Như vầy tôi nghe.
SC 1Một thời Tôn giả Mahā Moggallāna trú giữa dân chúng Bhagga, tại Sumsumaragira, rừng Bhessakalavana, vườn Lộc Uyển.
SC 2Lúc bấy giờ, Tôn giả Mahā Moggallāna đang đi kinh hành ngoài trời. Khi ấy Ác ma đi vào bụng Tôn giả Mahā Moggallāna, ở trong bao tử. Rồi Tôn giả Mahā Moggallāna nghĩ như sau: “Nay sao bụng của Ta lại nặng nặng như có gì chồng chất quá đầy?” Rồi Tôn giả Mahā Moggallāna từ chỗ kinh hành bước xuống, đi vào tự viện, và ngồi trên chỗ đã soạn sẵn.
SC 3Sau khi ngồi, Tôn giả Mahā Moggallāna tự chánh niệm. Tôn giả Mahā Moggallāna thấy Ác ma, sau khi đi vào trong bụng, đang ở trong bao tử. Thấy vậy, Tôn giả liền nói với Ác ma
SC 4—Hãy đi ra, Ác ma! Hãy đi ra, Ác ma! Chớ có phiền nhiễu Như Lai và đệ tử Như Lai. Chớ có khiến cho Ngươi bị bất hạnh, đau khổ lâu dài!
SC 5Rồi Ác ma suy nghĩ: “Vị Sa-môn này không biết ta, không thấy ta, lại nói như sau: “Hãy đi ra, Ác ma! Hãy đi ra Ác ma! Chớ có phiền nhiễu Như Lai, và đệ tử Như Lai. Chớ có khiến cho Ngươi bị bất hạnh, đau khổ lâu dài”. Chính vị Bổn sư cũng chưa biết ta mau như vậy, làm sao vị đệ tử này có thể biết ta được?”
SC 6Rồi Tôn giả Mahā Moggallāna lại nói với Ác ma như sau
SC 7—Này Ác ma, ta biết Ngươi. Ðừng có nghĩ rằng: “Vị ấy không biết ta”. Ngươi là Ác ma. Này Ác ma, Ngươi nghĩ như sau: “Vị Sa-môn này không biết ta, không thấy ta, lại nói như sau: “Hãy đi ra, Ác ma! Hãy đi ra Ác ma! Chớ có phiền nhiễu Như Lai và đệ tử Như Lai. Chớ có khiến cho Ngươi bị bất hạnh, đau khổ lâu dài!” Chính vị Bổn sư cũng không biết ta mau như vậy, làm sao vị đệ tử này có thể biết ta được?”
SC 8Rồi Ác ma suy nghĩ như sau: “Vị Sa-môn này biết ta, thấy ta và nói như sau: “Hãy đi ra, Ác ma! Hãy đi ra, Ác ma! Chớ có phiền nhiễu Như Lai và đệ tử Như Lai. Chớ có khiến cho Ngươi bị bất hạnh, đau khổ lâu dài” ”. Rồi Ác ma từ miệng Tôn giả Mahā Moggallāna bước ra, và đứng dựa nơi cửa miệng. Tôn giả Mahā Moggallāna thấy Ác ma đứng dựa nơi cửa miệng, bèn nói Ác ma
SC 9—Ác ma, ở đây, ta cũng thấy Ngươi. Ngươi chớ có nghĩ rằng: “Vị ấy không thấy ta”. Này Ác ma, nay Ngươi đang đứng dựa nơi cửa miệng. Này Ác ma, thuở xưa, ta là Ác ma tên là Dusi, và chị ta tên là Kālī. Ngươi là con trai chị ta. Như vậy Ngươi là cháu ta.
SC 10Này Ác ma, lúc bấy giờ, Thế Tôn Kakusandha, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác ra đời. Thế Tôn Kakusandha, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác có hai vị đệ tử tên là Vidhura, và Sanjiva, hai bậc tối thượng, hai bậc Hiền giả. Này Ác ma, đối với các vị đệ tử của Thế Tôn Kakusandha, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác không một ai ở đây có thể bằng Tôn giả Vidhura về thuyết pháp. Này Ác ma, vì lý do này, Tôn giả Vidhura được gọi là Vidhura (Vô song). Còn Tôn giả Sanjiva là vị đi rừng, đi gốc cây, đi các chỗ không người và chứng Diệt thọ tưởng định không khó khăn gì.
SC 11Này Ác ma, thuở xưa, Tôn giả Sanjiva đang ngồi nhập Diệt thọ tưởng định dưới một gốc cây. Này Ác ma, các người chăn bò, chăn thú, làm ruộng, các lữ hành thấy Tôn giả Sanjiva đang ngồi nhập Diệt thọ tưởng định dưới một gốc cây, thấy vậy liền nói với nhau như sau: “Thật vị diệu thay, này các Tôn giả! Thật hy hữu thay, này các Tôn giả! Vị Sa-môn này chết mà vẫn ngồi. Chúng ta hãy hỏa táng ngài!” Rồi này Ác ma, các người chăn bò, chăn thú, làm ruộng, các lữ hành liền thâu lượm cỏ, củi và phân bò chồng lên thân Tôn giả Sanjiva, đốt lửa và bỏ đi.
SC 12Này Ác ma, Tôn giả Sanjiva, sau khi đêm ấy đã tàn, liền xuất định, phủi áo, vào buổi sáng đắp y, cầm y bát vào làng khất thực. Này Ác ma, các người chăn bò, chăn thú, làm ruộng, các lữ hành thấy Tôn giả Sanjiva đang đi khất thực, thấy vậy liền nghĩ: “Thật vị diệu thay, này các Tôn giả! Thật hy hữu thay, này các Tôn giả! Vị Sa-môn này chết mà vẫn ngồi, nay được sống lại”. Này Ác ma, vì lý do này, Tôn giả Sanjiva được xưng danh là Sanjiva, Sanjiva.
SC 13Này Ác ma, rồi Ác ma Dusi nghĩ như sau: “Ta không biết chỗ đến và chỗ đi của các vị Tỷ-kheo có giới hạnh và thiện pháp này. Vậy nay ta hãy nhập vào hàng Bà-la-môn gia chủ và nói như sau: “Hãy đến phỉ báng, mạ lị, thống trách và nhiễu hại các vị Tỷ-kheo có giới hạnh và thiện tánh. Do bị phỉ báng, mạ lị, thống trách và nhiễu hại bởi các Người, các vị ấy có thể đổi tâm và như vậy, Ác ma Dusi mới có dịp để chi phối họ. ”
SC 14Rồi này Ác ma, Ác ma Dusi nhập vào hàng Bà-la-môn gia chủ và phỉ báng, mạ lị, thống trách và nhiễu hại các vị Tỷ-kheo có giới hạnh và thiện tánh như sau: “Những kẻ trọc đầu, Sa-môn giả hiệu, tiện nô, hắc nô, sanh tự gót chân này. Họ nói: “Chúng tôi tu thiền, chúng tôi tu thiền” và với hai vai thụt xuống, với mặt cúi xuống, mê mê dại dại, tu thiền, mê thiền, si thiền, dại thiền. Ví như con cú đậu trên cành cây, khi đang rình chuột; tu thiền, mê thiền, si thiền, dại thiền; cũng vậy, những kẻ trọc đầu, Sa-môn giả hiệu, tiện nô, hắc nô, sanh tự gót chân này. Chúng nói: “Chúng tôi tu thiền, chúng tôi tu thiền”. Và với hai vai thụt xuống, với mặt cúi xuống, mê mê dại dại, tu thiền, mê thiền, si thiền, dại thiền. Ví như con giả can trên bờ sông, khi đang rình cá; tu thiền, mê thiền, si thiền, dại thiền; cũng vậy, những kẻ trọc đầu, Sa-môn giả hiệu, tiện nô, hắc nô, sanh tự gót chân này. Họ nói: “Chúng tôi tu thiền, chúng tôi tu thiền” và với hai vai thụt xuống, với mặt cúi xuống, mê mê dại dại, tu thiền, mê thiền, si thiền, dại thiền. Ví như con mèo ngồi bên đống rác, khi đang rình chuột; tu thiền, mê thiền, si thiền, dại thiền; cũng vậy, những kẻ trọc đầu, Sa-môn giả hiệu, tiện nô, hắc nô, sanh tự gót chân này. Họ nói: “Chúng tôi tu thiền, chúng tôi tu thiền” và với hai vai thụt xuống, với mặt cúi xuống, mê mê dại dại, tu thiền, mê thiền, si thiền, dại thiền. Ví như con lừa, gánh nặng được đặt xuống, đang tu thiền, mê thiền, si thiền, dại thiền; cũng vậy, những kẻ trọc đầu, Sa-môn giả hiệu, tiện nô, hắc nô, sanh tự gót chân này. Chúng nói: “Chúng tôi tu thiền, chúng tôi tu thiền”, và với hai vai thụt xuống, với mặt cúi xuống, mê mê dại dại, tu thiền, mê thiền, si thiền, dại thiền”. Này Ác ma lúc bấy giờ, phần lớn những người ấy sau khi thân hoại mạng chung phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục.
SC 15Rồi này Ác ma, Thế Tôn Kakusandha, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác gọi các Tỷ-kheo:
SC 16“—Này các Tỷ-kheo, những Bà-la-môn gia chủ bị Ác ma Dusi nhập vào và nói: “Hãy đến phỉ báng, mạ lị, thống trách và nhiễu hại các Tỷ-kheo có giới hạnh và thiện tánh. Do bị phỉ báng, mạ lị, thống trách và nhiễu hại bởi các Người, các vị ấy có thể đổi tâm, và như vậy Ác ma Dusi mới có dịp để chi phối họ”.
SC 17Này các Tỷ-kheo, hãy đến biến mãn một phương với tâm câu hữu với từ, rồi an trú, cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như vậy cùng khắp thế giới, trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, an trú biến mãn với tâm câu hữu với từ, quảng đại, vô biên, không hận, không sân. Với tâm câu hữu với bi … với tâm câu hữu với hỷ…, biến mãn một phương với tâm câu hữu với xả, rồi an trú; cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như vậy cùng khắp thế giới, trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, an trú biến mãn với tâm câu hữu với xả, quảng đại, vô biên, không hận, không sân”.
SC 18Rồi Ác ma, các Tỷ-kheo ấy được Thế Tôn Kakusandha, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác khuyến khích như vậy, khuyến giáo như vậy, đi đến khu rừng, đi đến gốc cây, đi đến các chỗ không vắng, biến mãn một phương với tâm câu hữu với từ rồi an trú; cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba; cũng vậy phương thứ tư. Như vậy cùng khắp thế giới, trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, an trú biến mãn với tâm câu hữu với từ, quảng đại, vô biên, không hận, không sân. Với tâm câu hữu với bi … với tâm câu hữu với hỷ … biến mãn một phương với tâm câu hữu với xả rồi an trú; cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như vậy, cùng khắp thế giới, trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, an trú biến mãn với tâm câu hữu với xả, quảng đại, vô biên, không hận, không sân.
SC 19Này Ác ma, rồi Māra Dusi suy nghĩ như sau: “Làm như vậy, ta không thể biết chỗ đến hay chỗ đi của các Tỷ-kheo có giới hạnh và thiện tánh. Vậy ta hãy nhập vào các Bà-la-môn gia chủ và nói như sau: “Hãy đến tán thán, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường các Tỷ-kheo có giới hạnh và thiện tánh này. Do được tán thán, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường, các vị ấy có thể đổi tâm và như vậy, Ác ma Dusi mới có dịp để chi phối họ”.
SC 20Rồi này Ác ma, Ác ma Dusi nhập vào các Bà-la-môn gia chủ và nói: “Hãy đến tán thán, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường các Tỷ-kheo có giới hạnh và thiện tánh. Những vị này được các Ngươi tán thán, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường có thể đổi tâm, và như vậy Ác ma Dusi mới có dịp để chi phối họ”, Rồi này Ác ma, những Bà-la-môn gia chủ, bị Ác ma Dusi xâm nhập, tán thán, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường các Tỷ-kheo có giới hạnh và thiện tánh. Này Ác ma, sau một thời gian những vị này mạng chung và phần lớn sau khi thân hoại mạng chung được sanh lên thiện thú, Thiên giới và đời này.
SC 21Rồi này Ác ma, Thế Tôn Kakusamdha, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác gọi các Tỷ-kheo:
SC 22“—Này các Tỷ-kheo, các Bà-la-môn gia chủ bị Ác ma Dusi xâm nhập và nói như sau: “Các Ngươi hãy đến tán thán, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường các Tỷ-kheo có giới hạnh và thiện tánh. Những vị này được các Ngươi tán thán, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường có thể đổi tâm và như vậy Ác ma Dusi mới có dịp để chi phối họ”. Này các Tỷ-kheo, các Ngươi hãy sống quán bất tịnh trên thân, quán tưởng nhàm chán đối với các món ăn, quán tưởng bất khả lạc đối với tất cả thế gian, quán tánh vô thường đối với tất cả hành”.
SC 23Và này Ác ma, những Tỷ-kheo ấy được Thế Tôn Kakusandha khuyến khích như vậy, khuyến giáo như vậy, đi đến khu rừng, đi đến gốc cây, đi đến các chỗ trống vắng, sống quán (tánh) bất tịnh trên thân, (quán) tưởng nhàm chán đối với các món ăn, (quán) tưởng bất khả lạc đối với tất cả thế gian, quán tánh vô thường đối với tất cả hành.
SC 24Rồi này Ác ma, Thế Tôn Kakusandha, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, buổi sáng đắp y, mang y bát, với Tôn giả Vidhura là thị giả, đi vào làng để khất thực.
SC 25Rồi này Ác ma, Ác ma Dusi nhập vào một đứa trẻ, cầm một hòn đá, đánh trên đầu Tôn giả Vidhura khiến bể đầu. Rồi này Ác ma, Tôn giả Vidhura với đầu bị bể và với máu chảy, vẫn đi sau lưng Thế Tôn Kakusandha, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Rồi này Ác ma, Thế Tôn Kakusandha bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác nhìn xung quanh với cái nhìn con voi chúa và suy nghĩ như sau: “Thật vậy, Ác ma Dusi không biết sự vừa phải”. Này Ác ma, khi Thế Tôn nhìn xung quanh, thì Ác ma Dusi liền từ chỗ ấy từ trần và sinh vào cõi địa ngục.
SC 26Này Ác ma, địa ngục ấy được ba tên gọi: Sáu xúc xứ địa ngục, Thiết qua địa ngục, Biệt thọ khổ địa ngục. Rồi các người giữ địa ngục đến ta và nói như sau: “Này Tôn giả, khi cọc sắt sẽ gặp cọc sắt trong tim của Ngươi, Ngươi mới hiểu như sau: “Ta sẽ bị trụng nước sôi một ngàn năm ở địa ngục.”
SC 27Và ta, này Ác ma, ta bị trụng nước sôi, trải nhiều năm, nhiều trăm năm, nhiều ngàn năm trong địa ngục. Trải qua một vạn năm trong đại địa ngục ấy, ta bị nấu sôi và cảm thọ cảm giác gọi là Vutthanima. Do vậy, này Ác ma, thân của ta là như vậy, thân như con người, và đầu ta là như vậy, đầu như con cá.
SC 281. Ðịa ngục ấy thế nào
Dusi bị nấu sôi
Vì đánh Vidhura,
Ðệ tử Kakusandha.
Có trăm loại cọc sắt,
Tự cảm thọ riêng biệt
Ðịa ngục là như vậy,
Dusi bị nấu sôi.
Vì đánh Vidhura,
Ðệ tử Kakusandha
SC 29Tỷ-kheo đệ tử Phật,
Hiểu biết rõ như vậy.
Vì Ngươi đánh Tỷ-kheo,
Kaṇha chịu khổ thọ,
SC 302. Dựng lên giữa biển cả,
Cung điện trải nhiều kiếp,
Bằng ngọc chói lưu ly,
Huy hoàng cùng chiếu diệu.
Tiên nữ múa tại đây,
Trang sức màu dị biệt.
SC 31Tỷ-kheo đệ tử Phật,
Hiểu biết rõ như vậy.
Vì Ngươi đánh Tỷ-kheo,
Kaṇha chịu khổ Thọ,
SC 323. Ai Thế Tôn khuyến khích,
Ðược chư Tăng chứng kiến,
Với ngón chân rung chuyển,
Lâu đài Vejayanta!
SC 33Tỷ-kheo đệ tử Phật,
Hiểu biết rõ như vậy.
Vì Ngươi đánh Tỷ-kheo,
Kaṇha chịu khổ thọ,
SC 344. Với ngón chân rung chuyển
Lâu đài Vejayanta?
Ðầy đủ thần thông lực,
Chư thiên cũng hoảng sợ.
SC 35Tỷ-kheo đệ tử Phật,
Hiểu biết rõ như vậy.
Vì Ngươi đánh Tỷ-kheo,
Kaṇha chịu khổ thọ,!
SC 365. Ai hỏi vị Sakka,
Tại lầu Vejayanta,
Hiền giả, Người có biết,
Chứng ái tận giải thoát?
Sakka đã chân thành,
Trả lời câu được hỏi.
SC 37Tỷ-kheo đệ tử Phật,
Hiểu biết rõ như vậy.
Vì Ngươi đánh Tỷ-kheo,
Kaṇha chịu khổ thọ,
SC 386. Ai từng hỏi Phạm thiên,
Tại hội chúng Thiện pháp,
Hiền giả nay vẫn chấp,
Các tà kiến thuở xưa,
Có thấy cảnh huy hoàng,
Phạm thiên cảnh Thiên giới?
Brahmà đã chân thành,
Tiếp tục đáp câu hỏi:
Tôn giả, tôi không chấp,
Các tà kiến thuở xưa!
Tôi thấy sự huy hoàng,
Phạm thiên cảnh Thiên giới!
Sao nay tôi nói được,
Tôi thường hằng thường tại?
SC 39Tỷ-kheo đệ tử Phật,
Hiểu biết rõ như vậy.
Vì Ngươi đánh Tỷ-kheo,
Kaṇha chịu khổ thọ!
SC 407. Ai với sự giải thoát,
Cảm xúc Cao sơn đảnh,
Rừng Ðông Videha,
Và người nằm trên đất,
SC 41Tỷ-kheo đệ tử Phật,
Hiểu biết rõ như vậy.
Vì Ngươi đánh Tỷ-kheo,
Kaṇha chịu khổ thọ.
SC 428. Thật sự lửa không nghĩ:
“Ta đốt cháy kẻ ngu”,
Kẻ ngu đột kích lửa,
Tự mình bị thiêu cháy.
Cũng vậy, này Ác ma,
Ngươi đột kích Như Lai.
Tự mình đốt cháy mình
Như kẻ ngu chạm lửa,
Ác ma tạo ác nghiệp,
Do nhiễu hại Như Lai,
Ngươi nghĩ chăng, Ác ma,
“Ác quả không đến ta”.
Ðiều ác Ác ma làm,
Chất chứa đã lâu rồi,
Ác ma, hãy tránh Phật,
Chớ vọng tưởng Tỷ-kheo!
SC 43Tỷ-kheo chống Ác ma,
Tại rừng Bhesakāla,
Vị Dạ xoa, thất vọng,
Biến mất tại chỗ ấy.
Evaṁ me sutaṁ—
ekaṁ samayaṁ āyasmā mahāmoggallāno bhaggesu viharati susumāragire bhesakaḷāvane migadāye.
Tena kho pana samayena āyasmā mahāmoggallāno abbhokāse caṅkamati.
Tena kho pana samayena māro pāpimā āyasmato mahāmoggallānassa kucchigato hoti koṭṭhamanupaviṭṭho.
Atha kho āyasmato mahāmoggallānassa etadahosi:
“kiṁ nu kho me kucchi garugaro viya?
Māsācitaṁ maññe”ti.
Atha kho āyasmā mahāmoggallāno caṅkamā orohitvā vihāraṁ pavisitvā paññatte āsane nisīdi.
Nisajja kho āyasmā mahāmoggallāno paccattaṁ yoniso manasākāsi.
Addasā kho āyasmā mahāmoggallāno māraṁ pāpimantaṁ kucchigataṁ koṭṭhamanupaviṭṭhaṁ.
Disvāna māraṁ pāpimantaṁ etadavoca:
“nikkhama, pāpima;
nikkhama, pāpima.
Mā tathāgataṁ vihesesi, mā tathāgatasāvakaṁ.
Mā te ahosi dīgharattaṁ ahitāya dukkhāyā”ti.
Atha kho mārassa pāpimato etadahosi:
“ajānameva kho maṁ ayaṁ samaṇo apassaṁ evamāha:
‘nikkhama, pāpima;
nikkhama, pāpima.
Mā tathāgataṁ vihesesi, mā tathāgatasāvakaṁ.
Mā te ahosi dīgharattaṁ ahitāya dukkhāyā’ti.
Yopissa so satthā sopi maṁ neva khippaṁ jāneyya, kuto pana maṁ ayaṁ sāvako jānissatī”ti?
Atha kho āyasmā mahāmoggallāno māraṁ pāpimantaṁ etadavoca:
“evampi kho tāhaṁ, pāpima, jānāmi, mā tvaṁ maññittho:
‘na maṁ jānātī’ti.
Māro tvamasi, pāpima;
tuyhañhi, pāpima, evaṁ hoti:
‘ajānameva kho maṁ ayaṁ samaṇo apassaṁ evamāha—
nikkhama, pāpima;
nikkhama, pāpima.
Mā tathāgataṁ vihesesi, mā tathāgatasāvakaṁ.
Mā te ahosi dīgharattaṁ ahitāya dukkhāyāti.
Yopissa so satthā sopi maṁ neva khippaṁ jāneyya, kuto pana maṁ ayaṁ sāvako jānissatī’”ti?
Atha kho mārassa pāpimato etadahosi:
“jānameva kho maṁ ayaṁ samaṇo passaṁ evamāha:
‘nikkhama, pāpima;
nikkhama, pāpima.
Mā tathāgataṁ vihesesi, mā tathāgatasāvakaṁ.
Mā te ahosi dīgharattaṁ ahitāya dukkhāyā’”ti.
Atha kho māro pāpimā āyasmato mahāmoggallānassa mukhato uggantvā paccaggaḷe aṭṭhāsi.
Addasā kho āyasmā mahāmoggallāno māraṁ pāpimantaṁ paccaggaḷe ṭhitaṁ;
disvāna māraṁ pāpimantaṁ etadavoca:
“etthāpi kho tāhaṁ, pāpima, passāmi; mā tvaṁ maññittho
‘na maṁ passatī’ti.
Eso tvaṁ, pāpima, paccaggaḷe ṭhito.
Bhūtapubbāhaṁ, pāpima, dūsī nāma māro ahosiṁ, tassa me kāḷī nāma bhaginī.
Tassā tvaṁ putto.
So me tvaṁ bhāgineyyo ahosi.
Tena kho pana, pāpima, samayena kakusandho bhagavā arahaṁ sammāsambuddho loke uppanno hoti.
Kakusandhassa kho pana, pāpima, bhagavato arahato sammāsambuddhassa vidhurasañjīvaṁ nāma sāvakayugaṁ ahosi aggaṁ bhaddayugaṁ.
Yāvatā kho pana, pāpima, kakusandhassa bhagavato arahato sammāsambuddhassa sāvakā.
Tesu na ca koci āyasmatā vidhurena samasamo hoti yadidaṁ dhammadesanāya.
Iminā kho evaṁ, pāpima, pariyāyena āyasmato vidhurassa vidhuroteva samaññā udapādi.
Āyasmā pana, pāpima, sañjīvo araññagatopi rukkhamūlagatopi suññāgāragatopi appakasireneva saññāvedayitanirodhaṁ samāpajjati.
Bhūtapubbaṁ, pāpima, āyasmā sañjīvo aññatarasmiṁ rukkhamūle saññāvedayitanirodhaṁ samāpanno nisinno hoti.
Addasaṁsu kho, pāpima, gopālakā pasupālakā kassakā pathāvino āyasmantaṁ sañjīvaṁ aññatarasmiṁ rukkhamūle saññāvedayitanirodhaṁ samāpannaṁ nisinnaṁ;
disvāna tesaṁ etadahosi:
‘acchariyaṁ vata bho, abbhutaṁ vata, bho.
Ayaṁ samaṇo nisinnakova kālaṅkato.
Handa naṁ dahāmā’ti.
Atha kho te, pāpima, gopālakā pasupālakā kassakā pathāvino tiṇañca kaṭṭhañca gomayañca saṅkaḍḍhitvā āyasmato sañjīvassa kāye upacinitvā aggiṁ datvā pakkamiṁsu.
Atha kho, pāpima, āyasmā sañjīvo tassā rattiyā accayena tāya samāpattiyā vuṭṭhahitvā cīvarāni papphoṭetvā pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya gāmaṁ piṇḍāya pāvisi.
Addasaṁsu kho te, pāpima, gopālakā pasupālakā kassakā pathāvino āyasmantaṁ sañjīvaṁ piṇḍāya carantaṁ;
disvāna nesaṁ etadahosi:
‘acchariyaṁ vata bho, abbhutaṁ vata, bho.
Ayaṁ samaṇo nisinnakova kālaṅkato, svāyaṁ paṭisañjīvito’ti.
Iminā kho evaṁ, pāpima, pariyāyena āyasmato sañjīvassa sañjīvoteva samaññā udapādi.
Atha kho, pāpima, dūsissa mārassa etadahosi:
‘imesaṁ kho ahaṁ bhikkhūnaṁ sīlavantānaṁ kalyāṇadhammānaṁ neva jānāmi āgatiṁ vā gatiṁ vā.
Yannūnāhaṁ brāhmaṇagahapatike anvāviseyyaṁ—
etha, tumhe bhikkhū sīlavante kalyāṇadhamme akkosatha paribhāsatha rosetha vihesetha.
Appeva nāma tumhehi akkosiyamānānaṁ paribhāsiyamānānaṁ rosiyamānānaṁ vihesiyamānānaṁ siyā cittassa aññathattaṁ, yathā taṁ dūsī māro labhetha otāran’ti.
Atha kho te, pāpima, dūsī māro brāhmaṇagahapatike anvāvisi:
‘etha, tumhe bhikkhū sīlavante kalyāṇadhamme akkosatha paribhāsatha rosetha vihesetha.
Appeva nāma tumhehi akkosiyamānānaṁ paribhāsiyamānānaṁ rosiyamānānaṁ vihesiyamānānaṁ siyā cittassa aññathattaṁ, yathā taṁ dūsī māro labhetha otāran’ti.
Atha kho te, pāpima, brāhmaṇagahapatikā anvāvisiṭṭhā dūsinā mārena bhikkhū sīlavante kalyāṇadhamme akkosanti paribhāsanti rosenti vihesenti:
‘ime pana muṇḍakā samaṇakā ibbhā kiṇhā bandhupādāpaccā “jhāyinosmā jhāyinosmā”ti pattakkhandhā adhomukhā madhurakajātā jhāyanti pajjhāyanti nijjhāyanti apajjhāyanti.
Seyyathāpi nāma ulūko rukkhasākhāyaṁ mūsikaṁ maggayamāno jhāyati pajjhāyati nijjhāyati apajjhāyati;
evamevime muṇḍakā samaṇakā ibbhā kiṇhā bandhupādāpaccā “jhāyinosmā jhāyinosmā”ti pattakkhandhā adhomukhā madhurakajātā jhāyanti pajjhāyanti nijjhāyanti apajjhāyanti.
Seyyathāpi nāma kotthu nadītīre macche maggayamāno jhāyati pajjhāyati nijjhāyati apajjhāyati;
evamevime muṇḍakā samaṇakā ibbhā kiṇhā bandhupādāpaccā “jhāyinosmā jhāyinosmā”ti pattakkhandhā adhomukhā madhurakajātā jhāyanti pajjhāyanti nijjhāyanti apajjhāyanti.
Seyyathāpi nāma biḷāro sandhisamalasaṅkaṭīre mūsikaṁ maggayamāno jhāyati pajjhāyati nijjhāyati apajjhāyati;
evamevime muṇḍakā samaṇakā ibbhā kiṇhā bandhupādāpaccā “jhāyinosmā jhāyinosmā”ti pattakkhandhā adhomukhā madhurakajātā jhāyanti pajjhāyanti nijjhāyanti apajjhāyanti.
Seyyathāpi nāma gadrabho vahacchinno sandhisamalasaṅkaṭīre jhāyati pajjhāyati nijjhāyati apajjhāyati;
evamevime muṇḍakā samaṇakā ibbhā kiṇhā bandhupādāpaccā “jhāyinosmā jhāyinosmā”ti pattakkhandhā adhomukhā madhurakajātā jhāyanti pajjhāyanti nijjhāyanti apajjhāyantī’ti.
Ye kho pana, pāpima, tena samayena manussā kālaṁ karonti yebhuyyena kāyassa bhedā paraṁ maraṇā apāyaṁ duggatiṁ vinipātaṁ nirayaṁ upapajjanti.
Atha kho, pāpima, kakusandho bhagavā arahaṁ sammāsambuddho bhikkhū āmantesi:
‘anvāviṭṭhā kho, bhikkhave, brāhmaṇagahapatikā dūsinā mārena—
etha, tumhe bhikkhū sīlavante kalyāṇadhamme akkosatha paribhāsatha rosetha vihesetha, appeva nāma tumhehi akkosiyamānānaṁ paribhāsiyamānānaṁ rosiyamānānaṁ vihesiyamānānaṁ siyā cittassa aññathattaṁ, yathā taṁ dūsī māro labhetha otāran’ti.
Etha, tumhe, bhikkhave, mettāsahagatena cetasā ekaṁ disaṁ pharitvā viharatha, tathā dutiyaṁ, tathā tatiyaṁ, tathā catutthaṁ. Iti uddhamadho tiriyaṁ sabbadhi sabbattatāya sabbāvantaṁ lokaṁ mettāsahagatena cetasā vipulena mahaggatena appamāṇena averena abyābajjhena pharitvā viharatha.
Karuṇāsahagatena cetasā …pe…
muditāsahagatena cetasā …pe…
upekkhāsahagatena cetasā ekaṁ disaṁ pharitvā viharatha, tathā dutiyaṁ, tathā tatiyaṁ, tathā catutthaṁ. Iti uddhamadho tiriyaṁ sabbadhi sabbattatāya sabbāvantaṁ lokaṁ upekkhāsahagatena cetasā vipulena mahaggatena appamāṇena averena abyābajjhena pharitvā viharathā’ti.
Atha kho te, pāpima, bhikkhū kakusandhena bhagavatā arahatā sammāsambuddhena evaṁ ovadiyamānā evaṁ anusāsiyamānā araññagatāpi rukkhamūlagatāpi suññāgāragatāpi mettāsahagatena cetasā ekaṁ disaṁ pharitvā vihariṁsu, tathā dutiyaṁ, tathā tatiyaṁ, tathā catutthaṁ. Iti uddhamadho tiriyaṁ sabbadhi sabbattatāya sabbāvantaṁ lokaṁ mettāsahagatena cetasā vipulena mahaggatena appamāṇena averena abyābajjhena pharitvā vihariṁsu.
Karuṇāsahagatena cetasā …pe…
muditāsahagatena cetasā …pe…
upekkhāsahagatena cetasā ekaṁ disaṁ pharitvā vihariṁsu, tathā dutiyaṁ, tathā tatiyaṁ, tathā catutthaṁ. Iti uddhamadho tiriyaṁ sabbadhi sabbattatāya sabbāvantaṁ lokaṁ upekkhāsahagatena cetasā vipulena mahaggatena appamāṇena averena abyābajjhena pharitvā vihariṁsu.
Atha kho, pāpima, dūsissa mārassa etadahosi:
‘evampi kho ahaṁ karonto imesaṁ bhikkhūnaṁ sīlavantānaṁ kalyāṇadhammānaṁ neva jānāmi āgatiṁ vā gatiṁ vā, yannūnāhaṁ brāhmaṇagahapatike anvāviseyyaṁ:
“etha, tumhe bhikkhū sīlavante kalyāṇadhamme sakkarotha garuṁ karotha mānetha pūjetha,
appeva nāma tumhehi sakkariyamānānaṁ garukariyamānānaṁ māniyamānānaṁ pūjiyamānānaṁ siyā cittassa aññathattaṁ, yathā taṁ dūsī māro labhetha otāran”’ti.
Atha kho te, pāpima, dūsī māro brāhmaṇagahapatike anvāvisi:
‘etha, tumhe bhikkhū sīlavante kalyāṇadhamme sakkarotha garuṁ karotha mānetha pūjetha,
appeva nāma tumhehi sakkariyamānānaṁ garukariyamānānaṁ māniyamānānaṁ pūjiyamānānaṁ siyā cittassa aññathattaṁ, yathā taṁ dūsī māro labhetha otāran’ti.
Atha kho te, pāpima, brāhmaṇagahapatikā anvāviṭṭhā dūsinā mārena bhikkhū sīlavante kalyāṇadhamme sakkaronti garuṁ karonti mānenti pūjenti.
Ye kho pana, pāpima, tena samayena manussā kālaṁ karonti yebhuyyena kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapajjanti.
Atha kho, pāpima, kakusandho bhagavā arahaṁ sammāsambuddho bhikkhū āmantesi:
‘anvāviṭṭhā kho, bhikkhave, brāhmaṇagahapatikā dūsinā mārena:
“etha, tumhe bhikkhū sīlavante kalyāṇadhamme sakkarotha garuṁ karotha mānetha pūjetha,
appeva nāma tumhehi sakkariyamānānaṁ garukariyamānānaṁ māniyamānānaṁ pūjiyamānānaṁ siyā cittassa aññathattaṁ, yathā taṁ dūsī māro labhetha otāran”ti.
Etha, tumhe, bhikkhave, asubhānupassino kāye viharatha, āhāre paṭikūlasaññino, sabbaloke anabhiratisaññino, sabbasaṅkhāresu aniccānupassino’ti.
Atha kho te, pāpima, bhikkhū kakusandhena bhagavatā arahatā sammāsambuddhena evaṁ ovadiyamānā evaṁ anusāsiyamānā araññagatāpi rukkhamūlagatāpi suññāgāragatāpi asubhānupassino kāye vihariṁsu, āhāre paṭikūlasaññino, sabbaloke anabhiratisaññino, sabbasaṅkhāresu aniccānupassino.
Atha kho, pāpima, kakusandho bhagavā arahaṁ sammāsambuddho pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya āyasmatā vidhurena pacchāsamaṇena gāmaṁ piṇḍāya pāvisi.
Atha kho, pāpima, dūsī māro aññataraṁ kumārakaṁ anvāvisitvā sakkharaṁ gahetvā āyasmato vidhurassa sīse pahāramadāsi; sīsaṁ vobhindi.
Atha kho, pāpima, āyasmā vidhuro bhinnena sīsena lohitena gaḷantena kakusandhaṁyeva bhagavantaṁ arahantaṁ sammāsambuddhaṁ piṭṭhito piṭṭhito anubandhi.
Atha kho, pāpima, kakusandho bhagavā arahaṁ sammāsambuddho nāgāpalokitaṁ apalokesi:
‘na vāyaṁ dūsī māro mattamaññāsī’ti.
Sahāpalokanāya ca pana, pāpima, dūsī māro tamhā ca ṭhānā cavi mahānirayañca upapajji.
Tassa kho pana, pāpima, mahānirayassa tayo nāmadheyyā honti—
chaphassāyataniko itipi, saṅkusamāhato itipi, paccattavedaniyo itipi.
Atha kho maṁ, pāpima, nirayapālā upasaṅkamitvā etadavocuṁ:
‘yadā kho te, mārisa, saṅkunā saṅku hadaye samāgaccheyya.
Atha naṁ tvaṁ jāneyyāsi:
“vassasahassaṁ me niraye paccamānassā”’ti.
So kho ahaṁ, pāpima, bahūni vassāni bahūni vassasatāni bahūni vassasahassāni tasmiṁ mahāniraye apacciṁ.
Dasavassasahassāni tasseva mahānirayassa ussade apacciṁ vuṭṭhānimaṁ nāma vedanaṁ vediyamāno.
Tassa mayhaṁ, pāpima, evarūpo kāyo hoti, seyyathāpi manussassa.
Evarūpaṁ sīsaṁ hoti, seyyathāpi macchassa.
Kīdiso nirayo āsi,
yattha dūsī apaccatha;
Vidhuraṁ sāvakamāsajja,
kakusandhañca brāhmaṇaṁ.
Sataṁ āsi ayosaṅkū,
sabbe paccattavedanā;
Īdiso nirayo āsi,
yattha dūsī apaccatha;
Vidhuraṁ sāvakamāsajja,
kakusandhañca brāhmaṇaṁ.
Yo etamabhijānāti,
bhikkhu buddhassa sāvako;
Tādisaṁ bhikkhumāsajja,
kaṇha dukkhaṁ nigacchasi.
Majjhe sarassa tiṭṭhanti,
vimānā kappaṭṭhāyino;
Veḷuriyavaṇṇā rucirā,
accimanto pabhassarā;
Accharā tattha naccanti,
puthu nānattavaṇṇiyo.
Yo etamabhijānāti,
bhikkhu buddhassa sāvako;
Tādisaṁ bhikkhumāsajja,
kaṇha dukkhaṁ nigacchasi.
Yo ve buddhena codito,
bhikkhu saṅghassa pekkhato;
Migāramātupāsādaṁ,
pādaṅguṭṭhena kampayi.
Yo etamabhijānāti,
bhikkhu buddhassa sāvako;
Tādisaṁ bhikkhumāsajja,
kaṇha dukkhaṁ nigacchasi.
Yo vejayantaṁ pāsādaṁ,
pādaṅguṭṭhena kampayi;
Iddhibalenupatthaddho,
saṁvejesi ca devatā.
Yo etamabhijānāti,
bhikkhu buddhassa sāvako;
Tādisaṁ bhikkhumāsajja,
kaṇha dukkhaṁ nigacchasi.
Yo vejayantapāsāde,
sakkaṁ so paripucchati;
Api vāsava jānāsi,
taṇhākkhayavimuttiyo;
Tassa sakko viyākāsi,
pañhaṁ puṭṭho yathātathaṁ.
Yo etamabhijānāti,
bhikkhu buddhassa sāvako;
Tādisaṁ bhikkhumāsajja,
kaṇha dukkhaṁ nigacchasi.
Yo brahmaṁ paripucchati,
sudhammāyābhito sabhaṁ;
Ajjāpi tyāvuso diṭṭhi,
yā te diṭṭhi pure ahu;
Passasi vītivattantaṁ,
brahmaloke pabhassaraṁ.
Tassa brahmā viyākāsi,
anupubbaṁ yathātathaṁ;
Na me mārisa sā diṭṭhi,
yā me diṭṭhi pure ahu.
Passāmi vītivattantaṁ,
brahmaloke pabhassaraṁ;
Sohaṁ ajja kathaṁ vajjaṁ,
ahaṁ niccomhi sassato.
Yo etamabhijānāti,
bhikkhu buddhassa sāvako;
Tādisaṁ bhikkhumāsajja,
kaṇha dukkhaṁ nigacchasi.
Yo mahāmeruno kūṭaṁ,
vimokkhena aphassayi;
Vanaṁ pubbavidehānaṁ,
ye ca bhūmisayā narā.
Yo etamabhijānāti,
bhikkhu buddhassa sāvako;
Tādisaṁ bhikkhumāsajja,
kaṇha dukkhaṁ nigacchasi.
Na ve aggi cetayati,
‘ahaṁ bālaṁ ḍahāmī’ti;
Bālo ca jalitaṁ aggiṁ,
āsajja naṁ sa ḍayhati.
Evameva tuvaṁ māra,
āsajja naṁ tathāgataṁ;
Sayaṁ ḍahissasi attānaṁ,
bālo aggiṁva samphusaṁ.
Apuññaṁ pasavī māro,
āsajja naṁ tathāgataṁ;
Kiṁ nu maññasi pāpima,
na me pāpaṁ vipaccati.
Karoto cīyati pāpaṁ,
cirarattāya antaka;
Māra nibbinda buddhamhā,
āsaṁ mākāsi bhikkhusu.
Iti māraṁ atajjesi,
bhikkhu bhesakaḷāvane;
Tato so dummano yakkho,
tatthevantaradhāyathā”ti.
Māratajjanīyasuttaṁ niṭṭhitaṁ dasamaṁ.
Cūḷayamakavaggo niṭṭhito pañcamo.
Tassuddānaṁ
Sāleyya verañjaduve ca tuṭṭhi,
Cūḷamahādhammasamādānañca;
Vīmaṁsakā kosambi ca brāhmaṇo,
Dūsī ca māro dasamo ca vaggo.
Idaṁ vaggānamuddānaṁ
Mūlapariyāyo ceva,
sīhanādo ca uttamo;
Kakaco ceva gosiṅgo,
sāleyyo ca ime pañca.
Mūlapaṇṇāsakaṁ samattaṁ.
Dhdas-bh 1Nya 1Thus have I heard: At one time the venerable Moggallāna the Great was staying among the Bhaggas in Sumsumāragira in Bhesakaḷā Grove in the deer-park. Now at that time the venerable Moggallāna the Great was pacing up and down in the open. Now at that time Māra the Evil One, entering the venerable Moggallāna the Great's belly, got into his stomach. Then it occurred to the venerable Moggallāna the Great: “Now why is my belly heavy as if it were heaped full?” Then the venerable Moggallāna the Great, having come down from the place for pacing up and down in, having entered the dwelling-place, sat down on a seat made ready. As he was sitting down, the venerable Moggallāna the Great reflected carefully about himself. Then the venerable Moggallāna the Great saw that Māra the Evil One, having entered his belly, had got into his stomach; seeing him, he spoke thus to Māra the Evil One:
Dhdas-bh 2“Get out, Evil One; Evil One, get out; do not annoy a Tathāgata, PTS vp En 396 or a Tathāgata's disciple, lest for a long time there be woe and sorrow for you.”
Dhdas-bh 3Then it occurred to Māra the Evil One: “This recluse speaks thus not even knowing, not even seeing me: ‘Get out, Evil One, Evil One, get out. Do not annoy a Tathāgata or a Tathāgata's disciple, lest for a long time there be woe and sorrow for you.’ Even his teacher could not know me so quickly, so how can this disciple know me?”
Dhdas-bh 4Then the venerable Moggallāna the Great spoke thus to Māra the Evil One: “But I do know you, Evil One. Do not you think: ‘He does not know me.’ You, Evil One, are Māra. It occurred to you, Evil One: “This recluse speaks thus not even knowing, not even seeing me: ‘Get out, Evil One, Evil One, get out. Do not annoy a Tathāgata or a Tathāgata's disciple, lest for a long time there be woe and sorrow for you.’ Even his teacher could not know me so quickly, so how can this disciple know me?”
Dhdas-bh 5Then it occurred to Māra the Evil One: “It is because this recluse knows and sees me that he speaks thus: ‘Get out, Evil One, Evil One, get out. Do not annoy a Tathāgata or a Tathāgata's disciple, lest for a long time there be woe and sorrow for you.’ Then Māra the Evil One, having gone out through the venerable Moggallāna the Great's mouth, stood against the door.
Dhdas-bh 6Then the venerable Moggallāna the Great saw Māra the Evil One standing against the door; seeing him, he spoke thus to Māra the Evil One: “Indeed I do see you now, Evil One. Do not think: ‘He does not see me’; it is you, Evil One, standing against the door. Once upon a time, I, Evil One, was the Māra called Dūsin; as such, Kāḷi was the name of my sister, you were her son, thus you were my nephew. Now at that time, Evil One, Kakusandha, the Lord, the perfected one, fully self-awakened one, had uprisen in the world. Now, Evil One, Vidhura and Sañjīva were the pair of disciples which was the chief, the lucky pair of Kakusandha, the Lord, the perfected one, the fully self-awakened one. Of all the disciples, Evil One, of Kakusandha, the Lord, perfected one, fully self-awakened one, there was none there equal to the venerable Vidhura in regard to teaching Dhamma. It was because of this, PTS vp En 397 Evil One, that the venerable Vidhura's name came to be Vidhura, the Peerless. But the venerable Sañjīva, Evil One, forest-gone, gone to the roots of trees and gone to empty places, with no trouble attained the stopping of perceiving and feeling.
Dhdas-bh 7Once upon a time, Evil One, the venerable Sañjīva was sitting at the root of a certain tree attaining the stopping of perceiving and feeling. Then, Evil One, cowherds, goatherds, yeoman farmers, travellers, saw the venerable Sañjīva sitting at the root of that tree attaining the stopping of perceiving and feeling; having seen him, it occurred to them: ‘Indeed it is wonderful, indeed it is marvellous, that this recluse is just sitting dead. Come, we will cremate him.’ Then, Evil One, these cowherds, goatherds, yeomen farmers, travellers, having collected grass and sticks and cow-dung and having heaped them over the venerable Sañjīva's body, lit the fire and departed.
Dhdas-bh 8Then, Evil One, the venerable Sañjīva, having emerged towards the end of that night from that attainment, having shaken his robes, having dressed in the morning, taking his bowl and robe, entered a village for almsfood. Evil One, those cowherds, goatherds, yeomen farmers and travellers saw the venerable Sañjīva walking for almsfood; having seen him, it occurred to them: ‘Indeed it is wonderful, indeed it is marvellous that this recluse who was just sitting dead, that he has come back to life.’
Dhdas-bh 9It was because of this, Evil One, that the venerable Sañjīva's name came to be Sañjīva, the Quick . Then, Evil One, it occurred to the Māra Dūsin: ‘I simply do not know either the coming or the going of these monks who are of moral habit, lovely in character. Suppose I were to visit brahmans and householders (and say): “Come, do you revile, abuse, vex, annoy the monks who are of good moral habit, lovely in character, for it is likely that when they are being reviled, abused, vexed and annoyed by PTS vp En 399 you there will be a change of heart so that Dūsin the Māra might get a chance over them.”
Dhdas-bh 10Then, Evil One, the Māra Dūsin visited brahmans and householders (and said): “Come, do you revile, abuse, vex, annoy the monks who are of good moral habit, lovely in character, for it is likely that when they are being reviled, abused, vexed and annoyed by you there will be a change of heart so that Dūsin the Māra might get a chance over them.” Then, Evil One, those brahmans and householders who had been visited by the Māra Dūsin reviled, abused, vexed and annoyed the monks who were of good moral habit, lovely in character, saying: ‘But these little shaveling recluses are menials, black, the offscourings of our kinsman's PTS vp En 398 feet. They say, “We are meditatives, we are meditatives”, and with their shoulders drooping, with their faces cast down, as if drugged, they meditate, they meditate absorbed, they meditate more absorbed, they meditate quite absorbed.
Dhdas-bh 11As an owl on the branch of a tree when tracking a mouse meditates, meditates absorbed, meditates more absorbed, meditates quite absorbed, so do these little shaveling recluses, menials, black the offscourings of our kinsman's feet meditate quite absorbed. And as a jackal on the bank of a river when tracking fish meditates, meditates absorbed, meditates more absorbed, meditates quite absorbed, so do these little shaveling recluses, menials, black the offscourings of our kinsman's feet meditate quite absorbed. And as a cat on the edge of a refuse heap when tracking a mouse meditates, meditates absorbed, meditates more absorbed, meditates quite absorbed, so do these little shaveling recluses, menials, black the offscourings of our kinsman's feet meditate quite absorbed. And as an ass at the edge of a refuse-heap, its burden removed, meditates, meditates absorbed, meditates more absorbed, meditates quite absorbed, so do these little shaveling recluses, menials, black, the offscourings of our kinsman's feet, saying: ‘We are meditatives, we are meditatives,’ with their shoulders drooping, with their faces cast down, as if drugged, meditate, meditate absorbed, meditate more absorbed, meditate quite absorbed.
Dhdas-bh 12Evil One, nearly all the people who passed away at that time, at the breaking up of the body after dying arose in a sorrowful state, a bad bourn, the abyss, Niraya Hell. Then, Evil One, Kakusandha, the Lord, perfected one, fully self-awakened one, addressed the monks, saying: ‘Monks, brahmans and householders have been visited by the Māra Dūsin (who said): “Come, do you revile, abuse, vex, annoy the monks who are of good moral habit, lovely in character, for it is likely that when they are being reviled, abused, vexed and annoyed by you there will be a change of heart so that Dūsin the Māra might get a chance over them.” Come, do you, monks, (1) abide, having suffused the first quarter with a mind of friendliness, likewise the second, likewise the third, likewise the fourth; just so above, below, across; abide having suffused the whole world, everywhere, in every way with a mind of friendliness, that is far-reaching, widespread, immeasurable, without enmity, without malevolence. (2) Abide, having suffused the first quarter with a mind of compassion, likewise the second, likewise the third, likewise the fourth; just so above, below, across; abide having suffused the whole world, everywhere, in every way with a mind of compassion, that is far-reaching, widespread, immeasurable, without enmity, without malevolence. (3) Abide, having suffused the first quarter with a mind of sympathetic joy, likewise the second, likewise the third, likewise the fourth; just so above, below, across; abide having suffused the whole world, everywhere, in every way with a mind of sympathetic joy, that is far-reaching, widespread, immeasurable, without enmity, without malevolence. (4) Abide, having suffused the first quarter with a mind of equanimity, likewise the second, likewise the third, likewise the fourth; just so above, below, across; abide having suffused the whole world, everywhere, in every way with a mind of equanimity, that is far-reaching, widespread, immeasurable, without enmity, without malevolence.
Dhdas-bh 13Then, Evil One, these monks, forest-gone and gone to the roots of trees and gone to empty places, thus exhorted, thus instructed by Kakusandha, the Lord, perfected one, fully self-awakened one, (1) abided, having suffused the first quarter with a mind of friendliness, likewise the second, like wise the third, likewise the fourth; just so above, below, across; abide having suffused the whole world, everywhere, in every way with a mind of friendliness, that is far-reaching, widespread, immeasurable, without enmity, without malevolence. (2) Abided, having suffused the first quarter with a mind of compassion, likewise the second, likewise the third, likewise the fourth; just so above, below, across; abide having suffused the whole world, everywhere, in every way with a mind of friendliness, that is far-reaching, widespread, immeasurable, without enmity, without malevolence. (3) Abided, having suffused the first quarter with a mind of sympathetic joy, likewise the second, likewise the third, likewise the fourth; just so above, below, across; abide having suffused the whole world, everywhere, in every way with a mind of sympathetic joy, that is far-reaching, widespread, immeasurable, without enmity, without malevolence. (4) Abided, having suffused the first quarter with a mind of equanimity, likewise the second, likewise the third, likewise the fourth; just so above, below, across; abide having suffused the whole world, everywhere, in every way with a mind of equanimity, that is far-reaching, widespread, immeasurable, without enmity, without malevolence.
Dhdas-bh 14Then, Evil One, it occurred to the Māra Dūsin: ‘Even although I am working thus, I do not know the coming or the going of these monks who are of good moral habit, lovely in character. Suppose I were to visit brahmans and householders (and say): “Come, do you reverence, revere, respect, honour the monks who are of good moral habit, lovely in character, for it is likely that when they are being reverenced, revered, respected and honoured by you, there will be a change of heart, so that Dūsin the Māra can get a chance over them.”’ Then, Evil One, the Māra Dūsin visited these brahmans and householders (and said): “Come, do you reverence, revere, respect, honour the monks who are of good moral habit, lovely in character, for it is likely that when they are being reverenced, revered, respected and honoured by you, there will be PTS vp En 400 a change of heart, so that Dūsin the Māra can get a chance over them.”’ Then, Evil One, these brahmans and householders who had been visited by Dūsin the Māra, reverenced, revered, respected and honoured those monks who were of good moral habit, lovely in character. Evil One, nearly all the people who passed away at that time, at the breaking up of the body after dying arose in a good bourn, a heaven world.
Dhdas-bh 15Then, Evil One, Kakusandha, the Lord, perfected one, fully self-awakened one, addressed the monks, saying: ‘Monks, brahmans and householders have been visited by the Māra Dūsin (who said): “Come, do you reverence, revere, respect, honour those monks who are of good moral habit, lovely in character, for it is likely that when they are being reverenced, revered, respected and honoured by you there will be a change of heart so that Dūsin the Māra can get a chance over them.” Come, do you, monks, dwell beholding what is unlovely in the body, conscious of the cloying of food, conscious of there being no delight in the whole world, beholding the impermanence of all constructions.’ Then, Evil One, these monks, forest-gone, gone to the roots of trees and gone to empty places, being exhorted thus, being instructed thus by Kakusandha, the Lord, perfected one, fully self-awakened one, dwelt beholding what is unlovely in the body, conscious of the cloying of food, conscious of there being no delight in the whole world, beholding the impermanence of all constructions.
Dhdas-bh 16Then, Evil One, Kakusandha, the Lord, perfected one, fully self-awakened one, having dressed in the morning, taking his bowl and robe, entered a village for almsfood with the venerable Vidhura as his attendant. Then, Evil One, Dūsin the Māra, having visited a certain young man, having taken up a stone, gave a blow to the venerable Vidhura's head; his head split. Then, Evil One, the venerable Vidhura with his head broken and dripping with blood, even so, followed close after Kakusandha, the Lord, the perfected one, fully self-awakened one. Then, Evil One, Kakusandha, the Lord, perfected one, fully self-awakened one, looked around with the “elephant-look.” and thought: “Indeed, this Dūsin the Māra does not know moderation.” While he was looking PTS vp En 401 around, Evil One, Dūsin the Māra deceased from that place and arose in the Great Niraya Hell.
Dhdas-bh 17Evil One, there are three appellations of that Great Niraya Hell: it is called “Belonging to the sphere of the Six Sensory Impingements” and it is called “The Meeting of the Spikes” and it is called “The Separate Feelings.” Then, Evil One, the guardian of Niraya Hell, having approached me, spoke thus: ‘When, good sir, spike shall meet spike within your heart, then you should understand this: There will be a thousand years of boiling in Niraya Hell for me.’ Then I, Evil One, for many years, for many a hundred, for many a thousand years, boiled in that Great Niraya Hell. After ten thousand years of that Great Niraya Hell itself, feeling a feeling called vuṭṭhānima (pain), I was boiled in Ussada (Hell). Because of this, Evil One, my body came to be such, like a man's; my head came to be such, like a fish's.”
Dhdas-bh 18What was that Niraya Hell like where Dūsin was boiled,
For striking the disciple Vidhura and the brahman Kakusandha?
It was that of the hundred iron spikes, all suffered separately.
This was the Niraya Hell where Dūsin was boiled,
For striking the disciple Vidhura and the brahman Kakusandha.
Dhdas-bh 19Whatever monk, the Awakened One's disciple, understands this:
Dhdas-bh 20Dark One, for striking such a monk you go to suffering.
Mansions stand for an eon in the middle of the sea,
The hue of beryl-stones, brilliant, glowing, radiant;
There dance full many nymphs in divers hues.
Dhdas-bh 21Whatever monk, the Awakened One's disciple, understands this:
Dhdas-bh 22Dark One, for striking such a monk you go to suffering.
Whoever, urged on by the Awakened One, watched by the Order of monks,
With his great toe shakes the palace of Migāra's mother.
Dhdas-bh 23PTS vp En 402 Whatever monk, the Awakened One's disciple, understands this:
Dhdas-bh 24Dark One, for striking such a monk you go to suffering.
Whoever with his great toe shakes Vejayanta Palace,
Rigid through psychic power and strongly moves the devatās.
Dhdas-bh 25Whatever monk, the Awakened One's disciple, understands this:
Dhdas-bh 26Dark One, for striking such a monk you go to suffering.
Whoever inquires of Sakka in the Vejayanta Palace,
Have you, friend, found the freedoms by the destruction of craving?
To whom Sakka truthfully answers the question put to him.
Dhdas-bh 27Whatever monk, the Awakened One's disciple, understands this:
Dhdas-bh 28Dark One, for striking such a monk you go to suffering.
Whoever inquires of Brahmā in conclave in Sudhammā's hall,
Do you, friend, even today hold those views which formerly were views of yours?
Dhdas-bh 29Do you see the passing radiance in the Brahma-world?
To whom, Brahmā truthfully answers (those questions) in succession:
Good sir, those views are not mine which formerly were views of mine;
I see the passing radiance in the Brahma-world;
How could I say today: I am permanent, eternal?
Dhdas-bh 30Whatever monk, the Awakened One's disciple, understands this:
Dhdas-bh 31Dark One, for striking such a monk you go to suffering.
Who, by deliverance, has gained great Neru's peak,
The forest of the Eastern Videhas, and whatever men sleep on the ground.
Dhdas-bh 32Whatever monk, the Awakened One's disciple, understands this:
Dhdas-bh 33Dark One, for striking such a monk you go to suffering.
Verily, a fire does not think, ‘I am burning a fool,’
For the fool is burnt by assailing the blazing fire;
Even so, you, Māra, by assailing the Tathāgata,
Will yourself burn yourself like a fool touching a fire.
Dhdas-bh 34Māra acquires demerit for assailing a Tathāgata.
But do you not think, Evil One: Evil does not mature for me?
The evil done (by you) must be heaped up for a long time, End-maker.
Māra, turn away from the Wake, have no hopes among the monks.
Dhdas-bh 35Thus did a monk tilt at Māra in the Bhesakaḷā Grove,
Wherefore that dejected fiend vanished then and there.”
Discourse on a Rebuke to Māra: The Tenth
TOLD ARE THE FIRST FIFTY
Như vầy tôi nghe.
SC 1Một thời Tôn giả Mahā Moggallāna trú giữa dân chúng Bhagga, tại Sumsumaragira, rừng Bhessakalavana, vườn Lộc Uyển.
SC 2Lúc bấy giờ, Tôn giả Mahā Moggallāna đang đi kinh hành ngoài trời. Khi ấy Ác ma đi vào bụng Tôn giả Mahā Moggallāna, ở trong bao tử. Rồi Tôn giả Mahā Moggallāna nghĩ như sau: “Nay sao bụng của Ta lại nặng nặng như có gì chồng chất quá đầy?” Rồi Tôn giả Mahā Moggallāna từ chỗ kinh hành bước xuống, đi vào tự viện, và ngồi trên chỗ đã soạn sẵn.
SC 3Sau khi ngồi, Tôn giả Mahā Moggallāna tự chánh niệm. Tôn giả Mahā Moggallāna thấy Ác ma, sau khi đi vào trong bụng, đang ở trong bao tử. Thấy vậy, Tôn giả liền nói với Ác ma
SC 4—Hãy đi ra, Ác ma! Hãy đi ra, Ác ma! Chớ có phiền nhiễu Như Lai và đệ tử Như Lai. Chớ có khiến cho Ngươi bị bất hạnh, đau khổ lâu dài!
SC 5Rồi Ác ma suy nghĩ: “Vị Sa-môn này không biết ta, không thấy ta, lại nói như sau: “Hãy đi ra, Ác ma! Hãy đi ra Ác ma! Chớ có phiền nhiễu Như Lai, và đệ tử Như Lai. Chớ có khiến cho Ngươi bị bất hạnh, đau khổ lâu dài”. Chính vị Bổn sư cũng chưa biết ta mau như vậy, làm sao vị đệ tử này có thể biết ta được?”
SC 6Rồi Tôn giả Mahā Moggallāna lại nói với Ác ma như sau
SC 7—Này Ác ma, ta biết Ngươi. Ðừng có nghĩ rằng: “Vị ấy không biết ta”. Ngươi là Ác ma. Này Ác ma, Ngươi nghĩ như sau: “Vị Sa-môn này không biết ta, không thấy ta, lại nói như sau: “Hãy đi ra, Ác ma! Hãy đi ra Ác ma! Chớ có phiền nhiễu Như Lai và đệ tử Như Lai. Chớ có khiến cho Ngươi bị bất hạnh, đau khổ lâu dài!” Chính vị Bổn sư cũng không biết ta mau như vậy, làm sao vị đệ tử này có thể biết ta được?”
SC 8Rồi Ác ma suy nghĩ như sau: “Vị Sa-môn này biết ta, thấy ta và nói như sau: “Hãy đi ra, Ác ma! Hãy đi ra, Ác ma! Chớ có phiền nhiễu Như Lai và đệ tử Như Lai. Chớ có khiến cho Ngươi bị bất hạnh, đau khổ lâu dài” ”. Rồi Ác ma từ miệng Tôn giả Mahā Moggallāna bước ra, và đứng dựa nơi cửa miệng. Tôn giả Mahā Moggallāna thấy Ác ma đứng dựa nơi cửa miệng, bèn nói Ác ma
SC 9—Ác ma, ở đây, ta cũng thấy Ngươi. Ngươi chớ có nghĩ rằng: “Vị ấy không thấy ta”. Này Ác ma, nay Ngươi đang đứng dựa nơi cửa miệng. Này Ác ma, thuở xưa, ta là Ác ma tên là Dusi, và chị ta tên là Kālī. Ngươi là con trai chị ta. Như vậy Ngươi là cháu ta.
SC 10Này Ác ma, lúc bấy giờ, Thế Tôn Kakusandha, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác ra đời. Thế Tôn Kakusandha, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác có hai vị đệ tử tên là Vidhura, và Sanjiva, hai bậc tối thượng, hai bậc Hiền giả. Này Ác ma, đối với các vị đệ tử của Thế Tôn Kakusandha, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác không một ai ở đây có thể bằng Tôn giả Vidhura về thuyết pháp. Này Ác ma, vì lý do này, Tôn giả Vidhura được gọi là Vidhura (Vô song). Còn Tôn giả Sanjiva là vị đi rừng, đi gốc cây, đi các chỗ không người và chứng Diệt thọ tưởng định không khó khăn gì.
SC 11Này Ác ma, thuở xưa, Tôn giả Sanjiva đang ngồi nhập Diệt thọ tưởng định dưới một gốc cây. Này Ác ma, các người chăn bò, chăn thú, làm ruộng, các lữ hành thấy Tôn giả Sanjiva đang ngồi nhập Diệt thọ tưởng định dưới một gốc cây, thấy vậy liền nói với nhau như sau: “Thật vị diệu thay, này các Tôn giả! Thật hy hữu thay, này các Tôn giả! Vị Sa-môn này chết mà vẫn ngồi. Chúng ta hãy hỏa táng ngài!” Rồi này Ác ma, các người chăn bò, chăn thú, làm ruộng, các lữ hành liền thâu lượm cỏ, củi và phân bò chồng lên thân Tôn giả Sanjiva, đốt lửa và bỏ đi.
SC 12Này Ác ma, Tôn giả Sanjiva, sau khi đêm ấy đã tàn, liền xuất định, phủi áo, vào buổi sáng đắp y, cầm y bát vào làng khất thực. Này Ác ma, các người chăn bò, chăn thú, làm ruộng, các lữ hành thấy Tôn giả Sanjiva đang đi khất thực, thấy vậy liền nghĩ: “Thật vị diệu thay, này các Tôn giả! Thật hy hữu thay, này các Tôn giả! Vị Sa-môn này chết mà vẫn ngồi, nay được sống lại”. Này Ác ma, vì lý do này, Tôn giả Sanjiva được xưng danh là Sanjiva, Sanjiva.
SC 13Này Ác ma, rồi Ác ma Dusi nghĩ như sau: “Ta không biết chỗ đến và chỗ đi của các vị Tỷ-kheo có giới hạnh và thiện pháp này. Vậy nay ta hãy nhập vào hàng Bà-la-môn gia chủ và nói như sau: “Hãy đến phỉ báng, mạ lị, thống trách và nhiễu hại các vị Tỷ-kheo có giới hạnh và thiện tánh. Do bị phỉ báng, mạ lị, thống trách và nhiễu hại bởi các Người, các vị ấy có thể đổi tâm và như vậy, Ác ma Dusi mới có dịp để chi phối họ. ”
SC 14Rồi này Ác ma, Ác ma Dusi nhập vào hàng Bà-la-môn gia chủ và phỉ báng, mạ lị, thống trách và nhiễu hại các vị Tỷ-kheo có giới hạnh và thiện tánh như sau: “Những kẻ trọc đầu, Sa-môn giả hiệu, tiện nô, hắc nô, sanh tự gót chân này. Họ nói: “Chúng tôi tu thiền, chúng tôi tu thiền” và với hai vai thụt xuống, với mặt cúi xuống, mê mê dại dại, tu thiền, mê thiền, si thiền, dại thiền. Ví như con cú đậu trên cành cây, khi đang rình chuột; tu thiền, mê thiền, si thiền, dại thiền; cũng vậy, những kẻ trọc đầu, Sa-môn giả hiệu, tiện nô, hắc nô, sanh tự gót chân này. Chúng nói: “Chúng tôi tu thiền, chúng tôi tu thiền”. Và với hai vai thụt xuống, với mặt cúi xuống, mê mê dại dại, tu thiền, mê thiền, si thiền, dại thiền. Ví như con giả can trên bờ sông, khi đang rình cá; tu thiền, mê thiền, si thiền, dại thiền; cũng vậy, những kẻ trọc đầu, Sa-môn giả hiệu, tiện nô, hắc nô, sanh tự gót chân này. Họ nói: “Chúng tôi tu thiền, chúng tôi tu thiền” và với hai vai thụt xuống, với mặt cúi xuống, mê mê dại dại, tu thiền, mê thiền, si thiền, dại thiền. Ví như con mèo ngồi bên đống rác, khi đang rình chuột; tu thiền, mê thiền, si thiền, dại thiền; cũng vậy, những kẻ trọc đầu, Sa-môn giả hiệu, tiện nô, hắc nô, sanh tự gót chân này. Họ nói: “Chúng tôi tu thiền, chúng tôi tu thiền” và với hai vai thụt xuống, với mặt cúi xuống, mê mê dại dại, tu thiền, mê thiền, si thiền, dại thiền. Ví như con lừa, gánh nặng được đặt xuống, đang tu thiền, mê thiền, si thiền, dại thiền; cũng vậy, những kẻ trọc đầu, Sa-môn giả hiệu, tiện nô, hắc nô, sanh tự gót chân này. Chúng nói: “Chúng tôi tu thiền, chúng tôi tu thiền”, và với hai vai thụt xuống, với mặt cúi xuống, mê mê dại dại, tu thiền, mê thiền, si thiền, dại thiền”. Này Ác ma lúc bấy giờ, phần lớn những người ấy sau khi thân hoại mạng chung phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục.
SC 15Rồi này Ác ma, Thế Tôn Kakusandha, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác gọi các Tỷ-kheo:
SC 16“—Này các Tỷ-kheo, những Bà-la-môn gia chủ bị Ác ma Dusi nhập vào và nói: “Hãy đến phỉ báng, mạ lị, thống trách và nhiễu hại các Tỷ-kheo có giới hạnh và thiện tánh. Do bị phỉ báng, mạ lị, thống trách và nhiễu hại bởi các Người, các vị ấy có thể đổi tâm, và như vậy Ác ma Dusi mới có dịp để chi phối họ”.
SC 17Này các Tỷ-kheo, hãy đến biến mãn một phương với tâm câu hữu với từ, rồi an trú, cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như vậy cùng khắp thế giới, trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, an trú biến mãn với tâm câu hữu với từ, quảng đại, vô biên, không hận, không sân. Với tâm câu hữu với bi … với tâm câu hữu với hỷ…, biến mãn một phương với tâm câu hữu với xả, rồi an trú; cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như vậy cùng khắp thế giới, trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, an trú biến mãn với tâm câu hữu với xả, quảng đại, vô biên, không hận, không sân”.
SC 18Rồi Ác ma, các Tỷ-kheo ấy được Thế Tôn Kakusandha, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác khuyến khích như vậy, khuyến giáo như vậy, đi đến khu rừng, đi đến gốc cây, đi đến các chỗ không vắng, biến mãn một phương với tâm câu hữu với từ rồi an trú; cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba; cũng vậy phương thứ tư. Như vậy cùng khắp thế giới, trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, an trú biến mãn với tâm câu hữu với từ, quảng đại, vô biên, không hận, không sân. Với tâm câu hữu với bi … với tâm câu hữu với hỷ … biến mãn một phương với tâm câu hữu với xả rồi an trú; cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như vậy, cùng khắp thế giới, trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, an trú biến mãn với tâm câu hữu với xả, quảng đại, vô biên, không hận, không sân.
SC 19Này Ác ma, rồi Māra Dusi suy nghĩ như sau: “Làm như vậy, ta không thể biết chỗ đến hay chỗ đi của các Tỷ-kheo có giới hạnh và thiện tánh. Vậy ta hãy nhập vào các Bà-la-môn gia chủ và nói như sau: “Hãy đến tán thán, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường các Tỷ-kheo có giới hạnh và thiện tánh này. Do được tán thán, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường, các vị ấy có thể đổi tâm và như vậy, Ác ma Dusi mới có dịp để chi phối họ”.
SC 20Rồi này Ác ma, Ác ma Dusi nhập vào các Bà-la-môn gia chủ và nói: “Hãy đến tán thán, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường các Tỷ-kheo có giới hạnh và thiện tánh. Những vị này được các Ngươi tán thán, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường có thể đổi tâm, và như vậy Ác ma Dusi mới có dịp để chi phối họ”, Rồi này Ác ma, những Bà-la-môn gia chủ, bị Ác ma Dusi xâm nhập, tán thán, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường các Tỷ-kheo có giới hạnh và thiện tánh. Này Ác ma, sau một thời gian những vị này mạng chung và phần lớn sau khi thân hoại mạng chung được sanh lên thiện thú, Thiên giới và đời này.
SC 21Rồi này Ác ma, Thế Tôn Kakusamdha, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác gọi các Tỷ-kheo:
SC 22“—Này các Tỷ-kheo, các Bà-la-môn gia chủ bị Ác ma Dusi xâm nhập và nói như sau: “Các Ngươi hãy đến tán thán, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường các Tỷ-kheo có giới hạnh và thiện tánh. Những vị này được các Ngươi tán thán, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường có thể đổi tâm và như vậy Ác ma Dusi mới có dịp để chi phối họ”. Này các Tỷ-kheo, các Ngươi hãy sống quán bất tịnh trên thân, quán tưởng nhàm chán đối với các món ăn, quán tưởng bất khả lạc đối với tất cả thế gian, quán tánh vô thường đối với tất cả hành”.
SC 23Và này Ác ma, những Tỷ-kheo ấy được Thế Tôn Kakusandha khuyến khích như vậy, khuyến giáo như vậy, đi đến khu rừng, đi đến gốc cây, đi đến các chỗ trống vắng, sống quán (tánh) bất tịnh trên thân, (quán) tưởng nhàm chán đối với các món ăn, (quán) tưởng bất khả lạc đối với tất cả thế gian, quán tánh vô thường đối với tất cả hành.
SC 24Rồi này Ác ma, Thế Tôn Kakusandha, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, buổi sáng đắp y, mang y bát, với Tôn giả Vidhura là thị giả, đi vào làng để khất thực.
SC 25Rồi này Ác ma, Ác ma Dusi nhập vào một đứa trẻ, cầm một hòn đá, đánh trên đầu Tôn giả Vidhura khiến bể đầu. Rồi này Ác ma, Tôn giả Vidhura với đầu bị bể và với máu chảy, vẫn đi sau lưng Thế Tôn Kakusandha, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Rồi này Ác ma, Thế Tôn Kakusandha bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác nhìn xung quanh với cái nhìn con voi chúa và suy nghĩ như sau: “Thật vậy, Ác ma Dusi không biết sự vừa phải”. Này Ác ma, khi Thế Tôn nhìn xung quanh, thì Ác ma Dusi liền từ chỗ ấy từ trần và sinh vào cõi địa ngục.
SC 26Này Ác ma, địa ngục ấy được ba tên gọi: Sáu xúc xứ địa ngục, Thiết qua địa ngục, Biệt thọ khổ địa ngục. Rồi các người giữ địa ngục đến ta và nói như sau: “Này Tôn giả, khi cọc sắt sẽ gặp cọc sắt trong tim của Ngươi, Ngươi mới hiểu như sau: “Ta sẽ bị trụng nước sôi một ngàn năm ở địa ngục.”
SC 27Và ta, này Ác ma, ta bị trụng nước sôi, trải nhiều năm, nhiều trăm năm, nhiều ngàn năm trong địa ngục. Trải qua một vạn năm trong đại địa ngục ấy, ta bị nấu sôi và cảm thọ cảm giác gọi là Vutthanima. Do vậy, này Ác ma, thân của ta là như vậy, thân như con người, và đầu ta là như vậy, đầu như con cá.
SC 281. Ðịa ngục ấy thế nào
Dusi bị nấu sôi
Vì đánh Vidhura,
Ðệ tử Kakusandha.
Có trăm loại cọc sắt,
Tự cảm thọ riêng biệt
Ðịa ngục là như vậy,
Dusi bị nấu sôi.
Vì đánh Vidhura,
Ðệ tử Kakusandha
SC 29Tỷ-kheo đệ tử Phật,
Hiểu biết rõ như vậy.
Vì Ngươi đánh Tỷ-kheo,
Kaṇha chịu khổ thọ,
SC 302. Dựng lên giữa biển cả,
Cung điện trải nhiều kiếp,
Bằng ngọc chói lưu ly,
Huy hoàng cùng chiếu diệu.
Tiên nữ múa tại đây,
Trang sức màu dị biệt.
SC 31Tỷ-kheo đệ tử Phật,
Hiểu biết rõ như vậy.
Vì Ngươi đánh Tỷ-kheo,
Kaṇha chịu khổ Thọ,
SC 323. Ai Thế Tôn khuyến khích,
Ðược chư Tăng chứng kiến,
Với ngón chân rung chuyển,
Lâu đài Vejayanta!
SC 33Tỷ-kheo đệ tử Phật,
Hiểu biết rõ như vậy.
Vì Ngươi đánh Tỷ-kheo,
Kaṇha chịu khổ thọ,
SC 344. Với ngón chân rung chuyển
Lâu đài Vejayanta?
Ðầy đủ thần thông lực,
Chư thiên cũng hoảng sợ.
SC 35Tỷ-kheo đệ tử Phật,
Hiểu biết rõ như vậy.
Vì Ngươi đánh Tỷ-kheo,
Kaṇha chịu khổ thọ,!
SC 365. Ai hỏi vị Sakka,
Tại lầu Vejayanta,
Hiền giả, Người có biết,
Chứng ái tận giải thoát?
Sakka đã chân thành,
Trả lời câu được hỏi.
SC 37Tỷ-kheo đệ tử Phật,
Hiểu biết rõ như vậy.
Vì Ngươi đánh Tỷ-kheo,
Kaṇha chịu khổ thọ,
SC 386. Ai từng hỏi Phạm thiên,
Tại hội chúng Thiện pháp,
Hiền giả nay vẫn chấp,
Các tà kiến thuở xưa,
Có thấy cảnh huy hoàng,
Phạm thiên cảnh Thiên giới?
Brahmà đã chân thành,
Tiếp tục đáp câu hỏi:
Tôn giả, tôi không chấp,
Các tà kiến thuở xưa!
Tôi thấy sự huy hoàng,
Phạm thiên cảnh Thiên giới!
Sao nay tôi nói được,
Tôi thường hằng thường tại?
SC 39Tỷ-kheo đệ tử Phật,
Hiểu biết rõ như vậy.
Vì Ngươi đánh Tỷ-kheo,
Kaṇha chịu khổ thọ!
SC 407. Ai với sự giải thoát,
Cảm xúc Cao sơn đảnh,
Rừng Ðông Videha,
Và người nằm trên đất,
SC 41Tỷ-kheo đệ tử Phật,
Hiểu biết rõ như vậy.
Vì Ngươi đánh Tỷ-kheo,
Kaṇha chịu khổ thọ.
SC 428. Thật sự lửa không nghĩ:
“Ta đốt cháy kẻ ngu”,
Kẻ ngu đột kích lửa,
Tự mình bị thiêu cháy.
Cũng vậy, này Ác ma,
Ngươi đột kích Như Lai.
Tự mình đốt cháy mình
Như kẻ ngu chạm lửa,
Ác ma tạo ác nghiệp,
Do nhiễu hại Như Lai,
Ngươi nghĩ chăng, Ác ma,
“Ác quả không đến ta”.
Ðiều ác Ác ma làm,
Chất chứa đã lâu rồi,
Ác ma, hãy tránh Phật,
Chớ vọng tưởng Tỷ-kheo!
SC 43Tỷ-kheo chống Ác ma,
Tại rừng Bhesakāla,
Vị Dạ xoa, thất vọng,
Biến mất tại chỗ ấy.
Evaṁ me sutaṁ—
ekaṁ samayaṁ āyasmā mahāmoggallāno bhaggesu viharati susumāragire bhesakaḷāvane migadāye.
Tena kho pana samayena āyasmā mahāmoggallāno abbhokāse caṅkamati.
Tena kho pana samayena māro pāpimā āyasmato mahāmoggallānassa kucchigato hoti koṭṭhamanupaviṭṭho.
Atha kho āyasmato mahāmoggallānassa etadahosi:
“kiṁ nu kho me kucchi garugaro viya?
Māsācitaṁ maññe”ti.
Atha kho āyasmā mahāmoggallāno caṅkamā orohitvā vihāraṁ pavisitvā paññatte āsane nisīdi.
Nisajja kho āyasmā mahāmoggallāno paccattaṁ yoniso manasākāsi.
Addasā kho āyasmā mahāmoggallāno māraṁ pāpimantaṁ kucchigataṁ koṭṭhamanupaviṭṭhaṁ.
Disvāna māraṁ pāpimantaṁ etadavoca:
“nikkhama, pāpima;
nikkhama, pāpima.
Mā tathāgataṁ vihesesi, mā tathāgatasāvakaṁ.
Mā te ahosi dīgharattaṁ ahitāya dukkhāyā”ti.
Atha kho mārassa pāpimato etadahosi:
“ajānameva kho maṁ ayaṁ samaṇo apassaṁ evamāha:
‘nikkhama, pāpima;
nikkhama, pāpima.
Mā tathāgataṁ vihesesi, mā tathāgatasāvakaṁ.
Mā te ahosi dīgharattaṁ ahitāya dukkhāyā’ti.
Yopissa so satthā sopi maṁ neva khippaṁ jāneyya, kuto pana maṁ ayaṁ sāvako jānissatī”ti?
Atha kho āyasmā mahāmoggallāno māraṁ pāpimantaṁ etadavoca:
“evampi kho tāhaṁ, pāpima, jānāmi, mā tvaṁ maññittho:
‘na maṁ jānātī’ti.
Māro tvamasi, pāpima;
tuyhañhi, pāpima, evaṁ hoti:
‘ajānameva kho maṁ ayaṁ samaṇo apassaṁ evamāha—
nikkhama, pāpima;
nikkhama, pāpima.
Mā tathāgataṁ vihesesi, mā tathāgatasāvakaṁ.
Mā te ahosi dīgharattaṁ ahitāya dukkhāyāti.
Yopissa so satthā sopi maṁ neva khippaṁ jāneyya, kuto pana maṁ ayaṁ sāvako jānissatī’”ti?
Atha kho mārassa pāpimato etadahosi:
“jānameva kho maṁ ayaṁ samaṇo passaṁ evamāha:
‘nikkhama, pāpima;
nikkhama, pāpima.
Mā tathāgataṁ vihesesi, mā tathāgatasāvakaṁ.
Mā te ahosi dīgharattaṁ ahitāya dukkhāyā’”ti.
Atha kho māro pāpimā āyasmato mahāmoggallānassa mukhato uggantvā paccaggaḷe aṭṭhāsi.
Addasā kho āyasmā mahāmoggallāno māraṁ pāpimantaṁ paccaggaḷe ṭhitaṁ;
disvāna māraṁ pāpimantaṁ etadavoca:
“etthāpi kho tāhaṁ, pāpima, passāmi; mā tvaṁ maññittho
‘na maṁ passatī’ti.
Eso tvaṁ, pāpima, paccaggaḷe ṭhito.
Bhūtapubbāhaṁ, pāpima, dūsī nāma māro ahosiṁ, tassa me kāḷī nāma bhaginī.
Tassā tvaṁ putto.
So me tvaṁ bhāgineyyo ahosi.
Tena kho pana, pāpima, samayena kakusandho bhagavā arahaṁ sammāsambuddho loke uppanno hoti.
Kakusandhassa kho pana, pāpima, bhagavato arahato sammāsambuddhassa vidhurasañjīvaṁ nāma sāvakayugaṁ ahosi aggaṁ bhaddayugaṁ.
Yāvatā kho pana, pāpima, kakusandhassa bhagavato arahato sammāsambuddhassa sāvakā.
Tesu na ca koci āyasmatā vidhurena samasamo hoti yadidaṁ dhammadesanāya.
Iminā kho evaṁ, pāpima, pariyāyena āyasmato vidhurassa vidhuroteva samaññā udapādi.
Āyasmā pana, pāpima, sañjīvo araññagatopi rukkhamūlagatopi suññāgāragatopi appakasireneva saññāvedayitanirodhaṁ samāpajjati.
Bhūtapubbaṁ, pāpima, āyasmā sañjīvo aññatarasmiṁ rukkhamūle saññāvedayitanirodhaṁ samāpanno nisinno hoti.
Addasaṁsu kho, pāpima, gopālakā pasupālakā kassakā pathāvino āyasmantaṁ sañjīvaṁ aññatarasmiṁ rukkhamūle saññāvedayitanirodhaṁ samāpannaṁ nisinnaṁ;
disvāna tesaṁ etadahosi:
‘acchariyaṁ vata bho, abbhutaṁ vata, bho.
Ayaṁ samaṇo nisinnakova kālaṅkato.
Handa naṁ dahāmā’ti.
Atha kho te, pāpima, gopālakā pasupālakā kassakā pathāvino tiṇañca kaṭṭhañca gomayañca saṅkaḍḍhitvā āyasmato sañjīvassa kāye upacinitvā aggiṁ datvā pakkamiṁsu.
Atha kho, pāpima, āyasmā sañjīvo tassā rattiyā accayena tāya samāpattiyā vuṭṭhahitvā cīvarāni papphoṭetvā pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya gāmaṁ piṇḍāya pāvisi.
Addasaṁsu kho te, pāpima, gopālakā pasupālakā kassakā pathāvino āyasmantaṁ sañjīvaṁ piṇḍāya carantaṁ;
disvāna nesaṁ etadahosi:
‘acchariyaṁ vata bho, abbhutaṁ vata, bho.
Ayaṁ samaṇo nisinnakova kālaṅkato, svāyaṁ paṭisañjīvito’ti.
Iminā kho evaṁ, pāpima, pariyāyena āyasmato sañjīvassa sañjīvoteva samaññā udapādi.
Atha kho, pāpima, dūsissa mārassa etadahosi:
‘imesaṁ kho ahaṁ bhikkhūnaṁ sīlavantānaṁ kalyāṇadhammānaṁ neva jānāmi āgatiṁ vā gatiṁ vā.
Yannūnāhaṁ brāhmaṇagahapatike anvāviseyyaṁ—
etha, tumhe bhikkhū sīlavante kalyāṇadhamme akkosatha paribhāsatha rosetha vihesetha.
Appeva nāma tumhehi akkosiyamānānaṁ paribhāsiyamānānaṁ rosiyamānānaṁ vihesiyamānānaṁ siyā cittassa aññathattaṁ, yathā taṁ dūsī māro labhetha otāran’ti.
Atha kho te, pāpima, dūsī māro brāhmaṇagahapatike anvāvisi:
‘etha, tumhe bhikkhū sīlavante kalyāṇadhamme akkosatha paribhāsatha rosetha vihesetha.
Appeva nāma tumhehi akkosiyamānānaṁ paribhāsiyamānānaṁ rosiyamānānaṁ vihesiyamānānaṁ siyā cittassa aññathattaṁ, yathā taṁ dūsī māro labhetha otāran’ti.
Atha kho te, pāpima, brāhmaṇagahapatikā anvāvisiṭṭhā dūsinā mārena bhikkhū sīlavante kalyāṇadhamme akkosanti paribhāsanti rosenti vihesenti:
‘ime pana muṇḍakā samaṇakā ibbhā kiṇhā bandhupādāpaccā “jhāyinosmā jhāyinosmā”ti pattakkhandhā adhomukhā madhurakajātā jhāyanti pajjhāyanti nijjhāyanti apajjhāyanti.
Seyyathāpi nāma ulūko rukkhasākhāyaṁ mūsikaṁ maggayamāno jhāyati pajjhāyati nijjhāyati apajjhāyati;
evamevime muṇḍakā samaṇakā ibbhā kiṇhā bandhupādāpaccā “jhāyinosmā jhāyinosmā”ti pattakkhandhā adhomukhā madhurakajātā jhāyanti pajjhāyanti nijjhāyanti apajjhāyanti.
Seyyathāpi nāma kotthu nadītīre macche maggayamāno jhāyati pajjhāyati nijjhāyati apajjhāyati;
evamevime muṇḍakā samaṇakā ibbhā kiṇhā bandhupādāpaccā “jhāyinosmā jhāyinosmā”ti pattakkhandhā adhomukhā madhurakajātā jhāyanti pajjhāyanti nijjhāyanti apajjhāyanti.
Seyyathāpi nāma biḷāro sandhisamalasaṅkaṭīre mūsikaṁ maggayamāno jhāyati pajjhāyati nijjhāyati apajjhāyati;
evamevime muṇḍakā samaṇakā ibbhā kiṇhā bandhupādāpaccā “jhāyinosmā jhāyinosmā”ti pattakkhandhā adhomukhā madhurakajātā jhāyanti pajjhāyanti nijjhāyanti apajjhāyanti.
Seyyathāpi nāma gadrabho vahacchinno sandhisamalasaṅkaṭīre jhāyati pajjhāyati nijjhāyati apajjhāyati;
evamevime muṇḍakā samaṇakā ibbhā kiṇhā bandhupādāpaccā “jhāyinosmā jhāyinosmā”ti pattakkhandhā adhomukhā madhurakajātā jhāyanti pajjhāyanti nijjhāyanti apajjhāyantī’ti.
Ye kho pana, pāpima, tena samayena manussā kālaṁ karonti yebhuyyena kāyassa bhedā paraṁ maraṇā apāyaṁ duggatiṁ vinipātaṁ nirayaṁ upapajjanti.
Atha kho, pāpima, kakusandho bhagavā arahaṁ sammāsambuddho bhikkhū āmantesi:
‘anvāviṭṭhā kho, bhikkhave, brāhmaṇagahapatikā dūsinā mārena—
etha, tumhe bhikkhū sīlavante kalyāṇadhamme akkosatha paribhāsatha rosetha vihesetha, appeva nāma tumhehi akkosiyamānānaṁ paribhāsiyamānānaṁ rosiyamānānaṁ vihesiyamānānaṁ siyā cittassa aññathattaṁ, yathā taṁ dūsī māro labhetha otāran’ti.
Etha, tumhe, bhikkhave, mettāsahagatena cetasā ekaṁ disaṁ pharitvā viharatha, tathā dutiyaṁ, tathā tatiyaṁ, tathā catutthaṁ. Iti uddhamadho tiriyaṁ sabbadhi sabbattatāya sabbāvantaṁ lokaṁ mettāsahagatena cetasā vipulena mahaggatena appamāṇena averena abyābajjhena pharitvā viharatha.
Karuṇāsahagatena cetasā …pe…
muditāsahagatena cetasā …pe…
upekkhāsahagatena cetasā ekaṁ disaṁ pharitvā viharatha, tathā dutiyaṁ, tathā tatiyaṁ, tathā catutthaṁ. Iti uddhamadho tiriyaṁ sabbadhi sabbattatāya sabbāvantaṁ lokaṁ upekkhāsahagatena cetasā vipulena mahaggatena appamāṇena averena abyābajjhena pharitvā viharathā’ti.
Atha kho te, pāpima, bhikkhū kakusandhena bhagavatā arahatā sammāsambuddhena evaṁ ovadiyamānā evaṁ anusāsiyamānā araññagatāpi rukkhamūlagatāpi suññāgāragatāpi mettāsahagatena cetasā ekaṁ disaṁ pharitvā vihariṁsu, tathā dutiyaṁ, tathā tatiyaṁ, tathā catutthaṁ. Iti uddhamadho tiriyaṁ sabbadhi sabbattatāya sabbāvantaṁ lokaṁ mettāsahagatena cetasā vipulena mahaggatena appamāṇena averena abyābajjhena pharitvā vihariṁsu.
Karuṇāsahagatena cetasā …pe…
muditāsahagatena cetasā …pe…
upekkhāsahagatena cetasā ekaṁ disaṁ pharitvā vihariṁsu, tathā dutiyaṁ, tathā tatiyaṁ, tathā catutthaṁ. Iti uddhamadho tiriyaṁ sabbadhi sabbattatāya sabbāvantaṁ lokaṁ upekkhāsahagatena cetasā vipulena mahaggatena appamāṇena averena abyābajjhena pharitvā vihariṁsu.
Atha kho, pāpima, dūsissa mārassa etadahosi:
‘evampi kho ahaṁ karonto imesaṁ bhikkhūnaṁ sīlavantānaṁ kalyāṇadhammānaṁ neva jānāmi āgatiṁ vā gatiṁ vā, yannūnāhaṁ brāhmaṇagahapatike anvāviseyyaṁ:
“etha, tumhe bhikkhū sīlavante kalyāṇadhamme sakkarotha garuṁ karotha mānetha pūjetha,
appeva nāma tumhehi sakkariyamānānaṁ garukariyamānānaṁ māniyamānānaṁ pūjiyamānānaṁ siyā cittassa aññathattaṁ, yathā taṁ dūsī māro labhetha otāran”’ti.
Atha kho te, pāpima, dūsī māro brāhmaṇagahapatike anvāvisi:
‘etha, tumhe bhikkhū sīlavante kalyāṇadhamme sakkarotha garuṁ karotha mānetha pūjetha,
appeva nāma tumhehi sakkariyamānānaṁ garukariyamānānaṁ māniyamānānaṁ pūjiyamānānaṁ siyā cittassa aññathattaṁ, yathā taṁ dūsī māro labhetha otāran’ti.
Atha kho te, pāpima, brāhmaṇagahapatikā anvāviṭṭhā dūsinā mārena bhikkhū sīlavante kalyāṇadhamme sakkaronti garuṁ karonti mānenti pūjenti.
Ye kho pana, pāpima, tena samayena manussā kālaṁ karonti yebhuyyena kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapajjanti.
Atha kho, pāpima, kakusandho bhagavā arahaṁ sammāsambuddho bhikkhū āmantesi:
‘anvāviṭṭhā kho, bhikkhave, brāhmaṇagahapatikā dūsinā mārena:
“etha, tumhe bhikkhū sīlavante kalyāṇadhamme sakkarotha garuṁ karotha mānetha pūjetha,
appeva nāma tumhehi sakkariyamānānaṁ garukariyamānānaṁ māniyamānānaṁ pūjiyamānānaṁ siyā cittassa aññathattaṁ, yathā taṁ dūsī māro labhetha otāran”ti.
Etha, tumhe, bhikkhave, asubhānupassino kāye viharatha, āhāre paṭikūlasaññino, sabbaloke anabhiratisaññino, sabbasaṅkhāresu aniccānupassino’ti.
Atha kho te, pāpima, bhikkhū kakusandhena bhagavatā arahatā sammāsambuddhena evaṁ ovadiyamānā evaṁ anusāsiyamānā araññagatāpi rukkhamūlagatāpi suññāgāragatāpi asubhānupassino kāye vihariṁsu, āhāre paṭikūlasaññino, sabbaloke anabhiratisaññino, sabbasaṅkhāresu aniccānupassino.
Atha kho, pāpima, kakusandho bhagavā arahaṁ sammāsambuddho pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya āyasmatā vidhurena pacchāsamaṇena gāmaṁ piṇḍāya pāvisi.
Atha kho, pāpima, dūsī māro aññataraṁ kumārakaṁ anvāvisitvā sakkharaṁ gahetvā āyasmato vidhurassa sīse pahāramadāsi; sīsaṁ vobhindi.
Atha kho, pāpima, āyasmā vidhuro bhinnena sīsena lohitena gaḷantena kakusandhaṁyeva bhagavantaṁ arahantaṁ sammāsambuddhaṁ piṭṭhito piṭṭhito anubandhi.
Atha kho, pāpima, kakusandho bhagavā arahaṁ sammāsambuddho nāgāpalokitaṁ apalokesi:
‘na vāyaṁ dūsī māro mattamaññāsī’ti.
Sahāpalokanāya ca pana, pāpima, dūsī māro tamhā ca ṭhānā cavi mahānirayañca upapajji.
Tassa kho pana, pāpima, mahānirayassa tayo nāmadheyyā honti—
chaphassāyataniko itipi, saṅkusamāhato itipi, paccattavedaniyo itipi.
Atha kho maṁ, pāpima, nirayapālā upasaṅkamitvā etadavocuṁ:
‘yadā kho te, mārisa, saṅkunā saṅku hadaye samāgaccheyya.
Atha naṁ tvaṁ jāneyyāsi:
“vassasahassaṁ me niraye paccamānassā”’ti.
So kho ahaṁ, pāpima, bahūni vassāni bahūni vassasatāni bahūni vassasahassāni tasmiṁ mahāniraye apacciṁ.
Dasavassasahassāni tasseva mahānirayassa ussade apacciṁ vuṭṭhānimaṁ nāma vedanaṁ vediyamāno.
Tassa mayhaṁ, pāpima, evarūpo kāyo hoti, seyyathāpi manussassa.
Evarūpaṁ sīsaṁ hoti, seyyathāpi macchassa.
Kīdiso nirayo āsi,
yattha dūsī apaccatha;
Vidhuraṁ sāvakamāsajja,
kakusandhañca brāhmaṇaṁ.
Sataṁ āsi ayosaṅkū,
sabbe paccattavedanā;
Īdiso nirayo āsi,
yattha dūsī apaccatha;
Vidhuraṁ sāvakamāsajja,
kakusandhañca brāhmaṇaṁ.
Yo etamabhijānāti,
bhikkhu buddhassa sāvako;
Tādisaṁ bhikkhumāsajja,
kaṇha dukkhaṁ nigacchasi.
Majjhe sarassa tiṭṭhanti,
vimānā kappaṭṭhāyino;
Veḷuriyavaṇṇā rucirā,
accimanto pabhassarā;
Accharā tattha naccanti,
puthu nānattavaṇṇiyo.
Yo etamabhijānāti,
bhikkhu buddhassa sāvako;
Tādisaṁ bhikkhumāsajja,
kaṇha dukkhaṁ nigacchasi.
Yo ve buddhena codito,
bhikkhu saṅghassa pekkhato;
Migāramātupāsādaṁ,
pādaṅguṭṭhena kampayi.
Yo etamabhijānāti,
bhikkhu buddhassa sāvako;
Tādisaṁ bhikkhumāsajja,
kaṇha dukkhaṁ nigacchasi.
Yo vejayantaṁ pāsādaṁ,
pādaṅguṭṭhena kampayi;
Iddhibalenupatthaddho,
saṁvejesi ca devatā.
Yo etamabhijānāti,
bhikkhu buddhassa sāvako;
Tādisaṁ bhikkhumāsajja,
kaṇha dukkhaṁ nigacchasi.
Yo vejayantapāsāde,
sakkaṁ so paripucchati;
Api vāsava jānāsi,
taṇhākkhayavimuttiyo;
Tassa sakko viyākāsi,
pañhaṁ puṭṭho yathātathaṁ.
Yo etamabhijānāti,
bhikkhu buddhassa sāvako;
Tādisaṁ bhikkhumāsajja,
kaṇha dukkhaṁ nigacchasi.
Yo brahmaṁ paripucchati,
sudhammāyābhito sabhaṁ;
Ajjāpi tyāvuso diṭṭhi,
yā te diṭṭhi pure ahu;
Passasi vītivattantaṁ,
brahmaloke pabhassaraṁ.
Tassa brahmā viyākāsi,
anupubbaṁ yathātathaṁ;
Na me mārisa sā diṭṭhi,
yā me diṭṭhi pure ahu.
Passāmi vītivattantaṁ,
brahmaloke pabhassaraṁ;
Sohaṁ ajja kathaṁ vajjaṁ,
ahaṁ niccomhi sassato.
Yo etamabhijānāti,
bhikkhu buddhassa sāvako;
Tādisaṁ bhikkhumāsajja,
kaṇha dukkhaṁ nigacchasi.
Yo mahāmeruno kūṭaṁ,
vimokkhena aphassayi;
Vanaṁ pubbavidehānaṁ,
ye ca bhūmisayā narā.
Yo etamabhijānāti,
bhikkhu buddhassa sāvako;
Tādisaṁ bhikkhumāsajja,
kaṇha dukkhaṁ nigacchasi.
Na ve aggi cetayati,
‘ahaṁ bālaṁ ḍahāmī’ti;
Bālo ca jalitaṁ aggiṁ,
āsajja naṁ sa ḍayhati.
Evameva tuvaṁ māra,
āsajja naṁ tathāgataṁ;
Sayaṁ ḍahissasi attānaṁ,
bālo aggiṁva samphusaṁ.
Apuññaṁ pasavī māro,
āsajja naṁ tathāgataṁ;
Kiṁ nu maññasi pāpima,
na me pāpaṁ vipaccati.
Karoto cīyati pāpaṁ,
cirarattāya antaka;
Māra nibbinda buddhamhā,
āsaṁ mākāsi bhikkhusu.
Iti māraṁ atajjesi,
bhikkhu bhesakaḷāvane;
Tato so dummano yakkho,
tatthevantaradhāyathā”ti.
Māratajjanīyasuttaṁ niṭṭhitaṁ dasamaṁ.
Cūḷayamakavaggo niṭṭhito pañcamo.
Tassuddānaṁ
Sāleyya verañjaduve ca tuṭṭhi,
Cūḷamahādhammasamādānañca;
Vīmaṁsakā kosambi ca brāhmaṇo,
Dūsī ca māro dasamo ca vaggo.
Idaṁ vaggānamuddānaṁ
Mūlapariyāyo ceva,
sīhanādo ca uttamo;
Kakaco ceva gosiṅgo,
sāleyyo ca ime pañca.
Mūlapaṇṇāsakaṁ samattaṁ.