te taṁ dhammaṁ pariyāpuṇitvā tesaṁ dhammānaṁ paññāya atthaṁ upaparikkhanti.
Tesaṁ te dhammā paññāya atthaṁ upaparikkhataṁ nijjhānaṁ khamanti.
Te na ceva upārambhānisaṁsā dhammaṁ pariyāpuṇanti, na itivādappamokkhānisaṁsā ca.
Yassa catthāya dhammaṁ pariyāpuṇanti, tañcassa atthaṁ anubhonti.
Tesaṁ te dhammā suggahitā dīgharattaṁ atthāya hitāya sukhāya saṁvattanti.
Taṁ kissa hetu?
Suggahitattā, bhikkhave, dhammānaṁ.
Tasmātiha, bhikkhave, yassa me bhāsitassa atthaṁ ājāneyyātha, tathā naṁ dhāreyyātha.
Yassa ca pana me bhāsitassa atthaṁ na ājāneyyātha, ahaṁ vo tattha paṭipucchitabbo, ye vā panāssu viyattā bhikkhū.
Kullūpamaṁ vo, bhikkhave, dhammaṁ desessāmi nittharaṇatthāya, no gahaṇatthāya.
Taṁ suṇātha, sādhukaṁ manasikarotha, bhāsissāmī”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ.
Bhagavā etadavoca:
“Seyyathāpi, bhikkhave, puriso addhānamaggappaṭipanno.
So passeyya mahantaṁ udakaṇṇavaṁ, orimaṁ tīraṁ sāsaṅkaṁ sappaṭibhayaṁ, pārimaṁ tīraṁ khemaṁ appaṭibhayaṁ;
na cassa nāvā santāraṇī uttarasetu vā apārā pāraṁ gamanāya.
Tassa evamassa:
‘ayaṁ kho mahāudakaṇṇavo, orimaṁ tīraṁ sāsaṅkaṁ sappaṭibhayaṁ, pārimaṁ tīraṁ khemaṁ appaṭibhayaṁ;
natthi ca nāvā santāraṇī uttarasetu vā apārā pāraṁ gamanāya.
Yannūnāhaṁ tiṇakaṭṭhasākhāpalāsaṁ saṅkaḍḍhitvā, kullaṁ bandhitvā, taṁ kullaṁ nissāya hatthehi ca pādehi ca vāyamamāno sotthinā pāraṁ uttareyyan’ti.
Atha kho so, bhikkhave, puriso tiṇakaṭṭhasākhāpalāsaṁ saṅkaḍḍhitvā, kullaṁ bandhitvā taṁ kullaṁ nissāya hatthehi ca pādehi ca vāyamamāno sotthinā pāraṁ uttareyya.
Tassa purisassa uttiṇṇassa pāraṅgatassa evamassa:
‘bahukāro kho me ayaṁ kullo;
imāhaṁ kullaṁ nissāya hatthehi ca pādehi ca vāyamamāno sotthinā pāraṁ uttiṇṇo.
Yannūnāhaṁ imaṁ kullaṁ sīse vā āropetvā khandhe vā uccāretvā yena kāmaṁ pakkameyyan’ti.
Taṁ kiṁ maññatha, bhikkhave,
api nu so puriso evaṅkārī tasmiṁ kulle kiccakārī assā”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Kathaṅkārī ca so, bhikkhave, puriso tasmiṁ kulle kiccakārī assa?
Idha, bhikkhave, tassa purisassa uttiṇṇassa pāraṅgatassa evamassa:
‘bahukāro kho me ayaṁ kullo;
imāhaṁ kullaṁ nissāya hatthehi ca pādehi ca vāyamamāno sotthinā pāraṁ uttiṇṇo.
Yannūnāhaṁ imaṁ kullaṁ thale vā ussādetvā udake vā opilāpetvā yena kāmaṁ pakkameyyan’ti.
Evaṅkārī kho so, bhikkhave, puriso tasmiṁ kulle kiccakārī assa.
Evameva kho, bhikkhave, kullūpamo mayā dhammo desito nittharaṇatthāya, no gahaṇatthāya.
Kullūpamaṁ vo, bhikkhave, dhammaṁ desitaṁ, ājānantehi dhammāpi vo pahātabbā pageva adhammā.
Chayimāni, bhikkhave, diṭṭhiṭṭhānāni.
Katamāni cha?
Idha, bhikkhave, assutavā puthujjano ariyānaṁ adassāvī ariyadhammassa akovido ariyadhamme avinīto, sappurisānaṁ adassāvī sappurisadhammassa akovido sappurisadhamme avinīto,
rūpaṁ ‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’ti samanupassati;
vedanaṁ ‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’ti samanupassati;
saññaṁ ‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’ti samanupassati;
saṅkhāre ‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’ti samanupassati;
yampi taṁ diṭṭhaṁ sutaṁ mutaṁ viññātaṁ pattaṁ pariyesitaṁ, anuvicaritaṁ manasā tampi ‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’ti samanupassati;
yampi taṁ diṭṭhiṭṭhānaṁ—
so loko so attā, so pecca bhavissāmi nicco dhuvo sassato avipariṇāmadhammo, sassatisamaṁ tatheva ṭhassāmīti—
tampi ‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’ti samanupassati.
Sutavā ca kho, bhikkhave, ariyasāvako ariyānaṁ dassāvī ariyadhammassa kovido ariyadhamme suvinīto, sappurisānaṁ dassāvī sappurisadhammassa kovido sappurisadhamme suvinīto,
rūpaṁ ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti samanupassati;
vedanaṁ ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti samanupassati;
saññaṁ ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti samanupassati;
saṅkhāre ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti samanupassati;
yampi taṁ diṭṭhaṁ sutaṁ mutaṁ viññātaṁ pattaṁ pariyesitaṁ, anuvicaritaṁ manasā, tampi ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti samanupassati;
yampi taṁ diṭṭhiṭṭhānaṁ—
so loko so attā, so pecca bhavissāmi nicco dhuvo sassato avipariṇāmadhammo, sassatisamaṁ tatheva ṭhassāmīti—
tampi ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti samanupassati.
So evaṁ samanupassanto asati na paritassatī”ti.
Evaṁ vutte, aññataro bhikkhu bhagavantaṁ etadavoca:
“siyā nu kho, bhante, bahiddhā asati paritassanā”ti?
“Siyā, bhikkhū”ti—bhagavā avoca.
“Idha bhikkhu ekaccassa evaṁ hoti:
‘ahu vata me, taṁ vata me natthi;
siyā vata me, taṁ vatāhaṁ na labhāmī’ti.
So socati kilamati paridevati urattāḷiṁ kandati sammohaṁ āpajjati.
Evaṁ kho, bhikkhu, bahiddhā asati paritassanā hotī”ti.
“Siyā pana, bhante, bahiddhā asati aparitassanā”ti?
“Siyā, bhikkhū”ti—bhagavā avoca.
“Idha bhikkhu ekaccassa na evaṁ hoti:
‘ahu vata me, taṁ vata me natthi;
siyā vata me, taṁ vatāhaṁ na labhāmī’ti.
So na socati na kilamati na paridevati na urattāḷiṁ kandati na sammohaṁ āpajjati.
Evaṁ kho, bhikkhu, bahiddhā asati aparitassanā hotī”ti.
“Siyā nu kho, bhante, ajjhattaṁ asati paritassanā”ti?
“Siyā, bhikkhū”ti—bhagavā avoca.
“Idha, bhikkhu, ekaccassa evaṁ diṭṭhi hoti:
‘so loko so attā, so pecca bhavissāmi nicco dhuvo sassato avipariṇāmadhammo, sassatisamaṁ tatheva ṭhassāmī’ti.
So suṇāti tathāgatassa vā tathāgatasāvakassa vā sabbesaṁ diṭṭhiṭṭhānādhiṭṭhānapariyuṭṭhānābhinivesānusayānaṁ samugghātāya sabbasaṅkhārasamathāya sabbūpadhipaṭinissaggāya taṇhākkhayāya virāgāya nirodhāya nibbānāya dhammaṁ desentassa.
Tassa evaṁ hoti:
‘ucchijjissāmi nāmassu, vinassissāmi nāmassu, nassu nāma bhavissāmī’ti.
So socati kilamati paridevati urattāḷiṁ kandati sammohaṁ āpajjati.
Evaṁ kho, bhikkhu, ajjhattaṁ asati paritassanā hotī”ti.
“Siyā pana, bhante, ajjhattaṁ asati aparitassanā”ti?
“Siyā, bhikkhū”ti bhagavā avoca.
“Idha, bhikkhu, ekaccassa na evaṁ diṭṭhi hoti:
‘so loko so attā, so pecca bhavissāmi nicco dhuvo sassato avipariṇāmadhammo, sassatisamaṁ tatheva ṭhassāmī’ti.
So suṇāti tathāgatassa vā tathāgatasāvakassa vā sabbesaṁ diṭṭhiṭṭhānādhiṭṭhānapariyuṭṭhānābhinivesānusayānaṁ samugghātāya sabbasaṅkhārasamathāya sabbūpadhipaṭinissaggāya taṇhākkhayāya virāgāya nirodhāya nibbānāya dhammaṁ desentassa.
Tassa na evaṁ hoti:
‘ucchijjissāmi nāmassu, vinassissāmi nāmassu, nassu nāma bhavissāmī’ti.
So na socati na kilamati na paridevati na urattāḷiṁ kandati na sammohaṁ āpajjati.
Evaṁ kho, bhikkhu, ajjhattaṁ asati aparitassanā hoti.
Taṁ, bhikkhave, pariggahaṁ pariggaṇheyyātha, yvāssa pariggaho nicco dhuvo sassato avipariṇāmadhammo, sassatisamaṁ tatheva tiṭṭheyya.
Passatha no tumhe, bhikkhave, taṁ pariggahaṁ yvāssa pariggaho nicco dhuvo sassato avipariṇāmadhammo, sassatisamaṁ tatheva tiṭṭheyyā”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Sādhu, bhikkhave.
Ahampi kho taṁ, bhikkhave, pariggahaṁ na samanupassāmi yvāssa pariggaho nicco dhuvo sassato avipariṇāmadhammo sassatisamaṁ tatheva tiṭṭheyya.
Taṁ, bhikkhave, attavādupādānaṁ upādiyetha, yaṁsa attavādupādānaṁ upādiyato na uppajjeyyuṁ sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā.
Passatha no tumhe, bhikkhave, taṁ attavādupādānaṁ yaṁsa attavādupādānaṁ upādiyato na uppajjeyyuṁ sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Sādhu, bhikkhave.
Ahampi kho taṁ, bhikkhave, attavādupādānaṁ na samanupassāmi yaṁsa attavādupādānaṁ upādiyato na uppajjeyyuṁ sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā.
Taṁ, bhikkhave, diṭṭhinissayaṁ nissayetha yaṁsa diṭṭhinissayaṁ nissayato na uppajjeyyuṁ sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā.
Passatha no tumhe, bhikkhave, taṁ diṭṭhinissayaṁ yaṁsa diṭṭhinissayaṁ nissayato na uppajjeyyuṁ sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Sādhu, bhikkhave.
Ahampi kho taṁ, bhikkhave, diṭṭhinissayaṁ na samanupassāmi yaṁsa diṭṭhinissayaṁ nissayato na uppajjeyyuṁ sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā.
Attani vā, bhikkhave, sati ‘attaniyaṁ me’ti assā”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Attaniye vā, bhikkhave, sati ‘attā me’ti assā”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Attani ca, bhikkhave, attaniye ca saccato thetato anupalabbhamāne, yampi taṁ diṭṭhiṭṭhānaṁ:
‘so loko so attā, so pecca bhavissāmi nicco dhuvo sassato avipariṇāmadhammo, sassatisamaṁ tatheva ṭhassāmī’ti—
nanāyaṁ, bhikkhave, kevalo paripūro bāladhammo”ti?
“Kiñhi no siyā, bhante, kevalo hi, bhante, paripūro bāladhammo”ti.
“Taṁ kiṁ maññatha, bhikkhave,
rūpaṁ niccaṁ vā aniccaṁ vā”ti?
“Aniccaṁ, bhante”.
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vā taṁ sukhaṁ vā”ti?
“Dukkhaṁ, bhante”.
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vipariṇāmadhammaṁ, kallaṁ nu taṁ samanupassituṁ—
etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Taṁ kiṁ maññatha, bhikkhave,
vedanā …pe…
saññā …
saṅkhārā …
viññāṇaṁ niccaṁ vā aniccaṁ vā”ti?
“Aniccaṁ, bhante”.
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vā taṁ sukhaṁ vā”ti?
“Dukkhaṁ, bhante”.
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vipariṇāmadhammaṁ, kallaṁ nu taṁ samanupassituṁ—
etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Tasmātiha, bhikkhave, yaṁ kiñci rūpaṁ atītānāgatapaccuppannaṁ, ajjhattaṁ vā bahiddhā vā, oḷārikaṁ vā sukhumaṁ vā, hīnaṁ vā paṇītaṁ vā, yaṁ dūre santike vā, sabbaṁ rūpaṁ ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti—evametaṁ yathābhūtaṁ sammappaññāya daṭṭhabbaṁ.
Yā kāci vedanā …pe…
yā kāci saññā …
ye keci saṅkhārā …
yaṁ kiñci viññāṇaṁ atītānāgatapaccuppannaṁ, ajjhattaṁ vā bahiddhā vā, oḷārikaṁ vā sukhumaṁ vā, hīnaṁ vā paṇītaṁ vā, yaṁ dūre santike vā, sabbaṁ viññāṇaṁ ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti—evametaṁ yathābhūtaṁ sammappaññāya daṭṭhabbaṁ.
Evaṁ passaṁ, bhikkhave, sutavā ariyasāvako rūpasmiṁ nibbindati, vedanāya nibbindati, saññāya nibbindati, saṅkhāresu nibbindati, viññāṇasmiṁ nibbindati,
nibbidā virajjati, virāgā vimuccati, vimuttasmiṁ vimuttamiti ñāṇaṁ hoti.
‘Khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyā’ti pajānāti.
Ayaṁ vuccati, bhikkhave, bhikkhu ukkhittapaligho itipi, saṅkiṇṇaparikkho itipi, abbūḷhesiko itipi, niraggaḷo itipi, ariyo pannaddhajo pannabhāro visaṁyutto itipi.
Kathañca, bhikkhave, bhikkhu ukkhittapaligho hoti?
Idha, bhikkhave, bhikkhuno avijjā pahīnā hoti, ucchinnamūlā tālāvatthukatā anabhāvaṅkatā, āyatiṁ anuppādadhammā.
Evaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu ukkhittapaligho hoti.
Kathañca, bhikkhave, bhikkhu saṅkiṇṇaparikkho hoti?
Idha, bhikkhave, bhikkhuno ponobbhaviko jātisaṁsāro pahīno hoti, ucchinnamūlo tālāvatthukato anabhāvaṅkato, āyatiṁ anuppādadhammo.
Evaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu saṅkiṇṇaparikkho hoti.
Kathañca, bhikkhave, bhikkhu abbūḷhesiko hoti?
Idha, bhikkhave, bhikkhuno taṇhā pahīnā hoti, ucchinnamūlā tālāvatthukatā anabhāvaṅkatā, āyatiṁ anuppādadhammā.
Evaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu abbūḷhesiko hoti.
Kathañca, bhikkhave, bhikkhu niraggaḷo hoti?
Idha, bhikkhave, bhikkhuno pañca orambhāgiyāni saṁyojanāni pahīnāni honti, ucchinnamūlāni tālāvatthukatāni anabhāvaṅkatāni, āyatiṁ anuppādadhammāni.
Evaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu niraggaḷo hoti.
Kathañca, bhikkhave, bhikkhu ariyo pannaddhajo pannabhāro visaṁyutto hoti?
Idha, bhikkhave, bhikkhuno asmimāno pahīno hoti, ucchinnamūlo tālāvatthukato anabhāvaṅkato, āyatiṁ anuppādadhammo.
Evaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu ariyo pannaddhajo pannabhāro visaṁyutto hoti.
Evaṁ vimuttacittaṁ kho, bhikkhave, bhikkhuṁ saindā devā sabrahmakā sapajāpatikā anvesaṁ nādhigacchanti:
‘idaṁ nissitaṁ tathāgatassa viññāṇan’ti.
Taṁ kissa hetu?
Diṭṭhevāhaṁ, bhikkhave, dhamme tathāgataṁ ananuvijjoti vadāmi.
Evaṁvādiṁ kho maṁ, bhikkhave, evamakkhāyiṁ eke samaṇabrāhmaṇā asatā tucchā musā abhūtena abbhācikkhanti:
‘venayiko samaṇo gotamo, sato sattassa ucchedaṁ vināsaṁ vibhavaṁ paññāpetī’ti.
Yathā cāhaṁ na, bhikkhave, yathā cāhaṁ na vadāmi, tathā maṁ te bhonto samaṇabrāhmaṇā asatā tucchā musā abhūtena abbhācikkhanti:
‘venayiko samaṇo gotamo, sato sattassa ucchedaṁ vināsaṁ vibhavaṁ paññāpetī’ti.
Pubbe cāhaṁ, bhikkhave, etarahi ca dukkhañceva paññāpemi, dukkhassa ca nirodhaṁ.
Tatra ce, bhikkhave, pare tathāgataṁ akkosanti paribhāsanti rosenti vihesenti, tatra, bhikkhave, tathāgatassa na hoti āghāto na appaccayo na cetaso anabhiraddhi.
Tatra ce, bhikkhave, pare tathāgataṁ sakkaronti garuṁ karonti mānenti pūjenti, tatra, bhikkhave, tathāgatassa na hoti ānando na somanassaṁ na cetaso uppilāvitattaṁ.
Tatra ce, bhikkhave, pare vā tathāgataṁ sakkaronti garuṁ karonti mānenti pūjenti, tatra, bhikkhave, tathāgatassa evaṁ hoti:
‘yaṁ kho idaṁ pubbe pariññātaṁ tattha me evarūpā kārā karīyantī’ti.
Tasmātiha, bhikkhave, tumhe cepi pare akkoseyyuṁ paribhāseyyuṁ roseyyuṁ viheseyyuṁ, tatra tumhe hi na āghāto na appaccayo na cetaso anabhiraddhi karaṇīyā.
Tasmātiha, bhikkhave, tumhe cepi pare sakkareyyuṁ garuṁ kareyyuṁ māneyyuṁ pūjeyyuṁ, tatra tumhehi na ānando na somanassaṁ na cetaso uppilāvitattaṁ karaṇīyaṁ.
Tasmātiha, bhikkhave, tumhe cepi pare sakkareyyuṁ garuṁ kareyyuṁ māneyyuṁ pūjeyyuṁ, tatra tumhākaṁ evamassa:
‘yaṁ kho idaṁ pubbe pariññātaṁ, tattha me evarūpā kārā karīyantī’ti.
Tasmātiha, bhikkhave, yaṁ na tumhākaṁ taṁ pajahatha;
taṁ vo pahīnaṁ dīgharattaṁ hitāya sukhāya bhavissati.
Kiñca, bhikkhave, na tumhākaṁ?
Rūpaṁ, bhikkhave, na tumhākaṁ, taṁ pajahatha;
taṁ vo pahīnaṁ dīgharattaṁ hitāya sukhāya bhavissati.
Vedanā, bhikkhave, na tumhākaṁ, taṁ pajahatha;
sā vo pahīnā dīgharattaṁ hitāya sukhāya bhavissati.
Saññā, bhikkhave, na tumhākaṁ, taṁ pajahatha;
sā vo pahīnā dīgharattaṁ hitāya sukhāya bhavissati.
Saṅkhārā, bhikkhave, na tumhākaṁ, te pajahatha;
te vo pahīnā dīgharattaṁ hitāya sukhāya bhavissanti.
Viññāṇaṁ, bhikkhave, na tumhākaṁ, taṁ pajahatha;
taṁ vo pahīnaṁ dīgharattaṁ hitāya sukhāya bhavissati.
Taṁ kiṁ maññatha, bhikkhave,
yaṁ imasmiṁ jetavane tiṇakaṭṭhasākhāpalāsaṁ, taṁ jano hareyya vā daheyya vā yathāpaccayaṁ vā kareyya.
Api nu tumhākaṁ evamassa:
‘amhe jano harati vā dahati vā yathāpaccayaṁ vā karotī’”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Taṁ kissa hetu”?
“Na hi no etaṁ, bhante, attā vā attaniyaṁ vā”ti.
“Evameva kho, bhikkhave, yaṁ na tumhākaṁ taṁ pajahatha;
taṁ vo pahīnaṁ dīgharattaṁ hitāya sukhāya bhavissati.
Kiñca, bhikkhave, na tumhākaṁ?
Rūpaṁ, bhikkhave, na tumhākaṁ, taṁ pajahatha;
taṁ vo pahīnaṁ dīgharattaṁ hitāya sukhāya bhavissati.
Vedanā, bhikkhave …pe…
saññā, bhikkhave …
saṅkhārā, bhikkhave …pe…
viññāṇaṁ, bhikkhave, na tumhākaṁ, taṁ pajahatha;
taṁ vo pahīnaṁ dīgharattaṁ hitāya sukhāya bhavissati.
Evaṁ svākkhāto, bhikkhave, mayā dhammo uttāno vivaṭo pakāsito chinnapilotiko.
Evaṁ svākkhāte, bhikkhave, mayā dhamme uttāne vivaṭe pakāsite chinnapilotike ye te bhikkhū arahanto khīṇāsavā vusitavanto katakaraṇīyā ohitabhārā anuppattasadatthā parikkhīṇabhavasaṁyojanā sammadaññāvimuttā, vaṭṭaṁ tesaṁ natthi paññāpanāya.
Evaṁ svākkhāto, bhikkhave, mayā dhammo uttāno vivaṭo pakāsito chinnapilotiko.
Evaṁ svākkhāte, bhikkhave, mayā dhamme uttāne vivaṭe pakāsite chinnapilotike yesaṁ bhikkhūnaṁ pañcorambhāgiyāni saṁyojanāni pahīnāni, sabbe te opapātikā, tattha parinibbāyino, anāvattidhammā tasmā lokā.
Evaṁ svākkhāto, bhikkhave, mayā dhammo uttāno vivaṭo pakāsito chinnapilotiko.
Evaṁ svākkhāte, bhikkhave, mayā dhamme uttāne vivaṭe pakāsite chinnapilotike yesaṁ bhikkhūnaṁ tīṇi saṁyojanāni pahīnāni, rāgadosamohā tanubhūtā, sabbe te sakadāgāmino, sakideva imaṁ lokaṁ āgantvā dukkhassantaṁ karissanti.
Evaṁ svākkhāto, bhikkhave, mayā dhammo uttāno vivaṭo pakāsito chinnapilotiko.
Evaṁ svākkhāte, bhikkhave, mayā dhamme uttāne vivaṭe pakāsite chinnapilotike yesaṁ bhikkhūnaṁ tīṇi saṁyojanāni pahīnāni, sabbe te sotāpannā, avinipātadhammā, niyatā sambodhiparāyanā.
Evaṁ svākkhāto, bhikkhave, mayā dhammo uttāno vivaṭo pakāsito chinnapilotiko.
Evaṁ svākkhāte, bhikkhave, mayā dhamme uttāne vivaṭe pakāsite chinnapilotike ye te bhikkhū dhammānusārino saddhānusārino sabbe te sambodhiparāyanā.
Evaṁ svākkhāto, bhikkhave, mayā dhammo uttāno vivaṭo pakāsito chinnapilotiko.
Evaṁ svākkhāte, bhikkhave, mayā dhamme uttāne vivaṭe pakāsite chinnapilotike yesaṁ mayi saddhāmattaṁ pemamattaṁ sabbe te saggaparāyanā”ti.
Idamavoca bhagavā.
Attamanā te bhikkhū bhagavato bhāsitaṁ abhinandunti.
Alagaddūpamasuttaṁ niṭṭhitaṁ dutiyaṁ.
SC 1Thus have I heard. On one occasion the Blessed One was dwelling at Sāvatthi, at Jeta‘s Grove, in Anāthapiṇḍika‘s Park. On that occasion there was a monk named Ariṭṭha, who had previously been a vulture-trapper, and in whom a harmful opinion had arisen to this effect: “As I understand the Dhamma taught by the Blessed One, those things which are spoken of by the Blessed One as obstructive are not obstructive for one who indulges in them.” Many monks heard, “Apparently there is a monk named Ariṭṭha, who was previously a vulture-trapper, and in whom a harmful opinion has arisen to this effect: ‘As I understand the Dhamma taught by the Blessed One, those things which are spoken of by the Blessed One as obstructive are not obstructive for one who indulges in them.’”
SC 2Then those monks approached Venerable Ariṭṭha and said to him, “Venerable Ariṭṭha, is it true that a harmful opinion that arisen in you to this effect: ‘As I understand the Dhamma taught by the Blessed One, those things which are spoken of by the Blessed One as obstructive are not obstructive for one who indulges in them’?”
SC 3“Yes, Venerables. As I understand the Dhamma taught by the Blessed One, those things which are spoken of by the Blessed One as obstructive are not obstructive for one who indulges in them.”
SC 4Then those monks, wishing to separate the monk Ariṭṭha from that harmful opinion, enjoined, pressured, and entreated him: “Venerable Ariṭṭha, do not speak in that way, do not slander the Blessed One; it is not good to slander the Blessed One, it is not good to speak about the Blessed One in that way. Venerable Ariṭṭha, in many ways obstructive things have been spoken about by the Blessed One as obstructive. They are obstructive for one who indulges in them. Sensuality has been spoken about by the Blessed One as bringing little gratification, much suffering, and much anguish; the drawback here is greater than the gratification. Sensuality has been spoken about by the Blessed One using the simile of the skeleton… the simile of the piece of meat… the simile of the charcoal pit… the simile of the dream… the simile of the borrower… the simile of the tree-fruit… the simile of the chopping-block… the simile of the spear… the simile of the serpent‘s head. It brings much suffering and much anguish; the drawback here is greater than the gratification.” But although the monk Ariṭṭha was enjoined, pressured, and entreated in this way by those monks, he still stubbornly held on to and professed that harmful opinion: “As I understand the Dhamma taught by the Blessed One, those things which are spoken of by the Blessed One as obstructive are not obstructive for one who indulges in them.”
SC 5When those monks were not able to separate the monk Ariṭṭha from that harmful opinion, they approached the Blessed One, paid respects to him, and sat to one side. While they were seated to one side, those monks said to the Blessed One, “Bhante, a harmful opinion has arisen in the monk named Ariṭṭha to this effect: ‘As I understand the Dhamma taught by the Blessed One, those things which are spoken of by the Blessed One as obstructive are not obstructive for one who indulges in them.’ Bhante, we heard that ‘A harmful opinion has arisen in the monk named Ariṭṭha…’ Then, Bhante, we went to the monk Ariṭṭha and said to him, ‘Venerable Ariṭṭha, is it true…?’ Then, Bhante, we enjoined, pressured, and entreated him in this way… Bhante, when we were not able to separate the monk Ariṭṭha from that harmful opinion, we reported this matter to the Blessed One.”
SC 6Then the Blessed One said to a certain monk, “Go, monk, and summon the monk Ariṭṭha using my words: ‘Venerable Ariṭṭha, the Teacher summons you.’”
SC 7“Yes, Bhante,” that monk replied to the Blessed One. He went to the monk Ariṭṭha and said to him, “Venerable Ariṭṭha, the Teacher summons you.”
SC 8“Yes, Venerable,” the monk Ariṭṭha replied to that monk. He approached the Blessed One, paid respects, and sat to one side.
SC 9When the monk Ariṭṭha was seated to one side, the Blessed One said to him, “Ariṭṭha, is it true that a harmful opinion has arisen in you to this effect: ‘As I understand the Dhamma taught by the Blessed One, those things which are spoken of by the Blessed One as obstructive are not obstructive for one who indulges in them’?”
SC 10“Yes, Bhante. As I understand the Dhamma taught by the Blessed One, those things which are spoken of by the Blessed One as obstructive are not obstructive for one who indulges in them.”
SC 11“You foolish man, how could you understand in that way the Dhamma taught by me? Foolish man, isn‘t it true that in many ways obstructive things have been spoken about by me as obstructive? They are obstructive for one who indulges in them. Sensuality has been spoken about by me as bringing little gratification, much suffering, and much anguish; the drawback here is greater than the gratification. Sensuality has been spoken about by the Blessed One using the simile of the skeleton… the simile of the piece of meat… the simile of the charcoal pit… the simile of the dream… the simile of the borrower… the simile of the tree-fruit… the simile of the chopping-block… the simile of the spear… the simile of the serpent‘s head. It brings much suffering and much anguish; the drawback here is greater than the gratification. Then you, foolish man, slander me with your bad grasp of the teaching. You ruin yourself and accumulate much demerit. Foolish man, this will be for your long-term detriment and suffering.”
SC 12Then the Blessed One addressed the monks, “What do you think, monks? Has this monk Ariṭṭha produced even a spark of wisdom in this Dhamma-Vinaya?”
SC 13“How could that be, Bhante? Certainly not, Bhante.”
SC 14When this was said, the monk Ariṭṭha become silent and ashamed, and he sat with shoulders slumped and face downcast, sulky and unresponsive. Knowing that the monk Ariṭṭha was silent and ashamed, sitting with his shoulders slumped and face downcast, sulky and unresponsive, the Blessed One said to him, “Foolish man, you will be known by your own harmful opinion. I will question the monks about this.”
SC 15Then the Blessed One addressed the monks: “Monks, do you understand the Dhamma taught by me in the same way that the monk Ariṭṭha does, when he slanders me with his bad grasp of the teaching, ruining himself and accumulate much demerit?”
SC 16“Certainly not, Bhante. Bhante, in many ways obstructive things have been spoken about by the Blessed One as obstructive… the drawback here is greater than the gratification.”
SC 17“Good, good, monks. Monks, it is good that you understand in this way the Dhamma taught by me. Monks, in many ways obstructive things have been spoken about by me as obstructive… the drawback here is greater than the gratification. Then this monk Ariṭṭha slanders me with his bad grasp of the teaching, ruining himself and accumulating much demerit. That will be for this foolish man‘s long-term detriment and suffering. Monks, it is not possible for one to indulge in sensuality without sensual desires, sensual perceptions, and sensual thoughts.
The Simile of the Viper
SC 18“Monks, here some foolish person learns1 the Dhamma – discourses, poems, explanations, verses, exclamations, reports, birth-stories, wonders, and discussions2. Having learned the Dhamma, he does not wisely examine its meaning. Since the meaning of those teachings has not been wisely examined by him, they are not accepted3 by him. He just learns the Dhamma so he can argue, so he can refute other people‘s statements. He learns the Dhamma, but he does not manifest its benefit. His bad grasp of the teachings leads to his long-term detriment and suffering. For what reason? Monks, because of the bad grasp of the teachings.
SC 19“Monks, imagine that a man needed a viper, was seeking a viper, was going about searching for a viper. He might see a large viper, and grab it by its body or tail. Then that viper would curl around and bite his hand or arm or one of his other limbs. Because of that he would die, or experience death-like pain. For what reason? Monks, because of the bad grasp of the viper. In the same way, monks, here some foolish man learns the Dhamma… His bad grasp of the teachings leads to his long-term detriment and suffering. For what reason? Monks, because of the bad grasp of the teachings.
SC 20“Monks, here some gentleman learns the Dhamma – discourses, poems, explanations, verses, exclamations, reports, birth-stories, wonders, and discussions. Having learned the Dhamma, he wisely examines its meaning. Since the meaning of those teachings has been wisely examined by him, they are accepted by him. He does not learn the Dhamma just so he can argue, nor just so he can refute other people‘s statements. He learns the Dhamma and manifests its benefit. His good grasp of the teachings leads to his long-term benefit and happiness. For what reason? Monks, because of the good grasp of the teachings.
SC 21“Monks, imagine that a man needed a viper, was seeking a viper, was going about searching for a viper. He might see a large viper, and pin it down well using a forked stick. Having pinned it down well using a forked stick, he would grasp it well by the neck. Monks, even though that snake might wrap its body around his hand or arm or one of his other limbs, he would not die or experience death-like pain because of that. For what reason? Monks, because of the good grasp of the viper. In the same way, monks, here some gentleman learns the Dhamma… His good grasp of the teachings leads to his long-term benefit and happiness. For what reason? Monks, because of the good grasp of the teachings.
SC 22“Therefore, monks, understand the meaning of what I have said and remember it accordingly. And if you do not understand the meaning of what I have said, you should discuss it with me or with one of the other competent monks.
The Simile of the Raft
SC 23“Monks, I will teach you how the Dhamma is like a raft; it is to be used for the sake of escaping4, not for the sake of grasping. Listen to this and carefully pay attention; I will speak.”
SC 24“Yes, Bhante,” those monks replied to the Blessed One. The Blessed One said this:
SC 25“Monks, imagine that a person was traveling on a road. He might see a large river, the near shore of which is risky and dangerous, and the far shore of which is safe and harmless; but there is no ferry-boat or bridge or any other way to cross. He would think, ‘The near shore of this large river is risky and dangerous, and the far shore is safe and harmless; but there is no ferry-boat or bridge or any other way to cross. Perhaps I will gather grass and wood and branches and leaves, bind them together into a raft, and then, relying on that raft, I will make an effort with my arms and legs to cross safely to the other side.’
SC 26“Then, monks, that person gathered grass and wood and branches and leaves, bound them together into a raft, and then, relying on that raft, he made an effort with his arms and legs to cross safely to the other side. When he reached the other side, he would think, ‘This raft has done much for me; relying on this raft and making an effort with my arms and legs, I crossed safely to the other side. Perhaps I will put this raft on my head or carry it on my shoulders as I go about doing what I wish to do.’ What do you think, monks – is this person doing what should be done with that raft?”
SC 27“Certainly not, Bhante.”
SC 28“Monks, how could this person do what should be done with that raft? Here, monks, when he reached the other side, he would think, ‘This raft has done much for me; relying on this raft and making an effort with my arms and legs, I crossed safely to the other side. Perhaps I will leave it on the ground or floating in the water as I go about doing what I wish to do.’ Monks, this person is doing what should be done with that raft.
SC 29“In the same way, monks, I have taught you how the Dhamma is like a raft; it is for the purpose of escaping, not for the the purpose of grasping. Monks, I have taught you how the Dhamma is like a raft; those who understand this are to let go even of Dhamma, let alone non-Dhamma.
Six Standpoints of Wrong View
SC 30“Monks, there are six standpoints of wrong view. What six?
SC 31“Here, monks, an uneducated commoner – one who does not see the noble ones, has not mastered the teachings of the noble ones, is undisciplined in the teachings of the noble ones, does not see good people, has not mastered the teachings of good people, and is undisciplined in the teachings of good people – he sees the body as ‘This is me, I am this, this is my self’; he sees identification as ‘This is me, I am this, this is my self’; he sees mental objects as ‘This is me, I am this, this is my self’; he sees whatever is seen, heard, sensed, cognized, attained, sought after, or explored with the mind as ‘This is me, I am this, this is my self’; or based on this view – ‘The world is the self, and after death I will be permanent, stable, eternal, unchanging, and will remain that way forever’ – he sees that as ‘This is me, I am this, this is my self.’
SC 32“Monks, an educated disciple of the noble ones – one who sees the noble ones, has mastered the teachings of the noble ones, is well-disciplined in the teachings of the noble ones, sees good people, has mastered the teachings of good people, and is well-disciplined in the teachings of good people – does not see the body as ‘This is me, I am this, this is my self’; does not see identification as ‘This is me, I am this, this is my self’; does not see mental objects as ‘This is me, I am this, this is my self’; does not see whatever is seen, heard, sensed, cognized, attained, sought after, or explored with the mind as ‘This is me, I am this, this is my self’; and regarding this view – ‘The world is the self, and after death I will be permanent, stable, eternal, unchanging, and will remain that way forever’ – he does not see that as ‘This is me, I am this, this is my self.’ Seeing in this way, he is not agitated about what does not exist.”
Bases of Agitation
SC 33When this was said, a certain monk asked the Blessed One, “Bhante, can there be agitation about something external that does not exist?”
SC 34“There can be, monk,” said the Blessed One. “Here a monk thinks about something, ‘Oh, it was mine, but now it is not! Oh, it could be mine, but I will not get it!’ He sorrows, frets, and laments, beating his chest and wailing, and becomes confused. Monk, in this way there is agitation about something external that does not exist.”
SC 35“Bhante, can there be no agitation about something external that does not exist?”
SC 36“There can be, monk,” said the Blessed One. “Here a monk does not think about something, ‘Oh, it was mine, but now it is not! Oh, it could be mine, but I will not get it!’ He does not sorrow, fret, lament, beat his chest, wail, or become confused. Monk, in this way there is no agitation about something external that does not exist.”
SC 37“Bhante, can there be agitation about something internal that does not exist?”
SC 38“There can be, monk,” said the Blessed One. “Here a monk has this opinion: ‘The world is the self, and after death I will be permanent, stable, eternal, unchanging, and will remain that way forever.’ He hears the Dhamma being taught by the Tathāgata or one of the Tathagata‘s disciples, for the complete uprooting of the tendency of settling on, obsessing with, and sticking to any viewpoint, for the pacification of all formations, for the relinquishing of all acquisitions, for the elimination of craving, for dispassion, for cessation, for enlightenment. It occurs to him, ‘It seems I will be cut off! It seems I will be destroyed! It seems I will be lost!’ He sorrows, frets, and laments, beating his chest and wailing, and becomes confused. Monk, in this way there is agitation about something internal that does not exist.”
SC 39“Bhante, can there be no agitation about something internal that does not exist?”
SC 40“There can be, monk,” said the Blessed One. “Here a monk does not have this opinion: ‘The world is the self… It seems I will be lost!’ He does not sorrow, fret, lament, beat his chest, wail, or become confused. Monk, in this way there is no agitation about something internal that does not exist.”
SC 41“Monks, you could possess something which is permanent, stable, eternal, unchanging, and which will remain that way forever. Monks, do you see anything which is permanent, stable, eternal, unchanging, and which will remain that way forever?”
SC 42“Certainly not, Bhante.”
SC 43“Good, monks. Monks, I also do not see anything which is permanent, stable, eternal, unchanging, and which will remain that way forever.
SC 44“Monks, you could cling to a belief in self-existence which, when clung to, does not produce sorrow, lamentation, pain, depression, and anguish. Monks, do you see any belief in self-existence which, when clung to, does not produce sorrow, lamentation, pain, depression, and anguish?”
SC 45“Certainly not, Bhante.”
SC 46“Good, monks. Monks, I also do not see any belief in self-existence which, when clung to, does not produce sorrow, lamentation, pain, depression, and anguish.”
SC 47“Monks, you could rely on an opinion which, when relied upon, does not produce sorrow, lamentation, pain, depression, and anguish. Monks, do you see any opinion which, when relied upon, does not produce sorrow, lamentation, pain, depression, and anguish?”
SC 48“Certainly not, Bhante.”
SC 49“Good, monks. Monks, I also do not see any opinion which, when relied upon, does not produce sorrow, lamentation, pain, depression, and anguish.”
Belief in Self-Existence
SC 50“Monks, if a self existed, would there be the concept ‘belongs to my self’?
SC 51“Yes, Bhante.”
SC 52“Monks, if ‘belongs to my self’ existed, would there be the concept ‘my self’?”
SC 53“Yes, Bhante.”
SC 54“Monks, since one cannot arrive at ‘self’ or ‘belongs to self’ as true and reliable, then isn‘t the viewpoint ‘The world is the self, and after death I will be permanent, stable, eternal, unchanging, and will remain that way forever’ utterly and completely foolish?”
SC 55“How could it not be, Bhante? Bhante, it is utterly and completely foolish.”
SC 56“What do you think, monks? Is the body permanent or impermanent?”
SC 57“Impermanent, Bhante.”
SC 58“Is that which is impermanent unsatisfying or satisfying?”
SC 59“Unsatisfying, Bhante.”
SC 60“Is it proper to regard that which is impermanent, unsatisfying, and changeable as ‘this is mine, I am this, this is my self’?
SC 61“Certainly not, Bhante.”
SC 62“What do you think, monks? Is feeling… recognition… mental formations… consciousness permanent or impermanent?”
SC 63“Impermanent, Bhante.”
SC 64“Is that which is impermanent unsatisfying or satisfying?”
SC 65“Unsatisfying, Bhante.”
SC 66“Is it proper to regard that which is impermanent, unsatisfying, and changeable as ‘this is mine, I am this, this is my self’?
SC 67“Certainly not, Bhante.”
SC 68“Therefore, monks, any body – past, future, or present, internal or external, obvious or subtle, inferior or excellent, far or near – all should be accurately seen with correct wisdom in this way: ‘This is not mine, I am not this, this is not my self.’ Any feeling… recognition… mental formations… consciousness – past, future, or present, internal or external, obvious or subtle, inferior or excellent, far or near – all should be accurately seen with correct wisdom in this way: ‘This is not mine, I am not this, this is not my self.’
SC 69“Seeing in this way, monks, an educated disciple of the noble ones becomes disenchanted with the body, disenchanted with feeling, disenchanted with recognition, disenchanted with mental formations, disenchanted with consciousness. Disenchantment produces dispassion. Dispassion liberates. When there is liberation, there is knowing: ‘Liberated.’ One understands, ‘Birth is eliminated, the spiritual life has been completed, what was to be done has been done, there will not be another existence like this.’
SC 70“Monks, this is called a monk who has ‘removed the barrier’. who has ‘filled in the moat’, who has ‘demolished the pillar5’, who has ‘opened the lock’, who is ‘a noble being who has lowered the banner, put down the burden, and is unbound’.
SC 71“Monks, how is he a monk who has ‘removed the barrier’? Monks, ignorance has been abandoned by that monk, its root has been cut up, it has been made like a palm stump, rendered non-existent, not subject to future arising. Monks, in this way he is a monk who has ‘removed the barrier’.
SC 72“Monks, how is he a monk who has ‘filled in the moat’? Monks, wandering through birth from one state of existence to another has been abandoned by that monk, its root has been cut up, it has been made like a palm stump, rendered non-existent, not subject to future arising. Monks, in this way he is a monk who has ‘filled in the moat’.
SC 73“Monks, how is he a monk who has ‘demolished the pillar’? Monks, craving has been abandoned by that monk, its root has been cut up, it has been made like a palm stump, rendered non-existent, not subject to future arising. Monks, in this way he is a monk who has ‘demolished the pillar’.
SC 74“Monks, how is he a monk who has ‘opened the lock’? Monks, the five lower fetters have been abandoned by that monk, their roots have been cut up, they have been made like a palm stump, rendered non-existent, not subject to future arising. Monks, in this way he is a monk who has ‘opened the lock’.
SC 75“Monks, how is he a monk who is ‘a noble being who has lowered the banner, put down the burden, and is unbound’? Monks, the conceit ‘I am’ has been abandoned by that monk, its root has been cut up, it has been made like a palm stump, rendered non-existent, not subject to future arising. Monks, in this way he is a monk who is ‘a noble being who has lowered the banner, put down the burden, and is unbound’.
SC 76“Monks, when a monk‘s mind has been liberated in this way, then even an investigation by all the angels including Indra, Brahma, and Pajāpati would not be able to ascertain, ‘The consciousness of a Tathāgata6 is dependent on that.’ For what reason? Monks, I say that even here and now a Tathāgata cannot be found. But since I say this, some contemplatives and brahmins slander me – inaccurately, vainly, falsely, untruthfully – by saying, ‘The contemplative Gotama leads people astray; he declares the destruction, removal, and annihilation of an existing being.’ Monks, since I am not that way and I do not speak that way, then it is inaccurate, vain, false, and untruthful when those contemplatives and brahmins slander me by saying, ‘The contemplative Gotama leads people astray; he declares the destruction, removal, and annihilation of an existing being.’ Monks, previously and currently I declare only suffering and the cessation of suffering.
SC 77“Monks, even when others condemn, criticize, revile, and insult the Tathāgata, the Tathāgata is not irritated, bothered, or dissatisfied. Monks, even when others praise, honor, and revere the Tathāgata, the Tathāgata is not delighted, elated, or overjoyed. Monks, when others praise, honor, and revere the Tathāgata, the Tathāgata thinks, ‘This is how I act towards what has been understood.’
SC 78“Therefore, monks, if others condemn, criticize, revile, and insult you, you should not be irritated, bothered, or dissatisfied. If others praise, honor, and revere you, you should not be delighted, elated, or overjoyed. Monks, when others praise, honor, and revere you, you should think, ‘This is how I act towards what has been understood.’
Abandoning What Is Not Yours
SC 79“Therefore, monks, abandon what is not yours; abandoning it will be for your long-term benefit and happiness. Monks, what is not yours?
SC 80“Monks, the body is not yours; abandon it. Abandoning it will be for your long-term benefit and happiness.
SC 81“Monks, feeling is not yours; abandon it. Abandoning it will be for your long-term benefit and happiness.
SC 82“Monks, recognition is not yours; abandon it. Abandoning it will be for your long-term benefit and happiness.
SC 83“Monks, mental formations are not yours; abandon them. Abandoning them will be for your long-term benefit and happiness.
SC 84“Monks, consciousness is not yours; abandon it. Abandoning it will be for your long-term benefit and happiness.
SC 85“What do you think, monks? If people were to take or burn or do whatever they wished with all the grass and sticks and leaves and branches in Jeta‘s grove, would you think ‘The people are taking us, burning us, doing whatever they wish to us’?”
SC 86“Certainly not, Bhante.”
SC 87“For what reason?”
SC 88“Bhante, because it is not our self or belonging to our self.”
SC 89“In exactly the same way, monks, abandon what is not yours; abandoning it will be for your long-term benefit and happiness. Monks, what is not yours? Monks, the body… feeling… recognition… mental formations… consciousness is not yours; abandon it. Abandoning it will be for your long-term benefit and happiness.
Purity of the Dhamma
SC 90“Monks, the Dhamma which has been well-explained by me in this way is evident, apparent, manifest, flawless.
SC 91“Monks, in this Dhamma which has been well-explained by me in this way and which is evident, apparent, manifest, and flawless, there are monks who are Arahants, who have eliminated their corruptions, who have lived completely, who have done what was to be done, who have put down the burden, who have reached the true goal, who have completely eliminated the fetter of existence, who are liberated through right knowledge; for them, there is no cycle of rebirth to be found. Monks, the Dhamma which has been well-explained by me in this way is evident, apparent, manifest, flawless.
SC 92“Monks, in this Dhamma which has been well-explained by me in this way and which is evident, apparent, manifest, and flawless, there are monks who have abandoned the five lower fetters; all of them will be reborn as angels and will attain full enlightenment in that state, without returning from that world. Monks, the Dhamma which has been well-explained by me in this way is evident, apparent, manifest, flawless.
SC 93“Monks, in this Dhamma which has been well-explained by me in this way and which is evident, apparent, manifest, and flawless, there are monks who have abandoned three fetters and attenuated lust and hate; all of them are once-returners, who will come to this world once more and put an end to their suffering. Monks, the Dhamma which has been well-explained by me in this way is evident, apparent, manifest, flawless.
SC 94“Monks, in this Dhamma which has been well-explained by me in this way and which is evident, apparent, manifest, and flawless, there are monks who have abandoned three fetters; all of them are stream-enterers, exempt from the lower realms, certain to reach full awakening. Monks, the Dhamma which has been well-explained by me in this way is evident, apparent, manifest, flawless.
SC 95“Monks, in this Dhamma which has been well-explained by me in this way and which is evident, apparent, manifest, and flawless, there are monks who are Dhamma-followers, faith-followers; all of them are certain to reach full awakening. Monks, the Dhamma which has been well-explained by me in this way is evident, apparent, manifest, flawless.
SC 96“Monks, in this Dhamma which has been well-explained by me in this way and which is evident, apparent, manifest, and flawless, there are those who have faith in me and affection in me; all of them will reach heaven.”
SC 97This is what the Blessed One said. Satisfied, those monks delighted in the Blessed One‘s speech.
Như vầy tôi nghe.
SC 1Một thời Thế Tôn ở Sāvatthi (Xá-vệ), tại Jetavana (Kỳ-đà Lâm), vườn ông Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Ðộc).
SC 2Lúc bấy giờ, Tỷ-kheo tên là Ariṭṭha, xưa làm nghề huấn luyện chim ưng, khởi lên ác tà kiến như sau: “Theo như ta hiểu pháp Thế Tôn thuyết giảng, khi thọ dụng những pháp được Thế Tôn gọi là chướng ngại pháp, thật sự không có chướng ngại gì”.
SC 3Một số đông Tỷ-kheo nghe như sau: “Tỷ-kheo tên Ariṭṭha, xưa làm nghề huấn luyện chim ưng, khởi lên ác tà kiến như sau: “Theo như ta hiểu pháp Thế Tôn thuyết giảng, khi thọ dụng những pháp được Thế Tôn gọi là chướng ngại pháp, thật sự không có chướng ngại gì”. Rồi những Tỷ-kheo ấy đi đến chỗ Tỷ-kheo Ariṭṭha, xưa làm nghề huấn luyện chim ưng, khi đến xong, liền nói với Tỷ-kheo Ariṭṭha, xưa làm nghề huấn luyện chim ưng như sau
SC 4—Này Hiền giả Ariṭṭha, có đúng sự thật rằng, Hiền giả khởi lên ác tà kiến như sau: “Theo như tôi hiểu … thật sự không có chướng ngại gì”?
SC 5—Thật sự là vậy, chư Hiền. Theo như tôi hiểu … không có chướng ngại gì.
SC 6Rồi những Tỷ-kheo ấy muốn Tỷ-kheo Ariṭṭha, xưa làm nghề huấn luyện chim ưng từ bỏ ác tà kiến ấy, liền cật vấn, nạn vấn lý do, thảo luận—“ Hiền giả Ariṭṭha, chớ nói như vậy, chớ xuyên tạc Thế Tôn. Xuyên tạc Thế Tôn là không tốt. Thế Tôn không có nói như vậy. Hiền giả Ariṭṭha, Thế Tôn đã dùng nhiều pháp môn thuyết chướng đạo pháp. Và những ai thọ dụng chúng tự đủ bị chướng ngại. Thế Tôn đã thuyết các dục vui ít, khổ nhiều, não nhiều, do vậy nguy hiểm càng nhiều hơn. Thế Tôn đã thuyết các dục được ví như khúc xương … Thế Tôn đã thuyết các dục được ví như một miếng thịt … Thế Tôn đã thuyết các dục được ví như bó đuốc cỏ khô … Thế Tôn đã thuyết các dục được ví như hố than hừng … Thế Tôn đã thuyết các dục được ví như cơn mộng … Thế Tôn đã thuyết các dục được ví như vật dụng cho mượn … Thế Tôn đã thuyết các dục được ví như trái cây … Thế Tôn đã thuyết các dục vọng được ví như lò thịt … Thế Tôn đã thuyết các dục vọng được ví như gậy nhọn … Thế Tôn đã thuyết các dục được ví như đầu rắn, vui ít khổ nhiều, não nhiều và do vậy, nguy hiểm càng nhiều hơn”.
SC 7Tỷ-kheo Ariṭṭha xưa làm nghề huấn luyện chim ưng, dầu được các Tỷ-kheo ấy cật vấn, chất vấn thảo luận, vẫn nói lên ác tà kiến ấy, cứng đầu, chấp chặt, nắm chặt tà kiến ấy: “Thật sự là vậy, theo như tôi hiểu, pháp Thế Tôn thuyết giảng … không có chướng ngại gì”.
SC 8Vì các Tỷ-kheo không thể làm cho Tỷ-kheo Ariṭṭha, xưa làm nghề huấn luyện chim ưng, từ bỏ ác tà kiến ấy, nên họ đến chỗ Thế Tôn ở, khi đến xong, đảnh lễ Thế Tôn và ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, những Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn
SC 9—Bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo Ariṭṭha, xưa làm nghề huấn luyện chim ưng, khởi lên ác tà kiến như sau: “Theo tôi hiểu, pháp Thế Tôn thuyết giảng … không có chướng ngại gì”. Bạch Thế Tôn, chúng con nghe: “Tỷ-kheo tên Ariṭṭha, xưa làm nghề huấn luyện chim ưng … không có chướng ngại gì”. Bạch Thế Tôn, rồi chúng con đi đến chỗ Tỷ-kheo Ariṭṭha, xưa làm nghề huấn luyện chim ưng, khi đến xong, liền nói với Tỷ-kheo Ariṭṭha, xưa làm nghề huấn luyện chim ưng—“ Này Hiền giả Ariṭṭha, có đúng sự thật chăng? Hiền giả khởi lên ác tà kiến như sau: “Theo như tôi hiểu … thật sự không có chướng ngại gì”.
SC 10Bạch Thế Tôn, khi nghe nói vậy, Tỷ-kheo Ariṭṭha, xưa làm nghề huấn luyện chim ưng, nói với chúng con như sau—“ Thật sự là vậy. Chư Hiền, theo như tôi hiểu … thật sự không có chướng ngại gì”.
SC 11Bạch Thế Tôn, chúng con muốn khiến Tỷ-kheo Ariṭṭha, xưa làm nghề huấn luyện chim ưng, từ bỏ ác tà kiến ấy, liền cật vấn, nạn vấn lý do, thảo luận—“ Hiền giả Ariṭṭha, chớ nói như vậy! Chớ xuyên tạc Thế Tôn. Xuyên tạc Thế Tôn là không tốt. Thế Tôn không có nói như vậy, Hiền giả Ariṭṭha, Thế Tôn đã dùng nhiều pháp môn thuyết chướng đạo pháp. Và những ai thọ dụng chúng, tự đủ bị chướng ngại. Thế Tôn đã thuyết các dục vui ít, khổ nhiều, não nhiều, do vậy nguy hiểm càng nhiều hơn. Thế Tôn đã thuyết các dục được ví như khúc xương … Thế Tôn đã thuyết các dục được ví như đầu rắn, vui ít, khổ nhiều, não nhiều, và do vậy nguy hiểm càng nhiều hơn”.
SC 12Bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo Ariṭṭha, xưa làm nghề huấn luyện chim ưng, dầu được chúng con cật vấn, nạn vấn lý do, thảo luận, vẫn nói lên ác tà kiến ấy, cứng đầu, chấp chặt, nắm chặt tà kiến ấy: “Thật sự là vậy, theo tôi hiểu, pháp Thế Tôn thuyết giảng … không có chướng ngại gì”. Bạch Thế Tôn, vì chúng con không thể làm cho Tỷ-kheo Ariṭṭha, xưa làm nghề huấn luyện chim ưng, từ bỏ ác tà kiến ấy, nên chúng con đến hỏi Thế Tôn ý nghĩa này.
SC 13Rồi Thế Tôn cho gọi một Tỷ-kheo khác
SC 14—Này Tỷ-kheo, hãy đi và nhân danh Ta gọi Tỷ-kheo Ariṭṭha, xưa làm nghề huấn luyện chim ưng rằng: “Hiền giả Ariṭṭha, bậc Ðạo Sư gọi Hiền giả”.
SC 15—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
SC 16Tỷ-kheo ấy vâng lời Thế Tôn, đến chỗ Tỷ-kheo Ariṭṭha, xưa làm nghề huấn luyện chim ưng, sau khi đến, liền nói với Tỷ-kheo Ariṭṭha, xưa làm nghề huấn luyện chim ưng
SC 17—Hiền giả Ariṭṭha, bậc Ðạo sư gọi Hiền giả.
—Thưa vâng, Hiền giả.
SC 18Tỷ-kheo Ariṭṭha, xưa làm nghề huấn luyện chim ưng, đáp lời Tỷ-kheo ấy, đi đến chỗ Thế Tôn ở, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với Tỷ-kheo Ariṭṭha, xưa làm nghề huấn luyện chim ưng, đang ngồi xuống một bên
SC 19—Này Ariṭṭha, có thật chăng, Ông khởi lên ác tà kiến như sau: “Theo như tôi hiểu … thật sự không có chướng ngại gì”?
SC 20—Thật sự là vậy, bạch Thế Tôn. Theo như con hiểu, thật sự không có chướng ngại gì.
SC 21—Này kẻ ngu si kia, sao Ông lại hiểu pháp Ta thuyết giảng như vậy? Này kẻ ngu si kia, có phải chăng, Ta đã dùng nhiều pháp môn thuyết chướng đạo pháp. Và những ai thọ dụng chúng tự đủ bị chướng ngại? Ta đã thuyết các dục vui ít, khổ nhiều, não nhiều, do vậy nguy hiểm càng nhiều hơn. Ta đã thuyết các dục được ví như khúc xương … Ta đã thuyết các dục được ví như miếng thịt … được ví như bó đuốc cỏ khô … được ví như hố than hừng … được ví như cơn mộng … được ví như vật dụng cho mượn … được ví như trái cây … được ví như lò thịt … được ví như gậy nhọn … Ta đã thuyết các dục được ví như đầu rắn, vui ít, khổ nhiều, não nhiều, và do vậy nguy hiểm càng nhiều hơn. Và này kẻ ngu si kia, không những Ông xuyên tạc Ta, vì Ông đã tự chấp thủ sai lạc, Ông tự phá hoại Ông và tạo nên nhiều tổn đức. Này kẻ ngu si kia, và như vậy sẽ đưa đến bất hạnh và đau khổ lâu dài cho Ông.
SC 22Rồi Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo
SC 23—Chư Tỷ-kheo, các Ông nghĩ thế nào? Tỷ-kheo Ariṭṭha, xưa làm nghề huấn luyện chim ưng này có thể khởi lên tia lửa sáng gì trong Pháp và Luật này không?
SC 24—Bạch Thế Tôn, làm sao có thể được! Không thể được, bạch Thế Tôn.
SC 25Ðược nói vậy, Tỷ-kheo Ariṭṭha, xưa làm nghề huấn luyện chim ưng, im lặng, hổ thẹn, thụt vai, cúi đầu, lo âu, câm miệng. Rồi Thế Tôn, sau khi biết được Tỷ-kheo Ariṭṭha, xưa làm nghề huấn luyện chim ưng đang im lặng, hổ thẹn, thụt vai, cúi đầu, lo âu, câm miệng, bèn nói với Tỷ-kheo Ariṭṭha, xưa làm nghề huấn luyện chim ưng
SC 26—Này kẻ ngu si kia, người ta sẽ được biết Ông qua ác tà kiến của chính Ông. Ở đây, Ta sẽ hỏi các Tỷ-kheo.
SC 27Rồi Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo
SC 28—Chư Tỷ-kheo, các Ông có hiểu pháp Ta thuyết giảng, giống như Tỷ-kheo Ariṭṭha, xưa làm nghề huấn luyện chim ưng này, không những đã xuyên tạc Ta vì đã tự chấp thủ sai lạc, mà còn tự phá hoại mình và gây nên nhiều tổn đức?
SC 29—Bạch Thế Tôn, không. Bạch Thế Tôn, Thế Tôn đã dùng nhiều pháp môn thuyết chướng đạo pháp; và những ai thọ dụng chúng, tự đủ bị chướng ngại. Thế Tôn đã thuyết các dục vui ít, khổ nhiều, não nhiều, do vậy nguy hiểm càng nhiều hơn, Thế Tôn đã thuyết các dục ví như khúc xương … (như trên) … Thế Tôn đã thuyết các dục ví như đầu rắn, vui ít, khổ nhiều, não nhiều và do vậy nguy hiểm càng nhiều hơn.
SC 30—Lành thay, chư Tỷ-kheo! Lành thay, chư Tỷ-kheo! Các Ông hiểu pháp Ta thuyết giảng như vậy. Chư Tỷ-kheo, Ta đã dùng nhiều pháp môn thuyết chướng đạo pháp, và những ai thọ dụng chúng, tự đủ bị chướng ngại. Ta đã thuyết các dục vui ít, khổ nhiều, não nhiều, và do vậy nguy hiểm càng nhiều hơn. Ta đã thuyết các dục ví như khúc xương … (như trên) … Ta đã thuyết các dục ví như đầu rắn, vui ít, khổ nhiều, não nhiều, và do vậy nguy hiểm càng nhiều hơn. Nhưng Tỷ-kheo Ariṭṭha, xưa làm nghề huấn luyện chim ưng, không những xuyên tạc Ta vì đã tự chấp thủ sai lạc mà còn tự phá hoại mình và tạo nên nhiều tổn đức, và như vậy sẽ đưa đến bất hạnh, đau khổ lâu ngày cho kẻ ngu si ấy.
SC 31Thật sự, này các Tỷ-kheo, sự kiện này không xảy ra, người ta có thể thọ dụng các dục ngoài các dục, ngoài các dục tưởng, ngoài các dục tầm.
(Ví dụ con rắn)
SC 32Chư Tỷ-kheo, ở đây có một số người ngu si học pháp, như Kinh, Ứng tụng, Giải thuyết, Kệ tụng, Cảm hứng ngữ, Như thị ngữ, Bổn sanh, Vị tằng hữu pháp, Phương quảng. Sau khi học các pháp này, họ không quán sát ý nghĩa những pháp ấy với trí tuệ. Những pháp ấy, vì ý nghĩa không được trí tuệ quán sát, nên không trở thành rõ ràng. Họ học các pháp chỉ vì lợi ích, muốn chỉ trích người khác, chỉ vì lợi ích, muốn khoái khẩu biện luận, và họ không đạt được mục tiêu mà sự học pháp hướng đến. Những pháp ấy vì nắm giữ sai lạc nên đưa họ đến bất hạnh, đau khổ lâu dài. Vì sao vậy? Này các Tỷ-kheo, vì nắm giữ sai lạc các pháp.
SC 33Chư Tỷ-kheo, ví như một người ưa muốn rắn nước, tìm cầu rắn nước, đi khắp chỗ để tìm rắn nước. Người đó thấy một con rắn nước lớn, và người đó bắt con rắn ấy ở lưng hay ở đuôi. Con rắn ấy có thể quay lại cắn người đó nơi tay, nơi cánh tay hay ở một phần nào khác của cơ thể, và người đó có thể do nhân này mà bị chết hay bị đau khổ gần như chết. Vì sao vậy? Chư Tỷ-kheo, vì nắm bắt con rắn một cách sai lạc. Cũng vậy này các Tỷ-kheo, ở đây, một số người ngu si học pháp … Chư Tỷ-kheo, vì sự chấp thủ các pháp sai lạc.
SC 34Ở đây, này các Tỷ-kheo, một số Thiện nam tử học pháp, như Kinh, Ứng tụng, Giải thuyết, Kệ tụng, Cảm hứng ngữ, Như thị ngữ, Bổn sanh, Vị tằng hữu pháp, Phương quảng. Sau khi học các pháp này, họ quán sát ý nghĩa những pháp ấy với trí tuệ. Những pháp ấy, vì ý nghĩa được trí tuệ quán sát, nên trở thành rõ ràng. Họ học pháp không vì lợi ích, muốn chỉ trích người khác, không vì lợi ích, muốn khoái khẩu biện luận, và họ đạt được mục tiêu mà sự học pháp hướng đến. Những pháp ấy, vì khéo nắm giữ, nên đưa họ đến hạnh phúc, an lạc lâu dài. Vì sao vậy? Này các Tỷ-kheo, vì khéo nắm giữ các pháp.
SC 35Chư Tỷ-kheo, ví như một người ưa muốn rắn nước, tìm cầu rắn nước đi khắp chỗ để tìm rắn nước. Người đó thấy một con rắn nước lớn. Người đó có thể khéo đè con rắn nước với cây gậy có nạng. Sau khi khéo đè với cây gậy có nạng, người đó có thể khéo nắm giữ cổ rắn. Chư Tỷ-kheo, dầu cho con rắn nước ấy có thể cuốn thân nó xung quanh tay, hay cánh tay, hay một thân phần nào khác, người đó cũng không vì nhân duyên ấy đi đến chỗ chết hay đến sự đau khổ gần như chết. Vì sao vậy? Chư Tỷ-kheo, vì khéo nắm giữ con rắn nước vậy.
SC 36Cũng vậy, chư Tỷ-kheo, ở đây, một số Thiện nam tử học pháp … chư Tỷ-kheo, vì khéo nắm giữ các pháp vậy. Do vậy, này các Tỷ-kheo, hãy hiểu rõ ý nghĩa lời Ta thuyết giảng và thọ trì như vậy. Nếu có ai không hiểu rõ ý nghĩa lời Ta thuyết giảng thì ở nơi đây, các Ông hãy hỏi Ta hay hỏi những bậc Tỷ-kheo trí thức.
(Ví dụ chiếc bè)
SC 37Chư Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng pháp cho các Ông, ví như chiếc bè để vượt qua, không phải để nắm giữ lấy. Hãy nghe và khéo tác ý, Ta sẽ giảng.
SC 38—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
SC 39Những Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn thuyết giảng như sau
SC 40—Này các Tỷ-kheo, ví như có người đang đi trên con đường lớn dài, đến một vùng nước rộng, bờ bên này nguy hiểm và hãi hùng, bờ bên kia an ổn và không kinh hãi, nhưng không có thuyền để vượt qua hay không có cầu bắc qua từ bờ này đến bờ kia. Người đó tự suy nghĩ: “Ðây là vùng nước rộng, bờ bên này nguy hiểm và hãi hùng, bờ bên kia an ổn và không kinh hãi, nhưng không có thuyền để vượt qua hay không có cầu bắc qua từ bờ này đến bờ kia. Nay ta hãy thâu góp cỏ, cây, nhánh, lá, cột lại thành chiếc bè, và dựa trên chiếc bè này, tinh tấn dùng tay chân, có thể vượt qua bờ bên kia một cách an toàn”. Chư Tỷ-kheo, rồi người đó thâu góp cỏ, cây, nhánh, lá cột lại thành chiếc bè, và nhờ chiếc bè này, tinh tấn dùng tay chân vượt qua bờ bên kia một cách an toàn. Khi qua bờ bên kia rồi, Người đó suy nghĩ: “Chiếc bè này lợi ích nhiều cho ta, nhờ chiếc bè này, ta tinh tấn dùng tay chân để vượt qua bờ bên kia một cách an toàn. Nay ta hãy đội chiếc bè này trên đầu hay vác nó trên vai, và đi đến chỗ nào ta muốn”. Chư Tỷ-kheo, các Ông nghĩ thế nào? Chư Tỷ-kheo, nếu người đó làm như vậy, thì có làm đúng với sở dụng của chiếc bè chăng?
—Bạch Thế Tôn, không.
SC 41—Chư Tỷ-kheo, người đó phải làm thế nào cho đúng sở dụng của chiếc bè? Ở đây, chư Tỷ-kheo, người đó sau khi vượt qua bờ bên kia, có thể suy nghĩ: “Chiếc bè này lợi ích nhiều cho ta. Nhờ chiếc bè này, ta tinh tấn dùng tay chân đã vượt qua bờ bên kia một cách an toàn. Nay ta hãy kéo chiếc bè này lên trên bờ đất khô, hay nhận chìm xuống nước, và đi đến chỗ nào ta muốn”. Chư Tỷ-kheo, làm như vậy, người đó làm đúng sở dụng chiếc bè ấy. Cũng vậy, này chư Tỷ-kheo, Ta thuyết pháp như chiếc bè để vượt qua, không phải để nắm giữ lấy.
SC 42Chư Tỷ-kheo, các Ông cần hiểu ví dụ cái bè. Chánh pháp còn phải bỏ đi, huống nữa là phi pháp.
(Các kiến xứ)
SC 43Này các Tỷ-kheo, có sáu kiến xứ. Thế nào là sáu? Ở đây, này các Tỷ-kheo, có kẻ vô văn phàm phu, không đi đến yết kiến các bậc Thánh, không thuần thục pháp các bậc Thánh, không tu tập pháp các bậc Thánh, không đi đến yết kiến các bậc Chơn nhơn, không thuần thục pháp các bậc Chơn nhơn, không tu tập pháp các bậc Chơn nhơn, xem sắc pháp: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”, xem cảm thọ: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”, xem tưởng: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”, xem các hành: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”, xem cái gì được thấy, được nghe, được cảm xúc, được ý thức, được đạt tới, được tìm cầu, được ý suy tư: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”, và bất cứ kiến xứ nào đều nói rằng: “Ðây là thế giới, đây là tự ngã, sau khi chết, tôi sẽ thường còn, thường hằng, thường trú, không biến chuyển, tôi sẽ trú như thế này cho đến mãi mãi”, xem như vậy là: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”.
SC 44Và này chư Tỷ-kheo, có vị Ða văn Thánh đệ tử đi đến yết kiến các bậc Thánh, thuần thục các pháp bậc Thánh, tu tập pháp các bậc Thánh, đi đến yết kiến các bậc Chơn nhơn, thuần thục pháp các bậc Chơn nhơn, tu tập pháp các bậc Chơn nhơn, xem sắc pháp: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”, xem cảm thọ: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”, xem tưởng: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”, xem các hành: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”, xem cái gì được thấy, được nghe, được cảm xúc, được ý thức, được đạt tới, được tìm cầu, được ý suy tư: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”, và bất cứ kiến xứ nào đều nói rằng: “Ðây là thế giới, đây là tự ngã, sau khi chết tôi sẽ thường còn, thường hằng, thường trú, không biến chuyển, tôi sẽ trú như thế này cho đến mãi mãi”, xem như vậy là: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”. Vị này do quán sát như vậy, đối với sự vật chẳng thật có nên không có lo âu, phiền muộn.
(Lo âu)
SC 45Ðược nghe nói vậy, một Tỷ-kheo khác bạch Thế Tôn
SC 46—Có thể có cái gì không thực có ở ngoài, có thể gây lo âu phiền muộn?
Thế Tôn đáp
SC 47—Có thể có, này Tỷ-kheo, ở đây, có người nghĩ như sau: “Cái gì chắc chắn đã là của tôi, nay chắc chắn không còn là của tôi. Cái gì chắc chắn có thể là của tôi, chắc chắn tôi không được cái ấy”. Người đó sầu muộn, than vãn, khóc lóc, đấm ngực, đi đến bất tỉnh. Này Tỷ-kheo, như vậy, có cái không thực có ở ngoài, có thể gây lo âu, phiền muộn.
SC 48—Bạch Thế Tôn, có thể có cái gì không thực có ở ngoài, có thể không gây lo âu phiền muộn?
Thế Tôn đáp
SC 49—Có thể có, này Tỷ-kheo, ở đây, này Tỷ-kheo, có người không nghĩ như sau: “Cái gì chắc chắn đã là của tôi, nay chắc chắn không còn là của tôi. Cái gì chắc chắn có thể là của tôi, chắc chắn tôi không được cái ấy”. Người đó không sầu muộn, than vãn, khóc lóc, không đấm ngực, không đi đến bất tỉnh. Như vậy, này Tỷ-kheo, có cái không thực có ở ngoài, không gây lo âu phiền muộn.
SC 50—Bạch Thế Tôn, có thể có cái gì không thực có ở trong có thể gây ra lo âu phiền muộn?
Thế Tôn đáp
SC 51—Có thể có, này Tỷ-kheo, ở đây, này Tỷ-kheo, có người có (tà) kiến như sau: “Ðây là thế giới, đây là tự ngã, sau khi chết, tôi sẽ thường còn, thường hằng, thường trú không biến chuyển. Tôi sẽ trú như thế này cho đến mãi mãi”. Người này nghe Như Lai hay đệ tử Như Lai thuyết pháp để bạt trừ tất cả kiến xứ, cố chấp, thiên chấp, thiên kiến, tùy miên, sự tịnh chỉ mọi hành động, sự từ bỏ mọi sanh y, sự diệt trừ khát ái đưa đến ly tham, đoạn diệt, Niết-bàn. Người đó có thể nghĩ như sau: “Chắc chắn ta sẽ bị đoạn diệt, chắc chắn ta sẽ bị hoại diệt, chắc chắn ta sẽ không tồn tại”. Người đó sầu muộn, than vãn, khóc lóc, đấm ngực, đi đến bất tỉnh. Này Tỷ-kheo, như vậy là có cái không thực có ở trong có thể gây ra lo âu phiền muộn.
SC 52—Bạch Thế Tôn, có thể có cái gì không thực có ở trong, không gây ra lo âu, phiền muộn?
Thế Tôn đáp
SC 53—Có thể có, này Tỷ-kheo, ở đây, có người không có (tà) kiến như sau: “Ðây là thế giới, đây là tự ngã, sau khi chết, tôi sẽ thường còn, thường hằng, thường trú, không biến chuyển, tôi sẽ trú như thế này cho đến mãi mãi”. Người này nghe Như Lai hay đệ tử Như Lai thuyết pháp để bạt trừ tất cả kiến xứ, cố chấp, thiên chấp, thiên kiến, tùy miên, sự tịnh chi mọi hành động, sự từ bỏ mọi sanh y, sự diệt trừ khát ái để đưa đến ly tham, đoạn diệt, Niết-bàn. Vị ấy không nghĩ như sau: “Chắc chắn ta sẽ bị đoạn diệt, chắc chắn ta sẽ bị hoại diệt, chắc chắn ta sẽ không tồn tại”. Vị ấy không sầu muộn, than vãn, khóc lóc; vị ấy không đấm ngực, không đi đến bất tỉnh. Này các Tỷ-kheo, như vậy là có cái không thực có ở trong, không gây ra lo âu, phiền muộn.
(Vô thường và vô ngã)
SC 54Này các Tỷ-kheo, các Ông có thể nắm giữ một vật sở hữu gì, và vật sở hữu được nắm giữ ấy sẽ thường còn, thường hằng, thường trú, không chuyển biến, có thể trú như thế này mãi mãi không? Chư Tỷ-kheo, các Ông có thể thấy một vật sở hữu nào được nắm giữ và vật sở hữu được nắm giữ ấy sẽ thường còn, thường hằng, thường trú, không chuyển biến, có thể trú như thế này mãi mãi không?
—Bạch Thế Tôn, không.
SC 55—Lành thay, này các Tỷ-kheo. Này các Tỷ-kheo, Ta cũng không thấy một vật sở hữu được nắm giữ nào, mà vật sở hữu được nắm giữ ấy sẽ thường còn, thường hằng, thường trú, không chuyển biến, có thể trú như thế này mãi mãi. Này các Tỷ-kheo, các Ông có thể chấp thủ Ngã luận thủ nào mà Ngã luận thủ ấy được chấp thủ như vậy lại không khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não không? Này các Tỷ-kheo, các Ông có thấy Ngã luận thủ nào mà Ngã luận thủ ấy được chấp thủ như vậy lại không khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não không?
—Bạch Thế Tôn không.
SC 56—Lành thay, này các Tỷ-kheo. Này các Tỷ-kheo, Ta cũng không thấy Ngã luận thủ nào mà Ngã luận thủ ấy được chấp thủ như vậy lại không khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não. Này các Tỷ-kheo, các Ông có kiến y nào, mà kiến y ấy được y chỉ như vậy lại không khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não không? Này các Tỷ-kheo, các Ông có thấy kiến y nào, mà kiến y ấy được y chỉ như vậy lại không khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não không?
—Bạch Thế Tôn, không
SC 57—Lành thay, này các Tỷ-kheo! Này các Tỷ-kheo, Ta cũng không thấy một kiến y nào, mà kiến y ấy được y chỉ như vậy, lại không khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não. Chư Tỷ-kheo, nếu có ngã thời có ngã sở thuộc của tôi không?
—Bạch Thế Tôn, có.
SC 58—Chư Tỷ-kheo, nếu có ngã sở thuộc, thời có ngã của tôi không?
—Bạch Thế Tôn, có.
SC 59—Chư Tỷ-kheo, nếu ngã và ngã sở thuộc không thể được chấp nhận là thường còn, thường hằng, thì kiến xứ này: “Ðây là thế giới, đây là tự ngã, sau khi chết tôi sẽ thành thường còn, thường hằng, thường trú, không biến chuyển, tôi sẽ trú như thế này cho đến mãi mãi”. Này các Tỷ-kheo, kiến xứ ấy là hoàn toàn, triệt để chẳng ngu si không?
SC 60—Bạch Thế Tôn, làm sao có thể hoàn toàn, triệt để chẳng ngu si được!
SC 61—Này các Tỷ-kheo, các Ông nghĩ thế nào? Sắc là thường hay vô thường?
SC 62—Bạch Thế Tôn, vô thường.
SC 63—Cái gì vô thường là khổ hay lạc?
—Bạch Thế Tôn, khổ.
SC 64—Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, thì có hợp lý chăng khi chánh quán cái ấy là: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”?
—Bạch Thế Tôn, không.
SC 65—Chư Tỷ-kheo, cảm thọ là thường hay vô thường?
SC 66—Bạch Thế Tôn, là vô thường.
SC 67—Cái gì vô thường là khổ hay lạc?
SC 68—Bạch Thế Tôn, là khổ.
SC 69—Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại thì có hợp lý chăng khi chánh quán cái ấy là: “Cái này là của tôi … tự ngã của tôi”?
—Bạch Thế Tôn, không.
SC 70—Chư Tỷ-kheo, tưởng là thường hay vô thường?
SC 71—Bạch Thế Tôn, vô thường.
—Cái gì vô thường…?
—Bạch Thế Tôn, không.
SC 72—Chư Tỷ-kheo, các hành là thường hay vô thường … chư Tỷ-kheo, thức là thường hay vô thường?
SC 73—Bạch Thế Tôn, vô thường.
SC 74—Cái gì vô thường là khổ hay lạc?
—Bạch Thế Tôn, khổ.
SC 75- Cái gì vô thường, khổ thì có hợp lý chăng, khi chánh quán cái ấy là: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”?
—Bạch Thế Tôn, không.
SC 76—Do vậy, này các Tỷ-kheo, bất cứ các sắc pháp nào, quá khứ, tương lai, hiện tại, nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần; tất cả sắc pháp là: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”, cần phải như thật quán với chánh trí tuệ. Bất cứ cảm thọ nào … Bất cứ tưởng nào … Bất cứ hành nào … Bất cứ thức nào, quá khứ, vị lai, hiện tại, nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần, tất cả thức là: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”, cần phải như thật quán với chánh trí tuệ.
SC 77Chư Tỷ-kheo, nhờ thấy vậy, vị Ða văn Thánh đệ tử yểm ly đối với sắc, yểm ly đối với thọ, yểm ly đối với tưởng, yểm ly đối với hành, yểm ly đối với thức, do yểm ly nên ly tham, do ly tham, nên được giải thoát, trong sự giải thoát có trí khởi lên, biết được đã giải thoát. Vị ấy biết: “Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, những gì nên làm đã làm, không còn trở lui tại đây với một đời sống khác”.
(Bậc A-la-hán)
SC 78Chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy được gọi là vị đã vất bỏ đi các chướng ngại vật, là vị đã lấp đầy các thông hào, là vị đã nhổ lên cột trụ, là vị đã mở tung các lề khóa, là bậc Thánh đã hạ cây cờ xuống, đã đặt gánh nặng xuống, không có gì hệ lụy.
SC 79Và thế nào là Tỷ-kheo đã vất bỏ đi các chướng ngại? Ở đây, này các Tỷ-kheo, là đã đoạn trừ vô minh, cắt tận gốc rễ, làm cho như cây ta-la bị chặt đầu, khiến không thể tái sanh trong tương lai, không có khả năng sanh khởi. Chư Tỷ-kheo, như vậy là Tỷ-kheo đã vất bỏ đi các chướng ngại.
SC 80Này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo đã lấp đầy các thông hào? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đã đoạn trừ tái sanh và sự luân chuyển sanh tử, đã cắt tận gốc rễ, làm cho như cây ta-la bị chặt đầu, khiến không thể tái sanh trong tương lai, không có khả năng sanh khởi. Chư Tỷ-kheo, như vậy là Tỷ-kheo đã lấp đầy thông hào.
SC 81Này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo đã nhổ lên cột trụ? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đã đoạn trừ khát ái, đã cắt tận gốc rễ, làm cho như cây ta-la bị chặt đầu, khiến không thể tái sanh trong tương lai, không có khả năng sanh khởi. Chư Tỷ-kheo, như vậy là Tỷ-kheo đã nhổ lên cột trụ.
SC 82Này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo đã mở tung các lề khóa? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đã đoạn trừ năm hạ phần kiết sử, đã cắt tận gốc rễ, làm cho như cây ta-la bị chặt đầu, khiến không thể tái sanh trong tương lai, không có khả năng sanh khởi. Chư Tỷ-kheo, như vậy là Tỷ-kheo đã mở tung các lề khóa.
SC 83Này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo bậc Thánh, đã hạ cây cờ xuống, đã đặt gánh nặng xuống, không có gì hệ lụy? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đã đoạn trừ ngã mạn, đã cắt tận gốc rễ, làm cho như cây ta-la bị chặt đầu, khiến không thể tái sanh trong tương lai, không có khả năng sanh khởi. Chư Tỷ-kheo, như vậy là vị Tỷ-kheo bậc Thánh, đã hạ cây cờ xuống, đã đặt gánh nặng xuống, không có gì hệ lụy.
SC 84Chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đã giải thoát như vậy, thì chư Thiên ở Ðế thích Thiên giới, Phạm thiên giới, Sanh chủ giới sẽ không tìm được dấu vết của Tỷ-kheo ấy, nếu nghĩ rằng: “Y ở đây, có thức của Như Lai”. Vì sao vậy? Chư Tỷ-kheo, Ta nói ngay ở hiện tại, một Như Lai không thể tìm thấy dấu vết”.
(Xuyên tạc Như Lai)
SC 85Chư Tỷ-kheo, Ta nói như vậy, thuyết như vậy, một số Sa-môn, Bà-la-môn xuyên tạc Ta một cách phi chơn, hồ đồ, hư vọng, không thực: “Sa-môn Gotama chủ trương chủ nghĩa hư vô, đề cao đoạn diệt, hủy diệt, sự tiêu diệt các hữu tình”. Nhưng này các Tỷ-kheo, Ta không là như vậy, Ta không nói như vậy, Ta không như các Sa-môn, Bà-la-môn ấy đã xuyên tạc một cách phi chơn, hồ đồ, hư vọng, không thật: “Sa-môn Gotama chủ trương chủ nghĩa hư vô, đề cao đoạn diệt, hủy diệt, sự tiêu diệt các hữu tình”.
SC 86Chư Tỷ-kheo, xưa cũng như nay, Ta chỉ nói lên sự khổ và sự diệt khổ. Chư Tỷ-kheo, nếu ở đây những người khác nhiếc mắng, phỉ báng, làm cho Như Lai tức giận, thì này các Tỷ-kheo, ở đây, Như Lai không có sân hận, không có bất mãn, tâm không phẫn nộ. Chư Tỷ-kheo, nếu ở đây, những người khác cung kính, tôn trọng, lễ bái, cúng dường Như Lai, thì này các Tỷ-kheo, ở đây Như Lai không có hoan hỷ, sung sướng, Tâm không thích thú. Chư Tỷ-kheo, nếu những người khác cung kính, tôn trọng, lễ bái, cúng dường Như Lai, thì này các Tỷ-kheo, ở đây Như Lai suy nghĩ: “Ðây là điều xưa kia đã từng biết rõ: ở đây là trách nhiệm Ta phải làm”.
SC 87Do vậy, này các Tỷ-kheo, nếu có những người khác nhiếc mắng, phỉ báng, làm cho các Ông tức giận, ở đây các Ông chớ có sân hận, bất mãn, tâm chớ khởi phẫn nộ. Do vậy, này các Tỷ-kheo, nếu có những người khác cung kính, tôn trọng, lễ bái cúng dường các Ông, thì ở đây, các Ông chớ có hoan hỷ, sung sướng, tâm sanh thích thú. Do vậy, này các Tỷ-kheo, nếu có những người khác cung kính, tôn trọng, lễ bái cúng dường các Ông, thì ở đây, các Ông hãy suy nghĩ: “Ðây là điều xưa kia đã từng biết rõ, đây là những trách nhiệm ta phải làm”.
(Không sở hữu)
SC 88Do vậy, này các Tỷ-kheo, cái gì không phải của các Ông, các Ông hãy từ bỏ. Các Ông từ bỏ, sẽ đưa lại hạnh phúc, an lạc lâu dài cho các Ông. Chư Tỷ-kheo, cái gì không phải của các Ông? Chư Tỷ-kheo, sắc không phải của các Ông, hãy từ bỏ sắc. Các Ông từ bỏ sắc sẽ đưa lại hạnh phúc, an lạc lâu dài cho các Ông. Chư Tỷ-kheo, thọ không phải của các Ông, hãy từ bỏ thọ. Các Ông từ bỏ thọ sẽ đưa lại hạnh phúc, an lạc lâu dài cho các Ông. Chư Tỷ-kheo, tưởng không phải của các Ông, hãy từ bỏ tưởng. Các Ông từ bỏ tưởng sẽ đem lại hạnh phúc, an lạc lâu dài cho các Ông. Chư Tỷ-kheo, các hành không phải của các Ông, hãy từ bỏ các hành. Các Ông từ bỏ các hành sẽ đem lại hạnh phúc, an lạc lâu dài cho các Ông. Chư Tỷ-kheo, thức không phải của các Ông, hãy từ bỏ thức. Các Ông từ bỏ thức sẽ đem lại hạnh phúc, an lạc lâu dài cho các Ông.
SC 89Chư Tỷ-kheo, các Ông nghĩ thế nào? Trong rừng Jetavana này, nếu có người thâu lượm cỏ, cây, nhành, lá rồi đốt hay làm với chúng tùy theo ý muốn, các Ông có nghĩ chăng? Người ấy thâu lượm chúng ta, đốt chúng ta hay làm với chúng ta tùy theo ý muốn?
SC 90—Bạch Thế Tôn, không. Vì sao vậy? Bạch Thế Tôn, vì nó không phải tự ngã hay không phải sở thuộc của ngã.
SC 91—Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, cái gì không phải của các Ông, các Ông hãy từ bỏ. Các Ông từ bỏ sẽ đưa lại hạnh phúc, an lạc lâu dài cho các Ông. Chư Tỷ-kheo, và cái gì không phải của các Ông? Chư Tỷ-kheo, sắc không phải của các Ông, hãy từ bỏ sắc. Các Ông từ bỏ sắc sẽ đưa lại hạnh phúc, an lạc lâu dài cho các Ông. Chư Tỷ-kheo, thọ … (như trên) … Chư Tỷ-kheo tưởng … (như trên) … Chư Tỷ-kheo, hành … Chư Tỷ-kheo, thức không phải của các Ông, hãy từ bỏ thức. Các Ông từ bỏ thức sẽ đem lại hạnh phúc, an lạc lâu dài cho các Ông.
(Pháp khéo giảng)
SC 92Chư Tỷ-kheo, như vậy, pháp được Ta khéo giảng, làm cho tỏ lộ, làm cho khai thông, làm cho khai thị, được loại trừ các vải quấn cũ. Chư Tỷ-kheo, vì pháp được Ta khéo giảng, làm tỏ lộ, làm cho khai thông, làm cho khai thị, được loại trừ các vải quấn cũ, nên những vị Tỷ-kheo, là bậc A-la-hán, các lậu hoặc đã tận, tu hành thành mãn, việc nên làm đã làm, gánh nặng đã đặt xuống, lý tưởng đã thành đạt, hữu kiết sử đã đoạn trừ, được giải thoát nhờ chánh trí, vòng luân chuyển (sanh tử) của những vị này không thể chỉ bày.
SC 93Chư Tỷ-kheo, như vậy, pháp được Ta khéo giảng … được loại trừ các vải quấn cũ. Chư Tỷ-kheo, vì pháp được Ta khéo giảng, được loại trừ các vải quấn cũ, nên những Tỷ-kheo nào đã đoạn trừ năm hạ phần kiết sử, thì những vị này thành các vị hóa sanh, nhập diệt tại đây, không còn phải trở lui vào đời này nữa.
SC 94Chư Tỷ-kheo, như vậy, pháp được Ta khéo giảng … được loại trừ các vãi quấn cũ. Chư Tỷ-kheo, vì pháp được Ta khéo giảng … được loại trừ các vải quấn cũ, nên những Tỷ-kheo nào đã đoạn trừ ba kiết sử, đã làm cho muội lược tham sân si, thì tất cả những vị ấy thành bậc Nhất lai, chỉ đến đời này một lần nữa sẽ diệt tận khổ đau.
SC 95Chư Tỷ-kheo, như vậy, pháp được Ta khéo giảng … được loại trừ các vãi quấn cũ. Chư Tỷ-kheo, vì pháp được Ta khéo giảng … được loại trừ các vải quấn cũ, nên những Tỷ-kheo nào đoạn trừ ba kiết sử, thì tất cả những vị ấy trở thành bậc Dự lưu, không còn bị đọa lạc ác thú, quyết định hướng đến chánh giác.
SC 96Chư Tỷ-kheo, như vậy, pháp được Ta khéo giảng … được loại trừ các vải quấn cũ. Chư Tỷ-kheo, vì pháp được ta khéo giảng … được loại trừ các vải quấn cũ, nên những Tỷ-kheo nào là những vị tùy pháp hành, tùy tín hành, thì tất cả những vị này sẽ hướng về chánh giác.
SC 97Chư Tỷ-kheo, như vậy pháp được Ta khéo giảng … được loại trừ khỏi các vải quấn cũ. Chư Tỷ-kheo, vì pháp được Ta khéo giảng, làm cho tỏ lộ, làm cho khai thông, làm cho khai thị, được loại trừ các vải quấn cũ, nên những vị nào chỉ đủ lòng tin nơi Ta, chỉ đủ lòng thương mến đối với Ta, thì tất cả những vị ấy được hướng về chư Thiên.
SC 98Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Những Tỷ-kheo ấy hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy.
Evaṁ me sutaṁ—
ekaṁ samayaṁ bhagavā sāvatthiyaṁ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme.
Tena kho pana samayena ariṭṭhassa nāma bhikkhuno gaddhabādhipubbassa evarūpaṁ pāpakaṁ diṭṭhigataṁ uppannaṁ hoti:
“tathāhaṁ bhagavatā dhammaṁ desitaṁ ājānāmi yathā yeme antarāyikā dhammā vuttā bhagavatā te paṭisevato nālaṁ antarāyāyā”ti.
Assosuṁ kho sambahulā bhikkhū:
“ariṭṭhassa kira nāma bhikkhuno gaddhabādhipubbassa evarūpaṁ pāpakaṁ diṭṭhigataṁ uppannaṁ:
‘tathāhaṁ bhagavatā dhammaṁ desitaṁ ājānāmi yathā yeme antarāyikā dhammā vuttā bhagavatā te paṭisevato nālaṁ antarāyāyā’”ti.
Atha kho te bhikkhū yena ariṭṭho bhikkhu gaddhabādhipubbo tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā ariṭṭhaṁ bhikkhuṁ gaddhabādhipubbaṁ etadavocuṁ:
“saccaṁ kira te, āvuso ariṭṭha, evarūpaṁ pāpakaṁ diṭṭhigataṁ uppannaṁ:
‘tathāhaṁ bhagavatā dhammaṁ desitaṁ ājānāmi yathā yeme antarāyikā dhammā vuttā bhagavatā te paṭisevato nālaṁ antarāyāyā’”ti.
“Evaṁ byā kho ahaṁ, āvuso, bhagavatā dhammaṁ desitaṁ ājānāmi yathā yeme antarāyikā dhammā vuttā bhagavatā te paṭisevato nālaṁ antarāyāyā”ti.
Atha kho tepi bhikkhū ariṭṭhaṁ bhikkhuṁ gaddhabādhipubbaṁ etasmā pāpakā diṭṭhigatā vivecetukāmā samanuyuñjanti samanugāhanti samanubhāsanti:
“mā hevaṁ, āvuso ariṭṭha, avaca, mā bhagavantaṁ abbhācikkhi; na hi sādhu bhagavato abbhakkhānaṁ, na hi bhagavā evaṁ vadeyya.
Anekapariyāyenāvuso ariṭṭha, antarāyikā dhammā antarāyikā vuttā bhagavatā, alañca pana te paṭisevato antarāyāya.
Appassādā kāmā vuttā bhagavatā bahudukkhā bahupāyāsā, ādīnavo ettha bhiyyo.
Aṭṭhikaṅkalūpamā kāmā vuttā bhagavatā …
maṁsapesūpamā kāmā vuttā bhagavatā …
tiṇukkūpamā kāmā vuttā bhagavatā …
aṅgārakāsūpamā kāmā vuttā bhagavatā …
supinakūpamā kāmā vuttā bhagavatā …
yācitakūpamā kāmā vuttā bhagavatā …
rukkhaphalūpamā kāmā vuttā bhagavatā …
asisūnūpamā kāmā vuttā bhagavatā …
sattisūlūpamā kāmā vuttā bhagavatā …
sappasirūpamā kāmā vuttā bhagavatā bahudukkhā bahupāyāsā, ādīnavo ettha bhiyyo”ti.
Evampi kho ariṭṭho bhikkhu gaddhabādhipubbo tehi bhikkhūhi samanuyuñjiyamāno samanugāhiyamāno samanubhāsiyamāno tadeva pāpakaṁ diṭṭhigataṁ thāmasā parāmāsā abhinivissa voharati:
“evaṁ byā kho ahaṁ, āvuso, bhagavatā dhammaṁ desitaṁ ājānāmi yathā yeme antarāyikā dhammā vuttā bhagavatā te paṭisevato nālaṁ antarāyāyā”ti.
Yato kho te bhikkhū nāsakkhiṁsu ariṭṭhaṁ bhikkhuṁ gaddhabādhipubbaṁ etasmā pāpakā diṭṭhigatā vivecetuṁ, atha kho te bhikkhū yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Ekamantaṁ nisinnā kho te bhikkhū bhagavantaṁ etadavocuṁ:
“ariṭṭhassa nāma, bhante, bhikkhuno gaddhabādhipubbassa evarūpaṁ pāpakaṁ diṭṭhigataṁ uppannaṁ:
‘tathāhaṁ bhagavatā dhammaṁ desitaṁ ājānāmi yathā yeme antarāyikā dhammā vuttā bhagavatā te paṭisevato nālaṁ antarāyāyā’ti.
Assumha kho mayaṁ, bhante:
‘ariṭṭhassa kira nāma bhikkhuno gaddhabādhipubbassa evarūpaṁ pāpakaṁ diṭṭhigataṁ uppannaṁ—
tathāhaṁ bhagavatā dhammaṁ desitaṁ ājānāmi yathā yeme antarāyikā dhammā vuttā bhagavatā te paṭisevato nālaṁ antarāyāyā’ti.
Atha kho mayaṁ, bhante, yena ariṭṭho bhikkhu gaddhabādhipubbo tenupasaṅkamimha; upasaṅkamitvā ariṭṭhaṁ bhikkhuṁ gaddhabādhipubbaṁ etadavocumha:
‘saccaṁ kira te, āvuso ariṭṭha, evarūpaṁ pāpakaṁ diṭṭhigataṁ uppannaṁ—
tathāhaṁ bhagavatā dhammaṁ desitaṁ ājānāmi yathā yeme antarāyikā dhammā vuttā bhagavatā te paṭisevato nālaṁ antarāyāyā’ti?
Evaṁ vutte, bhante, ariṭṭho bhikkhu gaddhabādhipubbo amhe etadavoca:
‘evaṁ byā kho ahaṁ, āvuso, bhagavatā dhammaṁ desitaṁ ājānāmi yathā yeme antarāyikā dhammā vuttā bhagavatā te paṭisevato nālaṁ antarāyāyā’ti.
Atha kho mayaṁ, bhante, ariṭṭhaṁ bhikkhuṁ gaddhabādhipubbaṁ etasmā pāpakā diṭṭhigatā vivecetukāmā samanuyuñjimha samanugāhimha samanubhāsimha:
‘mā hevaṁ, āvuso ariṭṭha, avaca, mā bhagavantaṁ abbhācikkhi; na hi sādhu bhagavato abbhakkhānaṁ, na hi bhagavā evaṁ vadeyya.
Anekapariyāyenāvuso ariṭṭha, antarāyikā dhammā antarāyikā vuttā bhagavatā, alañca pana te paṭisevato antarāyāya.
Appassādā kāmā vuttā bhagavatā bahudukkhā bahupāyāsā, ādīnavo ettha bhiyyo.
Aṭṭhikaṅkalūpamā kāmā vuttā bhagavatā …pe…
sappasirūpamā kāmā vuttā bhagavatā bahudukkhā bahupāyāsā, ādīnavo ettha bhiyyo’ti.
Evampi kho, bhante, ariṭṭho bhikkhu gaddhabādhipubbo amhehi samanuyuñjiyamāno samanugāhiyamāno samanubhāsiyamāno tadeva pāpakaṁ diṭṭhigataṁ thāmasā parāmāsā abhinivissa voharati:
‘evaṁ byā kho ahaṁ, āvuso, bhagavatā dhammaṁ desitaṁ ājānāmi yathā yeme antarāyikā dhammā vuttā bhagavatā te paṭisevato nālaṁ antarāyāyā’ti.
Yato kho mayaṁ, bhante, nāsakkhimha ariṭṭhaṁ bhikkhuṁ gaddhabādhipubbaṁ etasmā pāpakā diṭṭhigatā vivecetuṁ, atha mayaṁ etamatthaṁ bhagavato ārocemā”ti.
Atha kho bhagavā aññataraṁ bhikkhuṁ āmantesi:
“ehi tvaṁ, bhikkhu, mama vacanena ariṭṭhaṁ bhikkhuṁ gaddhabādhipubbaṁ āmantehi:
‘satthā taṁ, āvuso ariṭṭha, āmantetī’”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho so bhikkhu bhagavato paṭissutvā, yena ariṭṭho bhikkhu gaddhabādhipubbo tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā ariṭṭhaṁ bhikkhuṁ gaddhabādhipubbaṁ etadavoca:
“satthā taṁ, āvuso ariṭṭha, āmantetī”ti.
“Evamāvuso”ti kho ariṭṭho bhikkhu gaddhabādhipubbo tassa bhikkhuno paṭissutvā yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnaṁ kho ariṭṭhaṁ bhikkhuṁ gaddhabādhipubbaṁ bhagavā etadavoca:
“saccaṁ kira te, ariṭṭha, evarūpaṁ pāpakaṁ diṭṭhigataṁ uppannaṁ:
‘tathāhaṁ bhagavatā dhammaṁ desitaṁ ājānāmi yathā yeme antarāyikā dhammā vuttā bhagavatā te paṭisevato nālaṁ antarāyāyā’”ti?
“Evaṁ byā kho ahaṁ, bhante, bhagavatā dhammaṁ desitaṁ ājānāmi: ‘yathā yeme antarāyikā dhammā vuttā bhagavatā te paṭisevato nālaṁ antarāyāyā’”ti.
“Kassa kho nāma tvaṁ, moghapurisa, mayā evaṁ dhammaṁ desitaṁ ājānāsi?
Nanu mayā, moghapurisa, anekapariyāyena antarāyikā dhammā antarāyikā vuttā? Alañca pana te paṭisevato antarāyāya.
Appassādā kāmā vuttā mayā, bahudukkhā bahupāyāsā, ādīnavo ettha bhiyyo.
Aṭṭhikaṅkalūpamā kāmā vuttā mayā …
maṁsapesūpamā kāmā vuttā mayā …
tiṇukkūpamā kāmā vuttā mayā …
aṅgārakāsūpamā kāmā vuttā mayā …
supinakūpamā kāmā vuttā mayā …
yācitakūpamā kāmā vuttā mayā …
rukkhaphalūpamā kāmā vuttā mayā …
asisūnūpamā kāmā vuttā mayā …
sattisūlūpamā kāmā vuttā mayā …
sappasirūpamā kāmā vuttā mayā, bahudukkhā bahupāyāsā, ādīnavo ettha bhiyyo.
Atha ca pana tvaṁ, moghapurisa, attanā duggahitena amhe ceva abbhācikkhasi, attānañca khanasi, bahuñca apuññaṁ pasavasi.
Tañhi te, moghapurisa, bhavissati dīgharattaṁ ahitāya dukkhāyā”ti.
Atha kho bhagavā bhikkhū āmantesi:
“Taṁ kiṁ maññatha, bhikkhave,
api nāyaṁ ariṭṭho bhikkhu gaddhabādhipubbo usmīkatopi imasmiṁ dhammavinaye”ti?
“Kiñhi siyā, bhante;
no hetaṁ, bhante”ti.
Evaṁ vutte, ariṭṭho bhikkhu gaddhabādhipubbo tuṇhībhūto maṅkubhūto pattakkhandho adhomukho pajjhāyanto appaṭibhāno nisīdi.
Atha kho bhagavā ariṭṭhaṁ bhikkhuṁ gaddhabādhipubbaṁ tuṇhībhūtaṁ maṅkubhūtaṁ pattakkhandhaṁ adhomukhaṁ pajjhāyantaṁ appaṭibhānaṁ viditvā ariṭṭhaṁ bhikkhuṁ gaddhabādhipubbaṁ etadavoca:
“paññāyissasi kho tvaṁ, moghapurisa, etena sakena pāpakena diṭṭhigatena.
Idhāhaṁ bhikkhū paṭipucchissāmī”ti.
Atha kho bhagavā bhikkhū āmantesi:
“tumhepi me, bhikkhave, evaṁ dhammaṁ desitaṁ ājānātha yathāyaṁ ariṭṭho bhikkhu gaddhabādhipubbo attanā duggahitena amhe ceva abbhācikkhati, attānañca khanati, bahuñca apuññaṁ pasavatī”ti?
“No hetaṁ, bhante.
Anekapariyāyena hi no, bhante, antarāyikā dhammā antarāyikā vuttā bhagavatā;
alañca pana te paṭisevato antarāyāya.
Appassādā kāmā vuttā bhagavatā bahudukkhā bahupāyāsā, ādīnavo ettha bhiyyo.
Aṭṭhikaṅkalūpamā kāmā vuttā bhagavatā …pe…
sappasirūpamā kāmā vuttā bhagavatā bahudukkhā bahupāyāsā, ādīnavo ettha bhiyyo”ti.
“Sādhu sādhu, bhikkhave, sādhu, kho me tumhe, bhikkhave, evaṁ dhammaṁ desitaṁ ājānātha.
Anekapariyāyena hi kho, bhikkhave, antarāyikā dhammā vuttā mayā, alañca pana te paṭisevato antarāyāya.
Appassādā kāmā vuttā mayā, bahudukkhā bahupāyāsā, ādīnavo ettha bhiyyo.
Aṭṭhikaṅkalūpamā kāmā vuttā mayā …pe…
sappasirūpamā kāmā vuttā mayā, bahudukkhā bahupāyāsā, ādīnavo ettha bhiyyo.
Atha ca panāyaṁ ariṭṭho bhikkhu gaddhabādhipubbo attanā duggahitena amhe ceva abbhācikkhati, attānañca khanati, bahuñca apuññaṁ pasavati.
Tañhi tassa moghapurisassa bhavissati dīgharattaṁ ahitāya dukkhāya.
So vata, bhikkhave, aññatreva kāmehi aññatra kāmasaññāya aññatra kāmavitakkehi kāme paṭisevissatīti—netaṁ ṭhānaṁ vijjati.
Idha, bhikkhave, ekacce moghapurisā dhammaṁ pariyāpuṇanti—
suttaṁ, geyyaṁ, veyyākaraṇaṁ, gāthaṁ, udānaṁ, itivuttakaṁ, jātakaṁ, abbhutadhammaṁ, vedallaṁ.
Te taṁ dhammaṁ pariyāpuṇitvā tesaṁ dhammānaṁ paññāya atthaṁ na upaparikkhanti.
Tesaṁ te dhammā paññāya atthaṁ anupaparikkhataṁ na nijjhānaṁ khamanti.
Te upārambhānisaṁsā ceva dhammaṁ pariyāpuṇanti itivādappamokkhānisaṁsā ca.
Yassa catthāya dhammaṁ pariyāpuṇanti tañcassa atthaṁ nānubhonti.
Tesaṁ te dhammā duggahitā dīgharattaṁ ahitāya dukkhāya saṁvattanti.
Taṁ kissa hetu?
Duggahitattā, bhikkhave, dhammānaṁ.
Seyyathāpi, bhikkhave, puriso alagaddatthiko alagaddagavesī alagaddapariyesanaṁ caramāno.
So passeyya mahantaṁ alagaddaṁ.
Tamenaṁ bhoge vā naṅguṭṭhe vā gaṇheyya.
Tassa so alagaddo paṭiparivattitvā hatthe vā bāhāya vā aññatarasmiṁ vā aṅgapaccaṅge ḍaṁseyya.
So tatonidānaṁ maraṇaṁ vā nigaccheyya maraṇamattaṁ vā dukkhaṁ.
Taṁ kissa hetu?
Duggahitattā, bhikkhave, alagaddassa.
Evameva kho, bhikkhave, idhekacce moghapurisā dhammaṁ pariyāpuṇanti—
suttaṁ, geyyaṁ, veyyākaraṇaṁ, gāthaṁ, udānaṁ, itivuttakaṁ, jātakaṁ, abbhutadhammaṁ, vedallaṁ.
Te taṁ dhammaṁ pariyāpuṇitvā tesaṁ dhammānaṁ paññāya atthaṁ na upaparikkhanti.
Tesaṁ te dhammā paññāya atthaṁ anupaparikkhataṁ na nijjhānaṁ khamanti.
Te upārambhānisaṁsā ceva dhammaṁ pariyāpuṇanti itivādappamokkhānisaṁsā ca.
Yassa catthāya dhammaṁ pariyāpuṇanti tañcassa atthaṁ nānubhonti.
Tesaṁ te dhammā duggahitā dīgharattaṁ ahitāya dukkhāya saṁvattanti.
Taṁ kissa hetu?
Duggahitattā, bhikkhave, dhammānaṁ.
Idha pana, bhikkhave, ekacce kulaputtā dhammaṁ pariyāpuṇanti—
suttaṁ, geyyaṁ, veyyākaraṇaṁ, gāthaṁ, udānaṁ, itivuttakaṁ, jātakaṁ, abbhutadhammaṁ, vedallaṁ.
Te taṁ dhammaṁ pariyāpuṇitvā tesaṁ dhammānaṁ paññāya atthaṁ upaparikkhanti.
Tesaṁ te dhammā paññāya atthaṁ upaparikkhataṁ nijjhānaṁ khamanti.
Te na ceva upārambhānisaṁsā dhammaṁ pariyāpuṇanti na itivādappamokkhānisaṁsā ca.
Yassa catthāya dhammaṁ pariyāpuṇanti tañcassa atthaṁ anubhonti.
Tesaṁ te dhammā suggahitā dīgharattaṁ hitāya sukhāya saṁvattanti.
Taṁ kissa hetu?
Suggahitattā bhikkhave dhammānaṁ.
Seyyathāpi, bhikkhave, puriso alagaddatthiko alagaddagavesī alagaddapariyesanaṁ caramāno.
So passeyya mahantaṁ alagaddaṁ.
Tamenaṁ ajapadena daṇḍena suniggahitaṁ niggaṇheyya.
Ajapadena daṇḍena suniggahitaṁ niggahitvā, gīvāya suggahitaṁ gaṇheyya.
Kiñcāpi so, bhikkhave, alagaddo tassa purisassa hatthaṁ vā bāhaṁ vā aññataraṁ vā aṅgapaccaṅgaṁ bhogehi paliveṭheyya, atha kho so neva tatonidānaṁ maraṇaṁ vā nigaccheyya maraṇamattaṁ vā dukkhaṁ.
Taṁ kissa hetu?
Suggahitattā, bhikkhave, alagaddassa.
Evameva kho, bhikkhave, idhekacce kulaputtā dhammaṁ pariyāpuṇanti—
suttaṁ, geyyaṁ, veyyākaraṇaṁ, gāthaṁ, udānaṁ, itivuttakaṁ, jātakaṁ, abbhutadhammaṁ, vedallaṁ.
Te taṁ dhammaṁ pariyāpuṇitvā tesaṁ dhammānaṁ paññāya atthaṁ upaparikkhanti.
Tesaṁ te dhammā paññāya atthaṁ upaparikkhataṁ nijjhānaṁ khamanti.
Te na ceva upārambhānisaṁsā dhammaṁ pariyāpuṇanti, na itivādappamokkhānisaṁsā ca.
Yassa catthāya dhammaṁ pariyāpuṇanti, tañcassa atthaṁ anubhonti.
Tesaṁ te dhammā suggahitā dīgharattaṁ atthāya hitāya sukhāya saṁvattanti.
Taṁ kissa hetu?
Suggahitattā, bhikkhave, dhammānaṁ.
Tasmātiha, bhikkhave, yassa me bhāsitassa atthaṁ ājāneyyātha, tathā naṁ dhāreyyātha.
Yassa ca pana me bhāsitassa atthaṁ na ājāneyyātha, ahaṁ vo tattha paṭipucchitabbo, ye vā panāssu viyattā bhikkhū.
Kullūpamaṁ vo, bhikkhave, dhammaṁ desessāmi nittharaṇatthāya, no gahaṇatthāya.
Taṁ suṇātha, sādhukaṁ manasikarotha, bhāsissāmī”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ.
Bhagavā etadavoca:
“Seyyathāpi, bhikkhave, puriso addhānamaggappaṭipanno.
So passeyya mahantaṁ udakaṇṇavaṁ, orimaṁ tīraṁ sāsaṅkaṁ sappaṭibhayaṁ, pārimaṁ tīraṁ khemaṁ appaṭibhayaṁ;
na cassa nāvā santāraṇī uttarasetu vā apārā pāraṁ gamanāya.
Tassa evamassa:
‘ayaṁ kho mahāudakaṇṇavo, orimaṁ tīraṁ sāsaṅkaṁ sappaṭibhayaṁ, pārimaṁ tīraṁ khemaṁ appaṭibhayaṁ;
natthi ca nāvā santāraṇī uttarasetu vā apārā pāraṁ gamanāya.
Yannūnāhaṁ tiṇakaṭṭhasākhāpalāsaṁ saṅkaḍḍhitvā, kullaṁ bandhitvā, taṁ kullaṁ nissāya hatthehi ca pādehi ca vāyamamāno sotthinā pāraṁ uttareyyan’ti.
Atha kho so, bhikkhave, puriso tiṇakaṭṭhasākhāpalāsaṁ saṅkaḍḍhitvā, kullaṁ bandhitvā taṁ kullaṁ nissāya hatthehi ca pādehi ca vāyamamāno sotthinā pāraṁ uttareyya.
Tassa purisassa uttiṇṇassa pāraṅgatassa evamassa:
‘bahukāro kho me ayaṁ kullo;
imāhaṁ kullaṁ nissāya hatthehi ca pādehi ca vāyamamāno sotthinā pāraṁ uttiṇṇo.
Yannūnāhaṁ imaṁ kullaṁ sīse vā āropetvā khandhe vā uccāretvā yena kāmaṁ pakkameyyan’ti.
Taṁ kiṁ maññatha, bhikkhave,
api nu so puriso evaṅkārī tasmiṁ kulle kiccakārī assā”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Kathaṅkārī ca so, bhikkhave, puriso tasmiṁ kulle kiccakārī assa?
Idha, bhikkhave, tassa purisassa uttiṇṇassa pāraṅgatassa evamassa:
‘bahukāro kho me ayaṁ kullo;
imāhaṁ kullaṁ nissāya hatthehi ca pādehi ca vāyamamāno sotthinā pāraṁ uttiṇṇo.
Yannūnāhaṁ imaṁ kullaṁ thale vā ussādetvā udake vā opilāpetvā yena kāmaṁ pakkameyyan’ti.
Evaṅkārī kho so, bhikkhave, puriso tasmiṁ kulle kiccakārī assa.
Evameva kho, bhikkhave, kullūpamo mayā dhammo desito nittharaṇatthāya, no gahaṇatthāya.
Kullūpamaṁ vo, bhikkhave, dhammaṁ desitaṁ, ājānantehi dhammāpi vo pahātabbā pageva adhammā.
Chayimāni, bhikkhave, diṭṭhiṭṭhānāni.
Katamāni cha?
Idha, bhikkhave, assutavā puthujjano ariyānaṁ adassāvī ariyadhammassa akovido ariyadhamme avinīto, sappurisānaṁ adassāvī sappurisadhammassa akovido sappurisadhamme avinīto,
rūpaṁ ‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’ti samanupassati;
vedanaṁ ‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’ti samanupassati;
saññaṁ ‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’ti samanupassati;
saṅkhāre ‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’ti samanupassati;
yampi taṁ diṭṭhaṁ sutaṁ mutaṁ viññātaṁ pattaṁ pariyesitaṁ, anuvicaritaṁ manasā tampi ‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’ti samanupassati;
yampi taṁ diṭṭhiṭṭhānaṁ—
so loko so attā, so pecca bhavissāmi nicco dhuvo sassato avipariṇāmadhammo, sassatisamaṁ tatheva ṭhassāmīti—
tampi ‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’ti samanupassati.
Sutavā ca kho, bhikkhave, ariyasāvako ariyānaṁ dassāvī ariyadhammassa kovido ariyadhamme suvinīto, sappurisānaṁ dassāvī sappurisadhammassa kovido sappurisadhamme suvinīto,
rūpaṁ ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti samanupassati;
vedanaṁ ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti samanupassati;
saññaṁ ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti samanupassati;
saṅkhāre ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti samanupassati;
yampi taṁ diṭṭhaṁ sutaṁ mutaṁ viññātaṁ pattaṁ pariyesitaṁ, anuvicaritaṁ manasā, tampi ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti samanupassati;
yampi taṁ diṭṭhiṭṭhānaṁ—
so loko so attā, so pecca bhavissāmi nicco dhuvo sassato avipariṇāmadhammo, sassatisamaṁ tatheva ṭhassāmīti—
tampi ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti samanupassati.
So evaṁ samanupassanto asati na paritassatī”ti.
Evaṁ vutte, aññataro bhikkhu bhagavantaṁ etadavoca:
“siyā nu kho, bhante, bahiddhā asati paritassanā”ti?
“Siyā, bhikkhū”ti—bhagavā avoca.
“Idha bhikkhu ekaccassa evaṁ hoti:
‘ahu vata me, taṁ vata me natthi;
siyā vata me, taṁ vatāhaṁ na labhāmī’ti.
So socati kilamati paridevati urattāḷiṁ kandati sammohaṁ āpajjati.
Evaṁ kho, bhikkhu, bahiddhā asati paritassanā hotī”ti.
“Siyā pana, bhante, bahiddhā asati aparitassanā”ti?
“Siyā, bhikkhū”ti—bhagavā avoca.
“Idha bhikkhu ekaccassa na evaṁ hoti:
‘ahu vata me, taṁ vata me natthi;
siyā vata me, taṁ vatāhaṁ na labhāmī’ti.
So na socati na kilamati na paridevati na urattāḷiṁ kandati na sammohaṁ āpajjati.
Evaṁ kho, bhikkhu, bahiddhā asati aparitassanā hotī”ti.
“Siyā nu kho, bhante, ajjhattaṁ asati paritassanā”ti?
“Siyā, bhikkhū”ti—bhagavā avoca.
“Idha, bhikkhu, ekaccassa evaṁ diṭṭhi hoti:
‘so loko so attā, so pecca bhavissāmi nicco dhuvo sassato avipariṇāmadhammo, sassatisamaṁ tatheva ṭhassāmī’ti.
So suṇāti tathāgatassa vā tathāgatasāvakassa vā sabbesaṁ diṭṭhiṭṭhānādhiṭṭhānapariyuṭṭhānābhinivesānusayānaṁ samugghātāya sabbasaṅkhārasamathāya sabbūpadhipaṭinissaggāya taṇhākkhayāya virāgāya nirodhāya nibbānāya dhammaṁ desentassa.
Tassa evaṁ hoti:
‘ucchijjissāmi nāmassu, vinassissāmi nāmassu, nassu nāma bhavissāmī’ti.
So socati kilamati paridevati urattāḷiṁ kandati sammohaṁ āpajjati.
Evaṁ kho, bhikkhu, ajjhattaṁ asati paritassanā hotī”ti.
“Siyā pana, bhante, ajjhattaṁ asati aparitassanā”ti?
“Siyā, bhikkhū”ti bhagavā avoca.
“Idha, bhikkhu, ekaccassa na evaṁ diṭṭhi hoti:
‘so loko so attā, so pecca bhavissāmi nicco dhuvo sassato avipariṇāmadhammo, sassatisamaṁ tatheva ṭhassāmī’ti.
So suṇāti tathāgatassa vā tathāgatasāvakassa vā sabbesaṁ diṭṭhiṭṭhānādhiṭṭhānapariyuṭṭhānābhinivesānusayānaṁ samugghātāya sabbasaṅkhārasamathāya sabbūpadhipaṭinissaggāya taṇhākkhayāya virāgāya nirodhāya nibbānāya dhammaṁ desentassa.
Tassa na evaṁ hoti:
‘ucchijjissāmi nāmassu, vinassissāmi nāmassu, nassu nāma bhavissāmī’ti.
So na socati na kilamati na paridevati na urattāḷiṁ kandati na sammohaṁ āpajjati.
Evaṁ kho, bhikkhu, ajjhattaṁ asati aparitassanā hoti.
Taṁ, bhikkhave, pariggahaṁ pariggaṇheyyātha, yvāssa pariggaho nicco dhuvo sassato avipariṇāmadhammo, sassatisamaṁ tatheva tiṭṭheyya.
Passatha no tumhe, bhikkhave, taṁ pariggahaṁ yvāssa pariggaho nicco dhuvo sassato avipariṇāmadhammo, sassatisamaṁ tatheva tiṭṭheyyā”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Sādhu, bhikkhave.
Ahampi kho taṁ, bhikkhave, pariggahaṁ na samanupassāmi yvāssa pariggaho nicco dhuvo sassato avipariṇāmadhammo sassatisamaṁ tatheva tiṭṭheyya.
Taṁ, bhikkhave, attavādupādānaṁ upādiyetha, yaṁsa attavādupādānaṁ upādiyato na uppajjeyyuṁ sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā.
Passatha no tumhe, bhikkhave, taṁ attavādupādānaṁ yaṁsa attavādupādānaṁ upādiyato na uppajjeyyuṁ sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Sādhu, bhikkhave.
Ahampi kho taṁ, bhikkhave, attavādupādānaṁ na samanupassāmi yaṁsa attavādupādānaṁ upādiyato na uppajjeyyuṁ sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā.
Taṁ, bhikkhave, diṭṭhinissayaṁ nissayetha yaṁsa diṭṭhinissayaṁ nissayato na uppajjeyyuṁ sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā.
Passatha no tumhe, bhikkhave, taṁ diṭṭhinissayaṁ yaṁsa diṭṭhinissayaṁ nissayato na uppajjeyyuṁ sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Sādhu, bhikkhave.
Ahampi kho taṁ, bhikkhave, diṭṭhinissayaṁ na samanupassāmi yaṁsa diṭṭhinissayaṁ nissayato na uppajjeyyuṁ sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā.
Attani vā, bhikkhave, sati ‘attaniyaṁ me’ti assā”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Attaniye vā, bhikkhave, sati ‘attā me’ti assā”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Attani ca, bhikkhave, attaniye ca saccato thetato anupalabbhamāne, yampi taṁ diṭṭhiṭṭhānaṁ:
‘so loko so attā, so pecca bhavissāmi nicco dhuvo sassato avipariṇāmadhammo, sassatisamaṁ tatheva ṭhassāmī’ti—
nanāyaṁ, bhikkhave, kevalo paripūro bāladhammo”ti?
“Kiñhi no siyā, bhante, kevalo hi, bhante, paripūro bāladhammo”ti.
“Taṁ kiṁ maññatha, bhikkhave,
rūpaṁ niccaṁ vā aniccaṁ vā”ti?
“Aniccaṁ, bhante”.
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vā taṁ sukhaṁ vā”ti?
“Dukkhaṁ, bhante”.
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vipariṇāmadhammaṁ, kallaṁ nu taṁ samanupassituṁ—
etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Taṁ kiṁ maññatha, bhikkhave,
vedanā …pe…
saññā …
saṅkhārā …
viññāṇaṁ niccaṁ vā aniccaṁ vā”ti?
“Aniccaṁ, bhante”.
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vā taṁ sukhaṁ vā”ti?
“Dukkhaṁ, bhante”.
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vipariṇāmadhammaṁ, kallaṁ nu taṁ samanupassituṁ—
etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Tasmātiha, bhikkhave, yaṁ kiñci rūpaṁ atītānāgatapaccuppannaṁ, ajjhattaṁ vā bahiddhā vā, oḷārikaṁ vā sukhumaṁ vā, hīnaṁ vā paṇītaṁ vā, yaṁ dūre santike vā, sabbaṁ rūpaṁ ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti—evametaṁ yathābhūtaṁ sammappaññāya daṭṭhabbaṁ.
Yā kāci vedanā …pe…
yā kāci saññā …
ye keci saṅkhārā …
yaṁ kiñci viññāṇaṁ atītānāgatapaccuppannaṁ, ajjhattaṁ vā bahiddhā vā, oḷārikaṁ vā sukhumaṁ vā, hīnaṁ vā paṇītaṁ vā, yaṁ dūre santike vā, sabbaṁ viññāṇaṁ ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti—evametaṁ yathābhūtaṁ sammappaññāya daṭṭhabbaṁ.
Evaṁ passaṁ, bhikkhave, sutavā ariyasāvako rūpasmiṁ nibbindati, vedanāya nibbindati, saññāya nibbindati, saṅkhāresu nibbindati, viññāṇasmiṁ nibbindati,
nibbidā virajjati, virāgā vimuccati, vimuttasmiṁ vimuttamiti ñāṇaṁ hoti.
‘Khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyā’ti pajānāti.
Ayaṁ vuccati, bhikkhave, bhikkhu ukkhittapaligho itipi, saṅkiṇṇaparikkho itipi, abbūḷhesiko itipi, niraggaḷo itipi, ariyo pannaddhajo pannabhāro visaṁyutto itipi.
Kathañca, bhikkhave, bhikkhu ukkhittapaligho hoti?
Idha, bhikkhave, bhikkhuno avijjā pahīnā hoti, ucchinnamūlā tālāvatthukatā anabhāvaṅkatā, āyatiṁ anuppādadhammā.
Evaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu ukkhittapaligho hoti.
Kathañca, bhikkhave, bhikkhu saṅkiṇṇaparikkho hoti?
Idha, bhikkhave, bhikkhuno ponobbhaviko jātisaṁsāro pahīno hoti, ucchinnamūlo tālāvatthukato anabhāvaṅkato, āyatiṁ anuppādadhammo.
Evaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu saṅkiṇṇaparikkho hoti.
Kathañca, bhikkhave, bhikkhu abbūḷhesiko hoti?
Idha, bhikkhave, bhikkhuno taṇhā pahīnā hoti, ucchinnamūlā tālāvatthukatā anabhāvaṅkatā, āyatiṁ anuppādadhammā.
Evaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu abbūḷhesiko hoti.
Kathañca, bhikkhave, bhikkhu niraggaḷo hoti?
Idha, bhikkhave, bhikkhuno pañca orambhāgiyāni saṁyojanāni pahīnāni honti, ucchinnamūlāni tālāvatthukatāni anabhāvaṅkatāni, āyatiṁ anuppādadhammāni.
Evaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu niraggaḷo hoti.
Kathañca, bhikkhave, bhikkhu ariyo pannaddhajo pannabhāro visaṁyutto hoti?
Idha, bhikkhave, bhikkhuno asmimāno pahīno hoti, ucchinnamūlo tālāvatthukato anabhāvaṅkato, āyatiṁ anuppādadhammo.
Evaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu ariyo pannaddhajo pannabhāro visaṁyutto hoti.
Evaṁ vimuttacittaṁ kho, bhikkhave, bhikkhuṁ saindā devā sabrahmakā sapajāpatikā anvesaṁ nādhigacchanti:
‘idaṁ nissitaṁ tathāgatassa viññāṇan’ti.
Taṁ kissa hetu?
Diṭṭhevāhaṁ, bhikkhave, dhamme tathāgataṁ ananuvijjoti vadāmi.
Evaṁvādiṁ kho maṁ, bhikkhave, evamakkhāyiṁ eke samaṇabrāhmaṇā asatā tucchā musā abhūtena abbhācikkhanti:
‘venayiko samaṇo gotamo, sato sattassa ucchedaṁ vināsaṁ vibhavaṁ paññāpetī’ti.
Yathā cāhaṁ na, bhikkhave, yathā cāhaṁ na vadāmi, tathā maṁ te bhonto samaṇabrāhmaṇā asatā tucchā musā abhūtena abbhācikkhanti:
‘venayiko samaṇo gotamo, sato sattassa ucchedaṁ vināsaṁ vibhavaṁ paññāpetī’ti.
Pubbe cāhaṁ, bhikkhave, etarahi ca dukkhañceva paññāpemi, dukkhassa ca nirodhaṁ.
Tatra ce, bhikkhave, pare tathāgataṁ akkosanti paribhāsanti rosenti vihesenti, tatra, bhikkhave, tathāgatassa na hoti āghāto na appaccayo na cetaso anabhiraddhi.
Tatra ce, bhikkhave, pare tathāgataṁ sakkaronti garuṁ karonti mānenti pūjenti, tatra, bhikkhave, tathāgatassa na hoti ānando na somanassaṁ na cetaso uppilāvitattaṁ.
Tatra ce, bhikkhave, pare vā tathāgataṁ sakkaronti garuṁ karonti mānenti pūjenti, tatra, bhikkhave, tathāgatassa evaṁ hoti:
‘yaṁ kho idaṁ pubbe pariññātaṁ tattha me evarūpā kārā karīyantī’ti.
Tasmātiha, bhikkhave, tumhe cepi pare akkoseyyuṁ paribhāseyyuṁ roseyyuṁ viheseyyuṁ, tatra tumhe hi na āghāto na appaccayo na cetaso anabhiraddhi karaṇīyā.
Tasmātiha, bhikkhave, tumhe cepi pare sakkareyyuṁ garuṁ kareyyuṁ māneyyuṁ pūjeyyuṁ, tatra tumhehi na ānando na somanassaṁ na cetaso uppilāvitattaṁ karaṇīyaṁ.
Tasmātiha, bhikkhave, tumhe cepi pare sakkareyyuṁ garuṁ kareyyuṁ māneyyuṁ pūjeyyuṁ, tatra tumhākaṁ evamassa:
‘yaṁ kho idaṁ pubbe pariññātaṁ, tattha me evarūpā kārā karīyantī’ti.
Tasmātiha, bhikkhave, yaṁ na tumhākaṁ taṁ pajahatha;
taṁ vo pahīnaṁ dīgharattaṁ hitāya sukhāya bhavissati.
Kiñca, bhikkhave, na tumhākaṁ?
Rūpaṁ, bhikkhave, na tumhākaṁ, taṁ pajahatha;
taṁ vo pahīnaṁ dīgharattaṁ hitāya sukhāya bhavissati.
Vedanā, bhikkhave, na tumhākaṁ, taṁ pajahatha;
sā vo pahīnā dīgharattaṁ hitāya sukhāya bhavissati.
Saññā, bhikkhave, na tumhākaṁ, taṁ pajahatha;
sā vo pahīnā dīgharattaṁ hitāya sukhāya bhavissati.
Saṅkhārā, bhikkhave, na tumhākaṁ, te pajahatha;
te vo pahīnā dīgharattaṁ hitāya sukhāya bhavissanti.
Viññāṇaṁ, bhikkhave, na tumhākaṁ, taṁ pajahatha;
taṁ vo pahīnaṁ dīgharattaṁ hitāya sukhāya bhavissati.
Taṁ kiṁ maññatha, bhikkhave,
yaṁ imasmiṁ jetavane tiṇakaṭṭhasākhāpalāsaṁ, taṁ jano hareyya vā daheyya vā yathāpaccayaṁ vā kareyya.
Api nu tumhākaṁ evamassa:
‘amhe jano harati vā dahati vā yathāpaccayaṁ vā karotī’”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Taṁ kissa hetu”?
“Na hi no etaṁ, bhante, attā vā attaniyaṁ vā”ti.
“Evameva kho, bhikkhave, yaṁ na tumhākaṁ taṁ pajahatha;
taṁ vo pahīnaṁ dīgharattaṁ hitāya sukhāya bhavissati.
Kiñca, bhikkhave, na tumhākaṁ?
Rūpaṁ, bhikkhave, na tumhākaṁ, taṁ pajahatha;
taṁ vo pahīnaṁ dīgharattaṁ hitāya sukhāya bhavissati.
Vedanā, bhikkhave …pe…
saññā, bhikkhave …
saṅkhārā, bhikkhave …pe…
viññāṇaṁ, bhikkhave, na tumhākaṁ, taṁ pajahatha;
taṁ vo pahīnaṁ dīgharattaṁ hitāya sukhāya bhavissati.
Evaṁ svākkhāto, bhikkhave, mayā dhammo uttāno vivaṭo pakāsito chinnapilotiko.
Evaṁ svākkhāte, bhikkhave, mayā dhamme uttāne vivaṭe pakāsite chinnapilotike ye te bhikkhū arahanto khīṇāsavā vusitavanto katakaraṇīyā ohitabhārā anuppattasadatthā parikkhīṇabhavasaṁyojanā sammadaññāvimuttā, vaṭṭaṁ tesaṁ natthi paññāpanāya.
Evaṁ svākkhāto, bhikkhave, mayā dhammo uttāno vivaṭo pakāsito chinnapilotiko.
Evaṁ svākkhāte, bhikkhave, mayā dhamme uttāne vivaṭe pakāsite chinnapilotike yesaṁ bhikkhūnaṁ pañcorambhāgiyāni saṁyojanāni pahīnāni, sabbe te opapātikā, tattha parinibbāyino, anāvattidhammā tasmā lokā.
Evaṁ svākkhāto, bhikkhave, mayā dhammo uttāno vivaṭo pakāsito chinnapilotiko.
Evaṁ svākkhāte, bhikkhave, mayā dhamme uttāne vivaṭe pakāsite chinnapilotike yesaṁ bhikkhūnaṁ tīṇi saṁyojanāni pahīnāni, rāgadosamohā tanubhūtā, sabbe te sakadāgāmino, sakideva imaṁ lokaṁ āgantvā dukkhassantaṁ karissanti.
Evaṁ svākkhāto, bhikkhave, mayā dhammo uttāno vivaṭo pakāsito chinnapilotiko.
Evaṁ svākkhāte, bhikkhave, mayā dhamme uttāne vivaṭe pakāsite chinnapilotike yesaṁ bhikkhūnaṁ tīṇi saṁyojanāni pahīnāni, sabbe te sotāpannā, avinipātadhammā, niyatā sambodhiparāyanā.
Evaṁ svākkhāto, bhikkhave, mayā dhammo uttāno vivaṭo pakāsito chinnapilotiko.
Evaṁ svākkhāte, bhikkhave, mayā dhamme uttāne vivaṭe pakāsite chinnapilotike ye te bhikkhū dhammānusārino saddhānusārino sabbe te sambodhiparāyanā.
Evaṁ svākkhāto, bhikkhave, mayā dhammo uttāno vivaṭo pakāsito chinnapilotiko.
Evaṁ svākkhāte, bhikkhave, mayā dhamme uttāne vivaṭe pakāsite chinnapilotike yesaṁ mayi saddhāmattaṁ pemamattaṁ sabbe te saggaparāyanā”ti.
Idamavoca bhagavā.
Attamanā te bhikkhū bhagavato bhāsitaṁ abhinandunti.
Alagaddūpamasuttaṁ niṭṭhitaṁ dutiyaṁ.