Như vầy tôi nghe.
SC 1Một thời Thế Tôn trú ở Rājagaha (Vương Xá), tại rừng xoài của Jīvaka Komārabhacca.
SC 2Rồi Jīvaka Komārabhacca đi đến chỗ Thế Tôn ở, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn, ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, Jīvaka Komārabhacca bạch Thế Tôn
SC 3—Bạch Thế Tôn, con nghe nói như sau: “Vì Sa-môn Gotama, họ giết hại các sinh vật. Và Sa-môn Gotama tuy biết thế vẫn dùng các loại thịt được giết vì mình và được làm cho mình”. Bạch Thế Tôn, những ai nói như sau: “Vì Sa-môn Gotama, họ giết hại các sinh vật. Và Sa-môn Gotama tuy biết thế vẫn dùng các loại thịt được giết vì mình và được làm cho mình”, bạch Thế Tôn, những người ấy có nói chính lời Thế Tôn, họ không xuyên tạc Thế Tôn không đúng sự thật, họ trả lời đúng pháp, thuận pháp, và những ai như pháp, thuyết đúng pháp, thuận pháp không có thể quở trách?
SC 4—Này Jīvaka, những ai nói như sau: “Vì Sa-môn Gotama, họ giết hại các sinh vật. Và Sa-môn Gotama tuy biết thế vẫn dùng các loại thịt được giết vì mình được làm cho mình”, những người ấy không nói chính lời của Ta, họ xuyên tạc Ta, không như chân, không như thật. Này Jīvaka, Ta nói trong ba trường hợp, thịt không được thọ dụng: thấy, nghe và nghi vì mình mà giết. Này Jīvaka, Ta nói trong ba trường hợp này, thịt không được thọ dụng. Này Jīvaka, Ta nói trong ba trường hợp, thịt được thọ dụng: không thấy, không nghe và không nghi vì mình mà giết. Này Jīvaka, Ta nói trong ba trường hợp này, thịt được thọ dụng.
SC 5Ở đây, này Jīvaka, Tỷ-kheo sống dựa vào một làng hay một thị trấn nào, vị ấy biến mãn một phương với tâm có lòng từ, và an trú; cũng vậy phương thứ hai, phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như vậy cùng khắp thế giới, trên dưới bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy biến mãn với tâm câu hữu với từ, quảng đại, vô biên, không hận, không sân và an trú. Một người cư sĩ hay con một người cư sĩ đến Tỷ-kheo ấy và mời ngày mai thọ trai và này Jīvaka, Tỷ-kheo ấy nhận lời. Sau khi đêm ấy đã qua, Tỷ-kheo ấy vào buổi sáng đắp y, cầm y bát, đi đến chỗ người cư sĩ kia hay con người cư sĩ kia. Sau khi đến, vị ấy ngồi trên chỗ đã soạn sẵn. Và vị cư sĩ, hay con vị cư sĩ ấy thỉnh vị ấy dùng các món ăn khất thực thượng vị. Vị Tỷ-kheo ấy không nghĩ: “Thật tốt lành thay, người cư sĩ này, hay con người cư sĩ này thỉnh ta dùng các món ăn khất thực thượng vị. Mong rằng người cư sĩ này, hay con người cư sĩ này trong tương lai sẽ thỉnh ta dùng các món khất thực thượng vị như vậy”. Tỷ-kheo ấy không nghĩ như vậy. Vị ấy thọ dụng các món ăn khất thực ấy, với tâm không tham trước, không tham đắm, không đam mê, thấy rõ các tai họa, ý thức rõ rệt sự xuất ly. Này Jīvaka, Ông nghĩ thế nào? Tỷ-kheo kia, trong thời gian ấy có nghĩ đến tự hại, hay nghĩ đến hại người, hay nghĩ đến hại cả hai?
SC 6—Thưa không, bạch Thế Tôn.
SC 7—Này Jīvaka, Tỷ-kheo kia, trong thời gian ấy có phải dùng các món ăn không có lỗi lầm?
SC 8—Thưa vâng, bạch Thế Tôn. Bạch Thế Tôn, con nghe như sau: “Cao thượng thay, an trú lòng từ! Bạch Thế Tôn, Thế Tôn diện kiến thân chứng cho con điểm này. Bạch Thế Tôn, Thế Tôn an trú lòng từ.
SC 9—Này Jīvaka, cái gọi là tham, là sân, là si, do đó sân hận khởi lên, tham ấy, sân ấy, si ấy được Như Lại đoạn trừ, chặt cho đến tận gốc, làm cho như thân cây tala, khiến không thể tái sanh, không thể sanh khởi trong tương lai. Này Jīvaka, nếu như vậy là ý nghĩa Ông muốn nói, thời Ta đồng ý với Ông.
SC 10—Bạch Thế Tôn, như vậy thật là ý nghĩa con muốn nói.
SC 11—Ở đây, này Jīvaka, Tỷ-kheo sống dựa vào một làng nào hay một thị trấn nào. Vị ấy biến mãn một phương với tâm có lòng bi … với tâm có lòng hỷ … với tâm có lòng xả và an trú; cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như vậy cùng khắp thế giới, trên dưới bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy, biến mãn với tâm có lòng xả, quảng đại, vô biên, không hận, không sân và an trú. Một cư sĩ hay con một người cư sĩ đến Tỷ-kheo ấy và mời ngày mai thọ trai. Và này Jīvaka, Tỷ-kheo ấy nhận lời. Sau khi đêm ấy đã qua, vị ấy vào buổi sáng đắp y, cầm y bát, đi đến chỗ người cư sĩ kia, hay con của người cư sĩ kia. Sau khi đến, vị ấy ngồi trên chỗ đã soạn sẵn. Và vị cư sĩ, hay con vị cư sĩ ấy thỉnh vị ấy dùng các món ăn khất thực thượng vị. Tỷ-kheo ấy không nghĩ: “Thật tốt lành thay, người cư sĩ này, hay con người cư sĩ này thỉnh ta dùng các món ăn khất thực thượng vị. Mong rằng vị cư sĩ này, hay con vị cư sĩ này trong tương lai sẽ thỉnh ta dùng các món ăn khất thực thượng vị như vậy”. Tỷ-kheo ấy không nghĩ như vậy. Vị ấy thọ dụng các món ăn khất thực ấy với tâm không tham trước, không tham đắm, không đam mê, thấy rõ các tai họa, ý thức rõ rệt sự xuất ly. Này Jīvaka, Ông nghĩ thế nào? Tỷ-kheo kia, trong thời gian ấy có nghĩ đến hại mình, hay nghĩ đến hại người, hay nghĩ đến hại cả hai?
SC 12—Thưa không, bạch Thế Tôn.
SC 13—Này Jīvaka, vị Tỷ-kheo kia, trong thời gian ấy, có phải dùng các món ăn không có lỗi lầm?
SC 14—Thưa vâng, bạch Thế Tôn. Bạch Thế Tôn, con nghe như sau: “Cao thượng thay, an trú lòng xả! Bạch Thế Tôn, Thế Tôn diện kiến thân chứng cho con điểm này. Bạch Thế Tôn, Thế Tôn an trú lòng xả.
SC 15—Này Jīvaka, cái gọi là tham, là sân, là si, do đó sân hận khởi lên, tham ấy, sân ấy, si ấy được Như Lại đoạn trừ, chặt cho đến tận gốc, làm cho như thân cây tala, khiến không thể tái sanh, không thể sanh khởi trong tương lai. Này Jīvaka, nếu như vậy là ý nghĩa Ông muốn nói, thời ta đồng ý với Ông.
SC 16—Bạch Thế Tôn, như vậy thật là ý nghĩa con muốn nói.
SC 17—Này Jīvaka, người nào vì Như Lai, hay vì đệ tử Như Lai mà giết hại sinh vật, người ấy chất chứa nhiều phi công đức do năm nguyên nhân. Khi người ấy nói như sau: “Hãy đi và dắt con thú này đến”, đó là nguyên nhân thứ nhứt, người ấy chất chứa nhiều phi công đức. Con thú ấy, khi bị dắt đi, vì bị kéo lôi nơi cổ, nên cảm thọ khổ ưu, đó là nguyên nhân thứ hai, người ấy chất chứa nhiều phi công đức. Khi người ấy nói: “Hãy đi và giết con thú này”, đó là nguyên nhân thứ ba, người ấy chất chứa nhiều phi công đức. Khi con thú ấy bị giết, cảm thọ khổ ưu, đây là nguyên nhân thứ tư, người ấy chất chứa nhiều phi công đức. Khi người ấy cúng dường Như Lai hay đệ tử Như Lai một cách phi pháp, đó là nguyên nhân thứ năm, người ấy chất chứa nhiều phi công đức. Này Jīvaka, người nào vì Như Lai, hay vì đệ tử Như Lai mà giết hại sinh vật, người ấy sẽ chất chứa nhiều phi công đức do năm nguyên nhân này.
SC 18Khi nghe nói vậy, Jīvaka Komārabhacca bạch Thế Tôn
SC 19—Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Thật hy hữu thay, bạch Thế Tôn! Bạch Thế Tôn, các Tỷ-kheo thật sự thọ dụng các món ăn một cách hợp pháp. Bạch Thế Tôn, các Tỷ-kheo thật sự thọ dụng các món ăn không có khuyết phạm. Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! … Mong Thế Tôn nhận con làm cư sĩ, từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng.
Evaṁ me sutaṁ—
ekaṁ samayaṁ bhagavā rājagahe viharati jīvakassa komārabhaccassa ambavane.
Atha kho jīvako komārabhacco yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho jīvako komārabhacco bhagavantaṁ etadavoca:
“sutaṁ metaṁ, bhante:
‘samaṇaṁ gotamaṁ uddissa pāṇaṁ ārabhanti, taṁ samaṇo gotamo jānaṁ uddissakataṁ maṁsaṁ paribhuñjati paṭiccakamman’ti.
Ye te, bhante, evamāhaṁsu: ‘samaṇaṁ gotamaṁ uddissa pāṇaṁ ārabhanti, taṁ samaṇo gotamo jānaṁ uddissakataṁ maṁsaṁ paribhuñjati paṭiccakamman’ti, kacci te, bhante, bhagavato vuttavādino, na ca bhagavantaṁ abhūtena abbhācikkhanti, dhammassa cānudhammaṁ byākaronti, na ca koci sahadhammiko vādānuvādo gārayhaṁ ṭhānaṁ āgacchatī”ti?
“Ye te, jīvaka, evamāhaṁsu: ‘samaṇaṁ gotamaṁ uddissa pāṇaṁ ārabhanti, taṁ samaṇo gotamo jānaṁ uddissakataṁ maṁsaṁ paribhuñjati paṭiccakamman’ti na me te vuttavādino, abbhācikkhanti ca maṁ te asatā abhūtena.
Tīhi kho ahaṁ, jīvaka, ṭhānehi maṁsaṁ aparibhoganti vadāmi.
Diṭṭhaṁ, sutaṁ, parisaṅkitaṁ—
imehi kho ahaṁ, jīvaka, tīhi ṭhānehi maṁsaṁ aparibhoganti vadāmi.
Tīhi kho ahaṁ, jīvaka, ṭhānehi maṁsaṁ paribhoganti vadāmi.
Adiṭṭhaṁ, asutaṁ, aparisaṅkitaṁ—
imehi kho ahaṁ, jīvaka, tīhi ṭhānehi maṁsaṁ paribhoganti vadāmi.
Idha, jīvaka, bhikkhu aññataraṁ gāmaṁ vā nigamaṁ vā upanissāya viharati.
So mettāsahagatena cetasā ekaṁ disaṁ pharitvā viharati, tathā dutiyaṁ, tathā tatiyaṁ, tathā catutthaṁ. Iti uddhamadho tiriyaṁ sabbadhi sabbattatāya sabbāvantaṁ lokaṁ mettāsahagatena cetasā vipulena mahaggatena appamāṇena averena abyābajjhena pharitvā viharati.
Tamenaṁ gahapati vā gahapatiputto vā upasaṅkamitvā svātanāya bhattena nimanteti.
Ākaṅkhamānova, jīvaka, bhikkhu adhivāseti.
So tassā rattiyā accayena pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya yena tassa gahapatissa vā gahapatiputtassa vā nivesanaṁ tenupasaṅkamati; upasaṅkamitvā paññatte āsane nisīdati.
Tamenaṁ so gahapati vā gahapatiputto vā paṇītena piṇḍapātena parivisati.
Tassa na evaṁ hoti:
‘sādhu vata māyaṁ gahapati vā gahapatiputto vā paṇītena piṇḍapātena pariviseyyāti.
Aho vata māyaṁ gahapati vā gahapatiputto vā āyatimpi evarūpena paṇītena piṇḍapātena pariviseyyā’ti—
evampissa na hoti.
So taṁ piṇḍapātaṁ agathito amucchito anajjhopanno ādīnavadassāvī nissaraṇapañño paribhuñjati.
Taṁ kiṁ maññasi, jīvaka,
api nu so bhikkhu tasmiṁ samaye attabyābādhāya vā ceteti, parabyābādhāya vā ceteti, ubhayabyābādhāya vā cetetī”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Nanu so, jīvaka, bhikkhu tasmiṁ samaye anavajjaṁyeva āhāraṁ āhāretī”ti?
“Evaṁ, bhante.
Sutaṁ metaṁ, bhante:
‘brahmā mettāvihārī’ti.
Taṁ me idaṁ, bhante, bhagavā sakkhidiṭṭho;
bhagavā hi, bhante, mettāvihārī”ti.
“Yena kho, jīvaka, rāgena yena dosena yena mohena byāpādavā assa so rāgo so doso so moho tathāgatassa pahīno ucchinnamūlo tālāvatthukato anabhāvaṅkato āyatiṁ anuppādadhammo.
Sace kho te, jīvaka, idaṁ sandhāya bhāsitaṁ anujānāmi te etan”ti.
“Etadeva kho pana me, bhante, sandhāya bhāsitaṁ”.
“Idha, jīvaka, bhikkhu aññataraṁ gāmaṁ vā nigamaṁ vā upanissāya viharati.
So karuṇāsahagatena cetasā …pe…
muditāsahagatena cetasā …pe…
upekkhāsahagatena cetasā ekaṁ disaṁ pharitvā viharati, tathā dutiyaṁ, tathā tatiyaṁ, tathā catutthaṁ.
Iti uddhamadho tiriyaṁ sabbadhi sabbattatāya sabbāvantaṁ lokaṁ upekkhāsahagatena cetasā vipulena mahaggatena appamāṇena averena abyābajjhena pharitvā viharati.
Tamenaṁ gahapati vā gahapatiputto vā upasaṅkamitvā svātanāya bhattena nimanteti.
Ākaṅkhamānova, jīvaka, bhikkhu adhivāseti.
So tassā rattiyā accayena pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya yena gahapatissa vā gahapatiputtassa vā nivesanaṁ tenupasaṅkamati; upasaṅkamitvā paññatte āsane nisīdati.
Tamenaṁ so gahapati vā gahapatiputto vā paṇītena piṇḍapātena parivisati.
Tassa na evaṁ hoti:
‘sādhu vata māyaṁ gahapati vā gahapatiputto vā paṇītena piṇḍapātena pariviseyyāti.
Aho vata māyaṁ gahapati vā gahapatiputto vā āyatimpi evarūpena paṇītena piṇḍapātena pariviseyyā’ti—
evampissa na hoti.
So taṁ piṇḍapātaṁ agathito amucchito anajjhopanno ādīnavadassāvī nissaraṇapañño paribhuñjati.
Taṁ kiṁ maññasi, jīvaka,
api nu so bhikkhu tasmiṁ samaye attabyābādhāya vā ceteti, parabyābādhāya vā ceteti, ubhayabyābādhāya vā cetetī”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Nanu so, jīvaka, bhikkhu tasmiṁ samaye anavajjaṁyeva āhāraṁ āhāretī”ti?
“Evaṁ, bhante.
Sutaṁ metaṁ, bhante:
‘brahmā upekkhāvihārī’ti.
Taṁ me idaṁ, bhante, bhagavā sakkhidiṭṭho;
bhagavā hi, bhante, upekkhāvihārī”ti.
“Yena kho, jīvaka, rāgena yena dosena yena mohena vihesavā assa arativā assa paṭighavā assa so rāgo so doso so moho tathāgatassa pahīno ucchinnamūlo tālāvatthukato anabhāvaṅkato āyatiṁ anuppādadhammo.
Sace kho te, jīvaka, idaṁ sandhāya bhāsitaṁ, anujānāmi te etan”ti.
“Etadeva kho pana me, bhante, sandhāya bhāsitaṁ”.
“Yo kho, jīvaka, tathāgataṁ vā tathāgatasāvakaṁ vā uddissa pāṇaṁ ārabhati so pañcahi ṭhānehi bahuṁ apuññaṁ pasavati.
Yampi so, gahapati, evamāha:
‘gacchatha, amukaṁ nāma pāṇaṁ ānethā’ti, iminā paṭhamena ṭhānena bahuṁ apuññaṁ pasavati.
Yampi so pāṇo galappaveṭhakena ānīyamāno dukkhaṁ domanassaṁ paṭisaṁvedeti, iminā dutiyena ṭhānena bahuṁ apuññaṁ pasavati.
Yampi so evamāha:
‘gacchatha imaṁ pāṇaṁ ārabhathā’ti, iminā tatiyena ṭhānena bahuṁ apuññaṁ pasavati.
Yampi so pāṇo ārabhiyamāno dukkhaṁ domanassaṁ paṭisaṁvedeti, iminā catutthena ṭhānena bahuṁ apuññaṁ pasavati.
Yampi so tathāgataṁ vā tathāgatasāvakaṁ vā akappiyena āsādeti, iminā pañcamena ṭhānena bahuṁ apuññaṁ pasavati.
Yo kho, jīvaka, tathāgataṁ vā tathāgatasāvakaṁ vā uddissa pāṇaṁ ārabhati so imehi pañcahi ṭhānehi bahuṁ apuññaṁ pasavatī”ti.
Evaṁ vutte, jīvako komārabhacco bhagavantaṁ etadavoca:
“acchariyaṁ, bhante, abbhutaṁ, bhante.
Kappiyaṁ vata, bhante, bhikkhū āhāraṁ āhārenti;
anavajjaṁ vata, bhante, bhikkhū āhāraṁ āhārenti.
Abhikkantaṁ, bhante, abhikkantaṁ, bhante …pe…
upāsakaṁ maṁ bhagavā dhāretu ajjatagge pāṇupetaṁ saraṇaṁ gatan”ti.
Jīvakasuttaṁ niṭṭhitaṁ pañcamaṁ.
Nya 1Thus I heard:
On one occasion the Blessed One was living at Rājagaha in the Mango Grove of Jīvaka Komārabhacca.
Nya 2Then Jīvaka Komārabhacca went to the Blessed One, and after paying homage to him, he sat down at one side. When he had done so, he said to the Blessed One:
Nya 3“Venerable sir, I have heard this: ‘They slaughter living beings for the monk Gotama; the monk Gotama knowingly eats meat prepared for him when invited.’ Venerable sir, when they say that, do they say what the Blessed One says, without misrepresenting the Blessed One with what is not so, do they express Dhamma according with Dhamma with no legitimate deduction from their assertions that provides in Dhamma grounds for condemning them?”
Nya 4“Jīvaka, those who say thus: ‘They slaughter living beings for the monk Gotama; the monk Gotama knowingly eats meat prepared for him when invited’ do not say what I say; they misrepresent me with what is not true, what is not so.
Nya 5“Jīvaka, I say that there are three instances in which meat should not be eaten: when it is seen, heard or suspected that the living being has been slaughtered for the eater. I say that meat should not be eaten in these three instances. I say that there are three instances in which meat can be eaten: when it is not seen, not heard, not suspected that the living being has been slaughtered for the eater. I say that meat can be eaten in these three instances.
Nya 6“Here some bhikkhu lives near a village or town. He abides with mind endued with loving-kindness extending over one quarter, likewise the second, likewise the third, likewise the fourth, and so above, below, around and everywhere, and to all as to himself; he abides with an abundant, exalted, measureless mind of loving-kindness extending over the all-embracing world. Then a householder or a householder’s son comes to him and invites him for the next day’s meal. The bhikkhu accepts, if he likes. When the night is ended he dresses, and taking his bowl and outer robe, he goes to the house of that householder or househoider’s son and sits down on a seat made ready. Then the householder or householder’s son serves him with good alms-food. He does not think thus: ‘It is good that the householder or householder’s son serves me with good alms-food. If only a householder or householder’s son might serve me with such good alms-food in the future!’ He does not think thus. He eats that alms-food without entanglement and not unwarily committed, seeing danger in it and understanding the escape from it. How do you conceive this, Jīvaka, would that bhikkhu on such an occasion will his own affliction or another’s affliction or the affliction of both?”
“No, Venerable sir.”.
“Does not that bhikkhu nourish himself with blameless nourishment on that occasion?”
Nya 7“Yes, Venerable sir. I have heard this, venerable sir: ‘The Divinity abides in loving-kindness’. Venerable sir, I have seen the Blessed One as a witness to that; for the Blessed One, Venerable sir, abides in loving-kindness.”
“Jīvaka, any lust or any hate or any delusion whereby ill-will might arise in him, a Tathāgata has abandoned, cut off at the roots, made like a palm-stump, done away with so that it is no longer liable to future arising. If what you said referred to that, then I allow it you.”
“Venerable sir, what I said referred to precisely that.”
Nya 8“Here some bhikkhu lives near a village or town. He abides with mind endued with compassion…”
“… what I said referred to precisely that.”
Nya 9“Here some bhikkhu lives near a village or town. He abides with gladness…”
“… what I said referred to precisely that.”
Nya 10“Here some bhikkhu lives near a village or town. He abides with mind endued with equanimity…”
“… what I said referred to precisely that.
Nya 11“If anyone slaughters a living being for a Tathāgata or his disciple, he lays up much demerit in five instances: When he says ‘Go and fetch that living being’, this is the first instance in which he lays up much demerit. When that living being experiences pain and grief on being led along with a neck-halter, this is the second instance in which he lays up much demerit. When he says ‘Go and slaughter that living being’, this is the third instance when he lays up much demerit. When that living being experiences pain and grief on being slaughtered, this is the fourth instance in which he lays up much demerit. When he provides a Tathāgata or his disciple with food that is not permissable, this is the fifth instance in which he lays up much demerit. Anyone who slaughters a living being for a Tathāgata or his disciple lays up much demerit in these five instances.”
Nya 12When this was said, Jīvaka Komārabhacca said: “It is wonderful, Venerable sir, it is marvellous! Bhikkhus nourish themselves with permissable nourishment. Bhikkhus nourish themselves with blameless nourishment.
“Magnificent, Master Gotama! Magnificent, Master Gotama! The Dhamma has been made clear in many ways by Master Gotama, as though he were righting the overthrown, revealing the hidden, showing the way to one who was lost, holding up a lamp in the darkness for those with eyesight to see forms.
“I go to Master Gotama for refuge, and to the Dhamma and to the Sangha. From today let Master Gotama remember me as a follower who has gone to him for refuge for life.”
Như vầy tôi nghe.
SC 1Một thời Thế Tôn trú ở Rājagaha (Vương Xá), tại rừng xoài của Jīvaka Komārabhacca.
SC 2Rồi Jīvaka Komārabhacca đi đến chỗ Thế Tôn ở, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn, ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, Jīvaka Komārabhacca bạch Thế Tôn
SC 3—Bạch Thế Tôn, con nghe nói như sau: “Vì Sa-môn Gotama, họ giết hại các sinh vật. Và Sa-môn Gotama tuy biết thế vẫn dùng các loại thịt được giết vì mình và được làm cho mình”. Bạch Thế Tôn, những ai nói như sau: “Vì Sa-môn Gotama, họ giết hại các sinh vật. Và Sa-môn Gotama tuy biết thế vẫn dùng các loại thịt được giết vì mình và được làm cho mình”, bạch Thế Tôn, những người ấy có nói chính lời Thế Tôn, họ không xuyên tạc Thế Tôn không đúng sự thật, họ trả lời đúng pháp, thuận pháp, và những ai như pháp, thuyết đúng pháp, thuận pháp không có thể quở trách?
SC 4—Này Jīvaka, những ai nói như sau: “Vì Sa-môn Gotama, họ giết hại các sinh vật. Và Sa-môn Gotama tuy biết thế vẫn dùng các loại thịt được giết vì mình được làm cho mình”, những người ấy không nói chính lời của Ta, họ xuyên tạc Ta, không như chân, không như thật. Này Jīvaka, Ta nói trong ba trường hợp, thịt không được thọ dụng: thấy, nghe và nghi vì mình mà giết. Này Jīvaka, Ta nói trong ba trường hợp này, thịt không được thọ dụng. Này Jīvaka, Ta nói trong ba trường hợp, thịt được thọ dụng: không thấy, không nghe và không nghi vì mình mà giết. Này Jīvaka, Ta nói trong ba trường hợp này, thịt được thọ dụng.
SC 5Ở đây, này Jīvaka, Tỷ-kheo sống dựa vào một làng hay một thị trấn nào, vị ấy biến mãn một phương với tâm có lòng từ, và an trú; cũng vậy phương thứ hai, phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như vậy cùng khắp thế giới, trên dưới bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy biến mãn với tâm câu hữu với từ, quảng đại, vô biên, không hận, không sân và an trú. Một người cư sĩ hay con một người cư sĩ đến Tỷ-kheo ấy và mời ngày mai thọ trai và này Jīvaka, Tỷ-kheo ấy nhận lời. Sau khi đêm ấy đã qua, Tỷ-kheo ấy vào buổi sáng đắp y, cầm y bát, đi đến chỗ người cư sĩ kia hay con người cư sĩ kia. Sau khi đến, vị ấy ngồi trên chỗ đã soạn sẵn. Và vị cư sĩ, hay con vị cư sĩ ấy thỉnh vị ấy dùng các món ăn khất thực thượng vị. Vị Tỷ-kheo ấy không nghĩ: “Thật tốt lành thay, người cư sĩ này, hay con người cư sĩ này thỉnh ta dùng các món ăn khất thực thượng vị. Mong rằng người cư sĩ này, hay con người cư sĩ này trong tương lai sẽ thỉnh ta dùng các món khất thực thượng vị như vậy”. Tỷ-kheo ấy không nghĩ như vậy. Vị ấy thọ dụng các món ăn khất thực ấy, với tâm không tham trước, không tham đắm, không đam mê, thấy rõ các tai họa, ý thức rõ rệt sự xuất ly. Này Jīvaka, Ông nghĩ thế nào? Tỷ-kheo kia, trong thời gian ấy có nghĩ đến tự hại, hay nghĩ đến hại người, hay nghĩ đến hại cả hai?
SC 6—Thưa không, bạch Thế Tôn.
SC 7—Này Jīvaka, Tỷ-kheo kia, trong thời gian ấy có phải dùng các món ăn không có lỗi lầm?
SC 8—Thưa vâng, bạch Thế Tôn. Bạch Thế Tôn, con nghe như sau: “Cao thượng thay, an trú lòng từ! Bạch Thế Tôn, Thế Tôn diện kiến thân chứng cho con điểm này. Bạch Thế Tôn, Thế Tôn an trú lòng từ.
SC 9—Này Jīvaka, cái gọi là tham, là sân, là si, do đó sân hận khởi lên, tham ấy, sân ấy, si ấy được Như Lại đoạn trừ, chặt cho đến tận gốc, làm cho như thân cây tala, khiến không thể tái sanh, không thể sanh khởi trong tương lai. Này Jīvaka, nếu như vậy là ý nghĩa Ông muốn nói, thời Ta đồng ý với Ông.
SC 10—Bạch Thế Tôn, như vậy thật là ý nghĩa con muốn nói.
SC 11—Ở đây, này Jīvaka, Tỷ-kheo sống dựa vào một làng nào hay một thị trấn nào. Vị ấy biến mãn một phương với tâm có lòng bi … với tâm có lòng hỷ … với tâm có lòng xả và an trú; cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như vậy cùng khắp thế giới, trên dưới bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy, biến mãn với tâm có lòng xả, quảng đại, vô biên, không hận, không sân và an trú. Một cư sĩ hay con một người cư sĩ đến Tỷ-kheo ấy và mời ngày mai thọ trai. Và này Jīvaka, Tỷ-kheo ấy nhận lời. Sau khi đêm ấy đã qua, vị ấy vào buổi sáng đắp y, cầm y bát, đi đến chỗ người cư sĩ kia, hay con của người cư sĩ kia. Sau khi đến, vị ấy ngồi trên chỗ đã soạn sẵn. Và vị cư sĩ, hay con vị cư sĩ ấy thỉnh vị ấy dùng các món ăn khất thực thượng vị. Tỷ-kheo ấy không nghĩ: “Thật tốt lành thay, người cư sĩ này, hay con người cư sĩ này thỉnh ta dùng các món ăn khất thực thượng vị. Mong rằng vị cư sĩ này, hay con vị cư sĩ này trong tương lai sẽ thỉnh ta dùng các món ăn khất thực thượng vị như vậy”. Tỷ-kheo ấy không nghĩ như vậy. Vị ấy thọ dụng các món ăn khất thực ấy với tâm không tham trước, không tham đắm, không đam mê, thấy rõ các tai họa, ý thức rõ rệt sự xuất ly. Này Jīvaka, Ông nghĩ thế nào? Tỷ-kheo kia, trong thời gian ấy có nghĩ đến hại mình, hay nghĩ đến hại người, hay nghĩ đến hại cả hai?
SC 12—Thưa không, bạch Thế Tôn.
SC 13—Này Jīvaka, vị Tỷ-kheo kia, trong thời gian ấy, có phải dùng các món ăn không có lỗi lầm?
SC 14—Thưa vâng, bạch Thế Tôn. Bạch Thế Tôn, con nghe như sau: “Cao thượng thay, an trú lòng xả! Bạch Thế Tôn, Thế Tôn diện kiến thân chứng cho con điểm này. Bạch Thế Tôn, Thế Tôn an trú lòng xả.
SC 15—Này Jīvaka, cái gọi là tham, là sân, là si, do đó sân hận khởi lên, tham ấy, sân ấy, si ấy được Như Lại đoạn trừ, chặt cho đến tận gốc, làm cho như thân cây tala, khiến không thể tái sanh, không thể sanh khởi trong tương lai. Này Jīvaka, nếu như vậy là ý nghĩa Ông muốn nói, thời ta đồng ý với Ông.
SC 16—Bạch Thế Tôn, như vậy thật là ý nghĩa con muốn nói.
SC 17—Này Jīvaka, người nào vì Như Lai, hay vì đệ tử Như Lai mà giết hại sinh vật, người ấy chất chứa nhiều phi công đức do năm nguyên nhân. Khi người ấy nói như sau: “Hãy đi và dắt con thú này đến”, đó là nguyên nhân thứ nhứt, người ấy chất chứa nhiều phi công đức. Con thú ấy, khi bị dắt đi, vì bị kéo lôi nơi cổ, nên cảm thọ khổ ưu, đó là nguyên nhân thứ hai, người ấy chất chứa nhiều phi công đức. Khi người ấy nói: “Hãy đi và giết con thú này”, đó là nguyên nhân thứ ba, người ấy chất chứa nhiều phi công đức. Khi con thú ấy bị giết, cảm thọ khổ ưu, đây là nguyên nhân thứ tư, người ấy chất chứa nhiều phi công đức. Khi người ấy cúng dường Như Lai hay đệ tử Như Lai một cách phi pháp, đó là nguyên nhân thứ năm, người ấy chất chứa nhiều phi công đức. Này Jīvaka, người nào vì Như Lai, hay vì đệ tử Như Lai mà giết hại sinh vật, người ấy sẽ chất chứa nhiều phi công đức do năm nguyên nhân này.
SC 18Khi nghe nói vậy, Jīvaka Komārabhacca bạch Thế Tôn
SC 19—Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Thật hy hữu thay, bạch Thế Tôn! Bạch Thế Tôn, các Tỷ-kheo thật sự thọ dụng các món ăn một cách hợp pháp. Bạch Thế Tôn, các Tỷ-kheo thật sự thọ dụng các món ăn không có khuyết phạm. Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! … Mong Thế Tôn nhận con làm cư sĩ, từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng.
Evaṁ me sutaṁ—
ekaṁ samayaṁ bhagavā rājagahe viharati jīvakassa komārabhaccassa ambavane.
Atha kho jīvako komārabhacco yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho jīvako komārabhacco bhagavantaṁ etadavoca:
“sutaṁ metaṁ, bhante:
‘samaṇaṁ gotamaṁ uddissa pāṇaṁ ārabhanti, taṁ samaṇo gotamo jānaṁ uddissakataṁ maṁsaṁ paribhuñjati paṭiccakamman’ti.
Ye te, bhante, evamāhaṁsu: ‘samaṇaṁ gotamaṁ uddissa pāṇaṁ ārabhanti, taṁ samaṇo gotamo jānaṁ uddissakataṁ maṁsaṁ paribhuñjati paṭiccakamman’ti, kacci te, bhante, bhagavato vuttavādino, na ca bhagavantaṁ abhūtena abbhācikkhanti, dhammassa cānudhammaṁ byākaronti, na ca koci sahadhammiko vādānuvādo gārayhaṁ ṭhānaṁ āgacchatī”ti?
“Ye te, jīvaka, evamāhaṁsu: ‘samaṇaṁ gotamaṁ uddissa pāṇaṁ ārabhanti, taṁ samaṇo gotamo jānaṁ uddissakataṁ maṁsaṁ paribhuñjati paṭiccakamman’ti na me te vuttavādino, abbhācikkhanti ca maṁ te asatā abhūtena.
Tīhi kho ahaṁ, jīvaka, ṭhānehi maṁsaṁ aparibhoganti vadāmi.
Diṭṭhaṁ, sutaṁ, parisaṅkitaṁ—
imehi kho ahaṁ, jīvaka, tīhi ṭhānehi maṁsaṁ aparibhoganti vadāmi.
Tīhi kho ahaṁ, jīvaka, ṭhānehi maṁsaṁ paribhoganti vadāmi.
Adiṭṭhaṁ, asutaṁ, aparisaṅkitaṁ—
imehi kho ahaṁ, jīvaka, tīhi ṭhānehi maṁsaṁ paribhoganti vadāmi.
Idha, jīvaka, bhikkhu aññataraṁ gāmaṁ vā nigamaṁ vā upanissāya viharati.
So mettāsahagatena cetasā ekaṁ disaṁ pharitvā viharati, tathā dutiyaṁ, tathā tatiyaṁ, tathā catutthaṁ. Iti uddhamadho tiriyaṁ sabbadhi sabbattatāya sabbāvantaṁ lokaṁ mettāsahagatena cetasā vipulena mahaggatena appamāṇena averena abyābajjhena pharitvā viharati.
Tamenaṁ gahapati vā gahapatiputto vā upasaṅkamitvā svātanāya bhattena nimanteti.
Ākaṅkhamānova, jīvaka, bhikkhu adhivāseti.
So tassā rattiyā accayena pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya yena tassa gahapatissa vā gahapatiputtassa vā nivesanaṁ tenupasaṅkamati; upasaṅkamitvā paññatte āsane nisīdati.
Tamenaṁ so gahapati vā gahapatiputto vā paṇītena piṇḍapātena parivisati.
Tassa na evaṁ hoti:
‘sādhu vata māyaṁ gahapati vā gahapatiputto vā paṇītena piṇḍapātena pariviseyyāti.
Aho vata māyaṁ gahapati vā gahapatiputto vā āyatimpi evarūpena paṇītena piṇḍapātena pariviseyyā’ti—
evampissa na hoti.
So taṁ piṇḍapātaṁ agathito amucchito anajjhopanno ādīnavadassāvī nissaraṇapañño paribhuñjati.
Taṁ kiṁ maññasi, jīvaka,
api nu so bhikkhu tasmiṁ samaye attabyābādhāya vā ceteti, parabyābādhāya vā ceteti, ubhayabyābādhāya vā cetetī”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Nanu so, jīvaka, bhikkhu tasmiṁ samaye anavajjaṁyeva āhāraṁ āhāretī”ti?
“Evaṁ, bhante.
Sutaṁ metaṁ, bhante:
‘brahmā mettāvihārī’ti.
Taṁ me idaṁ, bhante, bhagavā sakkhidiṭṭho;
bhagavā hi, bhante, mettāvihārī”ti.
“Yena kho, jīvaka, rāgena yena dosena yena mohena byāpādavā assa so rāgo so doso so moho tathāgatassa pahīno ucchinnamūlo tālāvatthukato anabhāvaṅkato āyatiṁ anuppādadhammo.
Sace kho te, jīvaka, idaṁ sandhāya bhāsitaṁ anujānāmi te etan”ti.
“Etadeva kho pana me, bhante, sandhāya bhāsitaṁ”.
“Idha, jīvaka, bhikkhu aññataraṁ gāmaṁ vā nigamaṁ vā upanissāya viharati.
So karuṇāsahagatena cetasā …pe…
muditāsahagatena cetasā …pe…
upekkhāsahagatena cetasā ekaṁ disaṁ pharitvā viharati, tathā dutiyaṁ, tathā tatiyaṁ, tathā catutthaṁ.
Iti uddhamadho tiriyaṁ sabbadhi sabbattatāya sabbāvantaṁ lokaṁ upekkhāsahagatena cetasā vipulena mahaggatena appamāṇena averena abyābajjhena pharitvā viharati.
Tamenaṁ gahapati vā gahapatiputto vā upasaṅkamitvā svātanāya bhattena nimanteti.
Ākaṅkhamānova, jīvaka, bhikkhu adhivāseti.
So tassā rattiyā accayena pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya yena gahapatissa vā gahapatiputtassa vā nivesanaṁ tenupasaṅkamati; upasaṅkamitvā paññatte āsane nisīdati.
Tamenaṁ so gahapati vā gahapatiputto vā paṇītena piṇḍapātena parivisati.
Tassa na evaṁ hoti:
‘sādhu vata māyaṁ gahapati vā gahapatiputto vā paṇītena piṇḍapātena pariviseyyāti.
Aho vata māyaṁ gahapati vā gahapatiputto vā āyatimpi evarūpena paṇītena piṇḍapātena pariviseyyā’ti—
evampissa na hoti.
So taṁ piṇḍapātaṁ agathito amucchito anajjhopanno ādīnavadassāvī nissaraṇapañño paribhuñjati.
Taṁ kiṁ maññasi, jīvaka,
api nu so bhikkhu tasmiṁ samaye attabyābādhāya vā ceteti, parabyābādhāya vā ceteti, ubhayabyābādhāya vā cetetī”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Nanu so, jīvaka, bhikkhu tasmiṁ samaye anavajjaṁyeva āhāraṁ āhāretī”ti?
“Evaṁ, bhante.
Sutaṁ metaṁ, bhante:
‘brahmā upekkhāvihārī’ti.
Taṁ me idaṁ, bhante, bhagavā sakkhidiṭṭho;
bhagavā hi, bhante, upekkhāvihārī”ti.
“Yena kho, jīvaka, rāgena yena dosena yena mohena vihesavā assa arativā assa paṭighavā assa so rāgo so doso so moho tathāgatassa pahīno ucchinnamūlo tālāvatthukato anabhāvaṅkato āyatiṁ anuppādadhammo.
Sace kho te, jīvaka, idaṁ sandhāya bhāsitaṁ, anujānāmi te etan”ti.
“Etadeva kho pana me, bhante, sandhāya bhāsitaṁ”.
“Yo kho, jīvaka, tathāgataṁ vā tathāgatasāvakaṁ vā uddissa pāṇaṁ ārabhati so pañcahi ṭhānehi bahuṁ apuññaṁ pasavati.
Yampi so, gahapati, evamāha:
‘gacchatha, amukaṁ nāma pāṇaṁ ānethā’ti, iminā paṭhamena ṭhānena bahuṁ apuññaṁ pasavati.
Yampi so pāṇo galappaveṭhakena ānīyamāno dukkhaṁ domanassaṁ paṭisaṁvedeti, iminā dutiyena ṭhānena bahuṁ apuññaṁ pasavati.
Yampi so evamāha:
‘gacchatha imaṁ pāṇaṁ ārabhathā’ti, iminā tatiyena ṭhānena bahuṁ apuññaṁ pasavati.
Yampi so pāṇo ārabhiyamāno dukkhaṁ domanassaṁ paṭisaṁvedeti, iminā catutthena ṭhānena bahuṁ apuññaṁ pasavati.
Yampi so tathāgataṁ vā tathāgatasāvakaṁ vā akappiyena āsādeti, iminā pañcamena ṭhānena bahuṁ apuññaṁ pasavati.
Yo kho, jīvaka, tathāgataṁ vā tathāgatasāvakaṁ vā uddissa pāṇaṁ ārabhati so imehi pañcahi ṭhānehi bahuṁ apuññaṁ pasavatī”ti.
Evaṁ vutte, jīvako komārabhacco bhagavantaṁ etadavoca:
“acchariyaṁ, bhante, abbhutaṁ, bhante.
Kappiyaṁ vata, bhante, bhikkhū āhāraṁ āhārenti;
anavajjaṁ vata, bhante, bhikkhū āhāraṁ āhārenti.
Abhikkantaṁ, bhante, abhikkantaṁ, bhante …pe…
upāsakaṁ maṁ bhagavā dhāretu ajjatagge pāṇupetaṁ saraṇaṁ gatan”ti.
Jīvakasuttaṁ niṭṭhitaṁ pañcamaṁ.