Như vầy tôi nghe.
SC 1Một thời Thế Tôn trú ở Sāvatthi, tại Pubbārāma (Ðông Viên), Migaramatupasada (Lộc Mẫu Giảng đường).
SC 2Lúc bấy giờ trong ngày Bố-tát, ngày trăng tròn, trong đêm trăng rằm, Thế Tôn đang ngồi giữa trời, xung quanh có chúng Tỷ-kheo đoanh vây. Rồi Thế Tôn nhìn chúng Tỷ-kheo đang yên lặng, hết sức yên lặng và bảo các Tỷ-kheo
SC 3—Này các Tỷ-kheo, một người bất chánh (asappurisa) có thể biết một người bất chánh: “Người bất chánh là vị này”, hay không?
SC 4—Bạch Thế Tôn, không biết được.
SC 5—Lành thay, này các Tỷ-kheo! Này các Tỷ-kheo, không thể có sự tình, không thể có sự kiện, một người bất chánh có thể biết một người bất chánh: “Người bất chánh là vị này.” Này các Tỷ-kheo, nhưng một người bất chánh có thể biết một người chơn chánh: “Người chơn chánh là vị này” hay không?
SC 6—Bạch Thế Tôn, không biết được.
SC 7—Lành thay, này các Tỷ-kheo! Này các Tỷ-kheo, không thể có sự tình, không thể có sự kiện một người bất chánh có thể biết được một người chơn chánh: “Người chơn chánh là vị này”.
SC 8Người bất chánh, này các Tỷ-kheo, là người đầy đủ pháp bất chánh, giao du với người bất chánh, suy tư như người bất chánh, tư lường như người bất chánh, nói năng như người bất chánh, hành động như người bất chánh, có tà kiến như người bất chánh, bố thí như người bất chánh.
SC 9Và này các Tỷ-kheo, như thế nào là người bất chánh đầy đủ pháp bất chánh? Ở đây, này các Tỷ-kheo, người bất chánh bất tín, vô tàm, vô quý, nghe ít, biếng nhác, thất niệm, liệt tuệ. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là người bất chánh đầy đủ pháp bất chánh.
SC 10Và này các Tỷ-kheo, như thế nào là người bất chánh giao du với những người bất chánh? Ở đây, này các Tỷ-kheo, những vị Bà-la-môn nào bất tín, vô tàm, vô quý, ít nghe, biếng nhác, thất niệm, liệt tuệ, những vị ấy là bạn, là thân hữu với người bất chánh ấy. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là người bất chánh giao du với người bất chánh.
SC 11Và này các Tỷ-kheo, như thế nào là người bất chánh suy tư như người bất chánh? Ở đây, này các Tỷ-kheo, người bất chánh suy nghĩ tự làm hại mình, suy nghĩ làm hại người khác, suy nghĩ làm hại cả hai. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là người bất chánh suy tư như người bất chánh.
SC 12Và này các Tỷ-kheo, như thế nào là người bất chánh tư lường như người bất chánh? Ở đây, này các Tỷ-kheo, người bất chánh tư lường tự làm hại mình, tư lường làm hại người, tư lường làm hại cả hai. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là người bất chánh tư lường như người bất chánh.
SC 13Và này các Tỷ-kheo, như thế nào là người bất chánh nói năng như người bất chánh? Ở đây, này các Tỷ-kheo, người bất chánh nói lời nói láo, nói lời hai lưỡi, nói ác khẩu, nói lời phù phiếm. Như vậy này các Tỷ-kheo, là người bất chánh nói năng như người bất chánh.
SC 14Và này các Tỷ-kheo, như thế nào là người bất chánh hành động như người bất chánh? Ở đây, này các Tỷ-kheo, người bất chánh sát sanh, lấy của không cho, làm các tà hạnh trong các dục. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là người bất chánh hành động như người bất chánh.
SC 15Và này các Tỷ-kheo, như thế nào là người bất chánh có tà kiến như người bất chánh? Ở đây, này các Tỷ-kheo, người bất chánh có tà kiến như sau: “Không có bố thí, không có lễ hy sinh, không có tế tự, không có quả dị thục các nghiệp thiện ác, không có đời này, không có đời khác, không có cha, không có mẹ, không có loại hóa sanh. Ở đời, không có những vị Sa-môn, những vị Bà-la-môn chánh hướng, chánh hạnh đã tự mình chứng đạt với thượng trí đời này và đời khác, và truyền dạy lại”. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là người bất chánh có tà kiến như người bất chánh.
SC 16Và này các Tỷ-kheo, thế nào là người bất chánh bố thí như người bất chánh? Ở đây, này các Tỷ-kheo, người bất chánh bố thí một cách vô lễ, bố thí không phải tự tay, bố thí không có suy tư kỹ lưỡng, bố thí những vật không cần dùng, bố thí không nghĩ đến tương lai. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là người bất chánh bố thí như người bất chánh.
SC 17Này các Tỷ-kheo, người bất chánh ấy, đầy đủ pháp bất chánh như vậy, giao du với người bất chánh như vậy, suy tư như người bất chánh như vậy, tư lường như người bất chánh như vậy, nói năng như người bất chánh như vậy, hành động như người bất chánh như vậy, có tà kiến như người bất chánh như vậy, bố thí như người bất chánh như vậy, sau khi thân hoại mạng chung, sanh vào cảnh giới của những người bất chánh. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là cảnh giới của những người bất chánh? Ðịa ngục hay là bàng sanh.
SC 18Này các Tỷ-kheo, một người chơn chánh có thể biết được một người chơn chánh: “Người chơn chánh là vị này” hay không?
SC 19—Thưa biết được, bạch Thế Tôn.
SC 20—Lành thay, này các Tỷ-kheo! Sự tình này xảy ra là người chơn chánh có thể biết được người chơn chánh: “Người chơn chánh là vị này”. Nhưng này các Tỷ-kheo, người chơn chánh có thể biết được người bất chánh: “Người bất chánh là vị này” hay không?
SC 21—Thưa biết được, bạch Thế Tôn.
SC 22—Lành thay, này các Tỷ-kheo! Này các Tỷ-kheo, có sự tình này là người chơn chánh có thể biết được người bất chánh: “Người bất chánh là vị này”. Này các Tỷ-kheo, người chơn chánh đầy đủ Chánh pháp, giao du với các bậc chơn chánh, suy nghĩ như các bậc chơn chánh, tư lường như các bậc chơn chánh, nói năng như bậc chơn chánh, hành động như bậc chơn chánh, có chánh kiến như bậc chơn chánh, bố thí như bậc chơn chánh.
SC 23Và này các Tỷ-kheo, thế nào là người chơn chánh đầy đủ Chánh pháp? Ở đây, này các Tỷ-kheo, người chơn chánh có lòng tin, có lòng tàm, có lòng quý, có nghe nhiều, có tinh cần, tinh tấn, có chánh niệm, có trí tuệ. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là người chơn chánh đầy đủ những Chánh pháp.
SC 24Và này các Tỷ-kheo, thế nào là người chơn chánh giao du với các bậc chơn chánh? Ở đây, này các Tỷ-kheo, những vị Sa-môn, Bà-la-môn nào có lòng tin, có lòng tàm, có lòng quý nghe nhiều, tinh cần, tinh tấn, chánh niệm, có trí tuệ, những vị ấy là bạn, là thân hữu của vị chơn chánh ấy. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là người chơn chánh giao du với các bậc chơn chánh.
SC 25Và này, các Tỷ-kheo, như thế nào là người chơn chánh suy tư như người chơn chánh? Ở đây, này các Tỷ-kheo, người chơn chánh không suy nghĩ tự làm hại mình, không suy nghĩ làm hại người khác, không suy nghĩ làm hại cả hai. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là người chơn chánh suy tư như người chơn chánh.
SC 26Và này, các Tỷ-kheo, như thế nào là người chơn chánh tư lường như người chơn chánh? Ở đây, này các Tỷ-kheo, người chơn chánh không tư lường tự làm hại mình, không tư lường làm hại người khác, không tư lường làm hại cả hai. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là người chơn chánh tư lường như người chơn chánh?
SC 27Và này các Tỷ-kheo, như thế nào là người chơn chánh nói năng như người chơn chánh? Ở đây, này các Tỷ-kheo, người chơn chánh từ bỏ không nói láo, từ bỏ không nói hai lưỡi, từ bỏ không nói ác khẩu, từ bỏ không nói phiếm luận. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là người chơn chánh nói năng như người chơn chánh.
SC 28Và này các Tỷ-kheo, thế nào là người chơn chánh hành động như người chơn chánh? Ở đây, này các Tỷ-kheo, người chơn chánh từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ làm các tà hạnh trong dâm dục. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là người chơn chánh hành động như người chơn chánh.
SC 29Và này các Tỷ-kheo, thế nào là người chơn chánh có chánh kiến như bậc chơn chánh? Ở đây, này các Tỷ-kheo, người chơn chánh có chánh kiến như sau: “Có bố thí, có lễ hy sinh, có tế tự, có quả dị thục các nghiệp thiện ác, có đời này, có đời khác, có cha, có mẹ, có loại hóa sanh. Ở đời có những vị Sa-môn, những vị Bà-la-môn chánh hướng, chánh hạnh, đã tự mình chứng đạt với thượng trí đời này và đời khác, và truyền dạy lại. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là người chơn chánh có chánh kiến như người chơn chánh.
SC 30Và này các Tỷ-kheo, thế nào là người chơn chánh bố thí như người chơn chánh? Ở đây, này các Tỷ-kheo, người chơn chánh bố thí một cách lễ độ, bố thí với tự tay, bố thí có suy tư kỹ lưỡng, bố thí những vật cần dùng, bố thí có nghĩ đến tương lai. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là người chơn chánh bố thí như người chơn chánh.
SC 31Này các Tỷ-kheo, người chơn chánh ấy, đầy đủ Chánh pháp như vậy, giao du với người chơn chánh như vậy, suy tư như người chơn chánh như vậy, tư lường như người chơn chánh như vậy, nói năng như người chơn chánh như vậy, hành động như người chơn chánh như vậy, có chánh kiến như người như người chơn chánh như vậy, bố thí như người chơn chánh như vậy, sau khi thân hoại mạng chung, sanh vào cảnh giới của những người chơn chánh. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là cảnh giới của những người chơn chánh? Ðại tánh của chư Thiên hay đại tánh của loài Người.
SC 32Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Các Tỷ-kheo hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy.
Evaṁ me sutaṁ—
ekaṁ samayaṁ bhagavā sāvatthiyaṁ viharati pubbārāme migāramātupāsāde.
Tena kho pana samayena bhagavā tadahuposathe pannarase puṇṇāya puṇṇamāya rattiyā bhikkhusaṅghaparivuto abbhokāse nisinno hoti.
Atha kho bhagavā tuṇhībhūtaṁ tuṇhībhūtaṁ bhikkhusaṅghaṁ anuviloketvā bhikkhū āmantesi:
“jāneyya nu kho, bhikkhave, asappuriso asappurisaṁ:
‘asappuriso ayaṁ bhavan’”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Sādhu, bhikkhave;
aṭṭhānametaṁ, bhikkhave, anavakāso yaṁ asappuriso asappurisaṁ jāneyya:
‘asappuriso ayaṁ bhavan’ti.
Jāneyya pana, bhikkhave, asappuriso sappurisaṁ:
‘sappuriso ayaṁ bhavan’”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Sādhu, bhikkhave;
etampi kho, bhikkhave, aṭṭhānaṁ anavakāso yaṁ asappuriso sappurisaṁ jāneyya:
‘sappuriso ayaṁ bhavan’ti.
Asappuriso, bhikkhave, assaddhammasamannāgato hoti, asappurisabhatti hoti, asappurisacintī hoti, asappurisamantī hoti, asappurisavāco hoti, asappurisakammanto hoti, asappurisadiṭṭhi hoti; asappurisadānaṁ deti.
Kathañca, bhikkhave, asappuriso assaddhammasamannāgato hoti?
Idha, bhikkhave, asappuriso assaddho hoti, ahiriko hoti, anottappī hoti, appassuto hoti, kusīto hoti, muṭṭhassati hoti, duppañño hoti.
Evaṁ kho, bhikkhave, asappuriso assaddhammasamannāgato hoti.
Kathañca, bhikkhave, asappuriso asappurisabhatti hoti?
Idha, bhikkhave, asappurisassa ye te samaṇabrāhmaṇā assaddhā ahirikā anottappino appassutā kusītā muṭṭhassatino duppaññā tyāssa mittā honti te sahāyā.
Evaṁ kho, bhikkhave, asappuriso asappurisabhatti hoti.
Kathañca, bhikkhave, asappuriso asappurisacintī hoti?
Idha, bhikkhave, asappuriso attabyābādhāyapi ceteti, parabyābādhāyapi ceteti, ubhayabyābādhāyapi ceteti.
Evaṁ kho, bhikkhave, asappuriso asappurisacintī hoti.
Kathañca, bhikkhave, asappuriso asappurisamantī hoti?
Idha, bhikkhave, asappuriso attabyābādhāyapi manteti, parabyābādhāyapi manteti, ubhayabyābādhāyapi manteti.
Evaṁ kho, bhikkhave, asappuriso asappurisamantī hoti.
Kathañca, bhikkhave, asappuriso asappurisavāco hoti?
Idha, bhikkhave, asappuriso musāvādī hoti, pisuṇavāco hoti, pharusavāco hoti, samphappalāpī hoti.
Evaṁ kho, bhikkhave, asappuriso asappurisavāco hoti.
Kathañca, bhikkhave, asappuriso asappurisakammanto hoti?
Idha, bhikkhave, asappuriso pāṇātipātī hoti, adinnādāyī hoti, kāmesumicchācārī hoti.
Evaṁ kho, bhikkhave, asappuriso asappurisakammanto hoti.
Kathañca, bhikkhave, asappuriso asappurisadiṭṭhi hoti?
Idha, bhikkhave, asappuriso evaṁdiṭṭhi hoti:
‘natthi dinnaṁ, natthi yiṭṭhaṁ, natthi hutaṁ, natthi sukatadukkaṭānaṁ kammānaṁ phalaṁ vipāko, natthi ayaṁ loko, natthi paro loko, natthi mātā, natthi pitā, natthi sattā opapātikā, natthi loke samaṇabrāhmaṇā sammaggatā sammāpaṭipannā, ye imañca lokaṁ parañca lokaṁ sayaṁ abhiññā sacchikatvā pavedentī’ti.
Evaṁ kho, bhikkhave, asappuriso asappurisadiṭṭhi hoti.
Kathañca, bhikkhave, asappuriso asappurisadānaṁ deti?
Idha, bhikkhave, asappuriso asakkaccaṁ dānaṁ deti, asahatthā dānaṁ deti, acittīkatvā dānaṁ deti, apaviṭṭhaṁ dānaṁ deti anāgamanadiṭṭhiko dānaṁ deti.
Evaṁ kho, bhikkhave, asappuriso asappurisadānaṁ deti.
So, bhikkhave, asappuriso evaṁ assaddhammasamannāgato, evaṁ asappurisabhatti, evaṁ asappurisacintī, evaṁ asappurisamantī, evaṁ asappurisavāco, evaṁ asappurisakammanto, evaṁ asappurisadiṭṭhi;
evaṁ asappurisadānaṁ datvā kāyassa bhedā paraṁ maraṇā yā asappurisānaṁ gati tattha upapajjati.
Kā ca, bhikkhave, asappurisānaṁ gati?
Nirayo vā tiracchānayoni vā.
Jāneyya nu kho, bhikkhave, sappuriso sappurisaṁ:
‘sappuriso ayaṁ bhavan’”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Sādhu, bhikkhave;
ṭhānametaṁ, bhikkhave, vijjati yaṁ sappuriso sappurisaṁ jāneyya:
‘sappuriso ayaṁ bhavan’ti.
Jāneyya pana, bhikkhave, sappuriso asappurisaṁ:
‘asappuriso ayaṁ bhavan’”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Sādhu, bhikkhave;
etampi kho, bhikkhave, ṭhānaṁ vijjati yaṁ sappuriso asappurisaṁ jāneyya:
‘asappuriso ayaṁ bhavan’ti.
Sappuriso, bhikkhave, saddhammasamannāgato hoti, sappurisabhatti hoti, sappurisacintī hoti, sappurisamantī hoti, sappurisavāco hoti, sappurisakammanto hoti, sappurisadiṭṭhi hoti;
sappurisadānaṁ deti.
Kathañca, bhikkhave, sappuriso saddhammasamannāgato hoti?
Idha, bhikkhave, sappuriso saddho hoti, hirimā hoti, ottappī hoti, bahussuto hoti, āraddhavīriyo hoti, upaṭṭhitassati hoti, paññavā hoti.
Evaṁ kho, bhikkhave, sappuriso saddhammasamannāgato hoti.
Kathañca, bhikkhave, sappuriso sappurisabhatti hoti?
Idha, bhikkhave, sappurisassa ye te samaṇabrāhmaṇā saddhā hirimanto ottappino bahussutā āraddhavīriyā upaṭṭhitassatino paññavanto tyāssa mittā honti, te sahāyā.
Evaṁ kho, bhikkhave, sappuriso sappurisabhatti hoti.
Kathañca, bhikkhave, sappuriso sappurisacintī hoti?
Idha, bhikkhave, sappuriso nevattabyābādhāya ceteti, na parabyābādhāya ceteti, na ubhayabyābādhāya ceteti.
Evaṁ kho, bhikkhave, sappuriso sappurisacintī hoti.
Kathañca, bhikkhave, sappuriso sappurisamantī hoti?
Idha, bhikkhave, sappuriso nevattabyābādhāya manteti, na parabyābādhāya manteti, na ubhayabyābādhāya manteti.
Evaṁ kho, bhikkhave, sappuriso sappurisamantī hoti.
Kathañca, bhikkhave, sappuriso sappurisavāco hoti?
Idha, bhikkhave, sappuriso musāvādā paṭivirato hoti, pisuṇāya vācāya paṭivirato hoti, pharusāya vācāya paṭivirato hoti, samphappalāpā paṭivirato hoti.
Evaṁ kho, bhikkhave, sappuriso sappurisavāco hoti.
Kathañca, bhikkhave, sappuriso sappurisakammanto hoti?
Idha, bhikkhave, sappuriso pāṇātipātā paṭivirato hoti, adinnādānā paṭivirato hoti, kāmesumicchācārā paṭivirato hoti.
Evaṁ kho, bhikkhave, sappuriso sappurisakammanto hoti.
Kathañca, bhikkhave, sappuriso sappurisadiṭṭhi hoti?
Idha, bhikkhave, sappuriso evaṁdiṭṭhi hoti:
‘atthi dinnaṁ, atthi yiṭṭhaṁ, atthi hutaṁ, atthi sukatadukkaṭānaṁ kammānaṁ phalaṁ vipāko, atthi ayaṁ loko, atthi paro loko, atthi mātā, atthi pitā, atthi sattā opapātikā, atthi loke samaṇabrāhmaṇā sammaggatā sammāpaṭipannā ye imañca lokaṁ parañca lokaṁ sayaṁ abhiññā sacchikatvā pavedentī’ti.
Evaṁ kho, bhikkhave, sappuriso sappurisadiṭṭhi hoti.
Kathañca, bhikkhave, sappuriso sappurisadānaṁ deti?
Idha, bhikkhave, sappuriso sakkaccaṁ dānaṁ deti, sahatthā dānaṁ deti, cittīkatvā dānaṁ deti, anapaviṭṭhaṁ dānaṁ deti, āgamanadiṭṭhiko dānaṁ deti.
Evaṁ kho, bhikkhave, sappuriso sappurisadānaṁ deti.
So, bhikkhave, sappuriso evaṁ saddhammasamannāgato, evaṁ sappurisabhatti, evaṁ sappurisacintī, evaṁ sappurisamantī, evaṁ sappurisavāco, evaṁ sappurisakammanto, evaṁ sappurisadiṭṭhi;
evaṁ sappurisadānaṁ datvā kāyassa bhedā paraṁ maraṇā yā sappurisānaṁ gati tattha upapajjati.
Kā ca, bhikkhave, sappurisānaṁ gati?
Devamahattatā vā manussamahattatā vā”ti.
Idamavoca bhagavā.
Attamanā te bhikkhū bhagavato bhāsitaṁ abhinandunti.
Cūḷapuṇṇamasuttaṁ niṭṭhitaṁ dasamaṁ.
Devadahavaggo niṭṭhito paṭhamo.
Tassuddānaṁ
Devadahaṁ pañcattayaṁ,
Kinti sāma sunakkhattaṁ;
Sappāya gaṇa gopaka—
Mahāpuṇṇa cūḷapuṇṇañcāti.
So I have heard.
At one time the Buddha was staying near Sāvatthī in the stilt longhouse of Migāra’s mother in the Eastern Monastery.
Now, at that time it was the sabbath—the full moon on the fifteenth day—and the Buddha was sitting in the open surrounded by the Saṅgha of monks.
Then the Buddha looked around the Saṅgha of mendicants, who were so very silent. He addressed them,
“Mendicants, could an untrue person know of an untrue person:
‘This worthy one is an untrue person’?”
“No, sir.”
“Good, mendicants!
It’s impossible, it can’t happen, that an untrue person could know of an untrue person:
‘This worthy one is an untrue person.’
But could an untrue person know of a true person:
‘This worthy one is a true person’?”
“No, sir.”
“Good, mendicants!
That too is impossible.
A untrue person has bad qualities, is devoted to untrue persons, and has the intentions, counsel, speech, actions, views, and giving of an untrue person.
And how does an untrue person have bad qualities?
It’s when an untrue person is faithless, shameless, imprudent, unlearned, lazy, unmindful, and witless.
That’s how an untrue person has bad qualities.
And how is an untrue person devoted to untrue persons?
It’s when an untrue person is a friend and companion of ascetics and brahmins who are faithless, shameless, imprudent, unlearned, lazy, unmindful, and witless.
That’s how an untrue person is devoted to untrue persons.
And how does an untrue person have the intentions of an untrue person?
It’s when an untrue person intends to hurt themselves, hurt others, and hurt both.
That’s how an untrue person has the intentions of an untrue person.
And how does an untrue person offer the counsel of an untrue person?
It’s when an untrue person offers counsel that hurts themselves, hurts others, and hurts both.
That’s how an untrue person offers the counsel of an untrue person.
And how does an untrue person have the speech of an untrue person?
It’s when an untrue person uses speech that’s false, backbiting, harsh, and nonsensical.
That’s how an untrue person has the speech of an untrue person.
And how does an untrue person have the action of an untrue person?
It’s when an untrue person kills living creatures, steals, and commits sexual misconduct.
That’s how an untrue person has the actions of an untrue person.
And how does an untrue person have the view of an untrue person?
It’s when an untrue person has such a view:
‘There’s no meaning in giving, sacrifice, or offerings. There’s no fruit or result of good and bad deeds. There’s no afterlife. There’s no such thing as mother and father, or beings that are reborn spontaneously. And there’s no ascetic or brahmin who is rightly comported and rightly practiced, and who describes the afterlife after realizing it with their own insight.’
That’s how an untrue person has the view of an untrue person.
And how does an untrue person give the gifts of an untrue person?
It’s when an untrue person gives a gift carelessly, not with their own hand, and thoughtlessly. They give the dregs, and they give without consideration for consequences.
That’s how an untrue person gives the gifts of an untrue person.
That untrue person—who has such bad qualities, frequents untrue persons, and has the intentions, counsel, speech, actions, views, and giving of an untrue person—
when their body breaks up, after death, is reborn in the place where untrue persons are reborn.
And what is the place where untrue persons are reborn?
Hell or the animal realm.
Mendicants, could a true person know of a true person:
‘This worthy one is a true person’?”
“Yes, sir.”
“Good, mendicants!
It is possible that a true person could know of a true person:
‘This worthy one is a true person.’
But could a true person know of an untrue person:
‘This worthy one is an untrue person’?”
“Yes, sir.”
“Good, mendicants!
That too is possible.
A true person has good qualities, is devoted to true persons, and has the intentions, counsel, speech, actions, views, and giving of a true person.
And how does a true person have good qualities?
It’s when a true person is faithful, conscientious, prudent, learned, energetic, mindful, and wise.
That’s how a true person has good qualities.
And how is a true person devoted to true persons?
It’s when a true person is a friend and companion of ascetics and brahmins who are faithful, conscientious, prudent, learned, energetic, mindful, and wise.
That’s how a true person is devoted to true persons.
And how does a true person have the intentions of a true person?
It’s when a true person doesn’t intend to hurt themselves, hurt others, and hurt both.
That’s how a true person has the intentions of a true person.
And how does a true person offer the counsel of a true person?
It’s when a true person offers counsel that doesn’t hurt themselves, hurt others, and hurt both.
That’s how a true person offers the counsel of a true person.
And how does a true person have the speech of a true person?
It’s when a true person refrains from speech that’s false, backbiting, harsh, or nonsensical.
That’s how a true person has the speech of a true person.
And how does a true person have the action of a true person?
It’s when a true person refrains from killing living creatures, stealing, and committing sexual misconduct.
That’s how a true person has the action of a true person.
And how does a true person have the view of a true person?
It’s when a true person has such a view:
‘There is meaning in giving, sacrifice, and offerings. There are fruits and results of good and bad deeds. There is an afterlife. There are such things as mother and father, and beings that are reborn spontaneously. And there are ascetics and brahmins who are rightly comported and rightly practiced, and who describe the afterlife after realizing it with their own insight.’
That’s how a true person has the view of a true person.
And how does a true person give the gifts of a true person?
It’s when a true person gives a gift carefully, with their own hand, and thoughtfully. They don’t give the dregs, and they give with consideration for consequences.
That’s how a true person gives the gifts of a true person.
That true person—who has such good qualities, is devoted to true persons, and has the intentions, counsel, speech, actions, views, and giving of a true person—
when their body breaks up, after death, is reborn in the place where true persons are reborn.
And what is the place where true persons are reborn?
A state of greatness among gods or humans.”
That is what the Buddha said.
Satisfied, the mendicants approved what the Buddha said.
Như vầy tôi nghe.
SC 1Một thời Thế Tôn trú ở Sāvatthi, tại Pubbārāma (Ðông Viên), Migaramatupasada (Lộc Mẫu Giảng đường).
SC 2Lúc bấy giờ trong ngày Bố-tát, ngày trăng tròn, trong đêm trăng rằm, Thế Tôn đang ngồi giữa trời, xung quanh có chúng Tỷ-kheo đoanh vây. Rồi Thế Tôn nhìn chúng Tỷ-kheo đang yên lặng, hết sức yên lặng và bảo các Tỷ-kheo
SC 3—Này các Tỷ-kheo, một người bất chánh (asappurisa) có thể biết một người bất chánh: “Người bất chánh là vị này”, hay không?
SC 4—Bạch Thế Tôn, không biết được.
SC 5—Lành thay, này các Tỷ-kheo! Này các Tỷ-kheo, không thể có sự tình, không thể có sự kiện, một người bất chánh có thể biết một người bất chánh: “Người bất chánh là vị này.” Này các Tỷ-kheo, nhưng một người bất chánh có thể biết một người chơn chánh: “Người chơn chánh là vị này” hay không?
SC 6—Bạch Thế Tôn, không biết được.
SC 7—Lành thay, này các Tỷ-kheo! Này các Tỷ-kheo, không thể có sự tình, không thể có sự kiện một người bất chánh có thể biết được một người chơn chánh: “Người chơn chánh là vị này”.
SC 8Người bất chánh, này các Tỷ-kheo, là người đầy đủ pháp bất chánh, giao du với người bất chánh, suy tư như người bất chánh, tư lường như người bất chánh, nói năng như người bất chánh, hành động như người bất chánh, có tà kiến như người bất chánh, bố thí như người bất chánh.
SC 9Và này các Tỷ-kheo, như thế nào là người bất chánh đầy đủ pháp bất chánh? Ở đây, này các Tỷ-kheo, người bất chánh bất tín, vô tàm, vô quý, nghe ít, biếng nhác, thất niệm, liệt tuệ. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là người bất chánh đầy đủ pháp bất chánh.
SC 10Và này các Tỷ-kheo, như thế nào là người bất chánh giao du với những người bất chánh? Ở đây, này các Tỷ-kheo, những vị Bà-la-môn nào bất tín, vô tàm, vô quý, ít nghe, biếng nhác, thất niệm, liệt tuệ, những vị ấy là bạn, là thân hữu với người bất chánh ấy. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là người bất chánh giao du với người bất chánh.
SC 11Và này các Tỷ-kheo, như thế nào là người bất chánh suy tư như người bất chánh? Ở đây, này các Tỷ-kheo, người bất chánh suy nghĩ tự làm hại mình, suy nghĩ làm hại người khác, suy nghĩ làm hại cả hai. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là người bất chánh suy tư như người bất chánh.
SC 12Và này các Tỷ-kheo, như thế nào là người bất chánh tư lường như người bất chánh? Ở đây, này các Tỷ-kheo, người bất chánh tư lường tự làm hại mình, tư lường làm hại người, tư lường làm hại cả hai. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là người bất chánh tư lường như người bất chánh.
SC 13Và này các Tỷ-kheo, như thế nào là người bất chánh nói năng như người bất chánh? Ở đây, này các Tỷ-kheo, người bất chánh nói lời nói láo, nói lời hai lưỡi, nói ác khẩu, nói lời phù phiếm. Như vậy này các Tỷ-kheo, là người bất chánh nói năng như người bất chánh.
SC 14Và này các Tỷ-kheo, như thế nào là người bất chánh hành động như người bất chánh? Ở đây, này các Tỷ-kheo, người bất chánh sát sanh, lấy của không cho, làm các tà hạnh trong các dục. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là người bất chánh hành động như người bất chánh.
SC 15Và này các Tỷ-kheo, như thế nào là người bất chánh có tà kiến như người bất chánh? Ở đây, này các Tỷ-kheo, người bất chánh có tà kiến như sau: “Không có bố thí, không có lễ hy sinh, không có tế tự, không có quả dị thục các nghiệp thiện ác, không có đời này, không có đời khác, không có cha, không có mẹ, không có loại hóa sanh. Ở đời, không có những vị Sa-môn, những vị Bà-la-môn chánh hướng, chánh hạnh đã tự mình chứng đạt với thượng trí đời này và đời khác, và truyền dạy lại”. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là người bất chánh có tà kiến như người bất chánh.
SC 16Và này các Tỷ-kheo, thế nào là người bất chánh bố thí như người bất chánh? Ở đây, này các Tỷ-kheo, người bất chánh bố thí một cách vô lễ, bố thí không phải tự tay, bố thí không có suy tư kỹ lưỡng, bố thí những vật không cần dùng, bố thí không nghĩ đến tương lai. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là người bất chánh bố thí như người bất chánh.
SC 17Này các Tỷ-kheo, người bất chánh ấy, đầy đủ pháp bất chánh như vậy, giao du với người bất chánh như vậy, suy tư như người bất chánh như vậy, tư lường như người bất chánh như vậy, nói năng như người bất chánh như vậy, hành động như người bất chánh như vậy, có tà kiến như người bất chánh như vậy, bố thí như người bất chánh như vậy, sau khi thân hoại mạng chung, sanh vào cảnh giới của những người bất chánh. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là cảnh giới của những người bất chánh? Ðịa ngục hay là bàng sanh.
SC 18Này các Tỷ-kheo, một người chơn chánh có thể biết được một người chơn chánh: “Người chơn chánh là vị này” hay không?
SC 19—Thưa biết được, bạch Thế Tôn.
SC 20—Lành thay, này các Tỷ-kheo! Sự tình này xảy ra là người chơn chánh có thể biết được người chơn chánh: “Người chơn chánh là vị này”. Nhưng này các Tỷ-kheo, người chơn chánh có thể biết được người bất chánh: “Người bất chánh là vị này” hay không?
SC 21—Thưa biết được, bạch Thế Tôn.
SC 22—Lành thay, này các Tỷ-kheo! Này các Tỷ-kheo, có sự tình này là người chơn chánh có thể biết được người bất chánh: “Người bất chánh là vị này”. Này các Tỷ-kheo, người chơn chánh đầy đủ Chánh pháp, giao du với các bậc chơn chánh, suy nghĩ như các bậc chơn chánh, tư lường như các bậc chơn chánh, nói năng như bậc chơn chánh, hành động như bậc chơn chánh, có chánh kiến như bậc chơn chánh, bố thí như bậc chơn chánh.
SC 23Và này các Tỷ-kheo, thế nào là người chơn chánh đầy đủ Chánh pháp? Ở đây, này các Tỷ-kheo, người chơn chánh có lòng tin, có lòng tàm, có lòng quý, có nghe nhiều, có tinh cần, tinh tấn, có chánh niệm, có trí tuệ. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là người chơn chánh đầy đủ những Chánh pháp.
SC 24Và này các Tỷ-kheo, thế nào là người chơn chánh giao du với các bậc chơn chánh? Ở đây, này các Tỷ-kheo, những vị Sa-môn, Bà-la-môn nào có lòng tin, có lòng tàm, có lòng quý nghe nhiều, tinh cần, tinh tấn, chánh niệm, có trí tuệ, những vị ấy là bạn, là thân hữu của vị chơn chánh ấy. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là người chơn chánh giao du với các bậc chơn chánh.
SC 25Và này, các Tỷ-kheo, như thế nào là người chơn chánh suy tư như người chơn chánh? Ở đây, này các Tỷ-kheo, người chơn chánh không suy nghĩ tự làm hại mình, không suy nghĩ làm hại người khác, không suy nghĩ làm hại cả hai. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là người chơn chánh suy tư như người chơn chánh.
SC 26Và này, các Tỷ-kheo, như thế nào là người chơn chánh tư lường như người chơn chánh? Ở đây, này các Tỷ-kheo, người chơn chánh không tư lường tự làm hại mình, không tư lường làm hại người khác, không tư lường làm hại cả hai. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là người chơn chánh tư lường như người chơn chánh?
SC 27Và này các Tỷ-kheo, như thế nào là người chơn chánh nói năng như người chơn chánh? Ở đây, này các Tỷ-kheo, người chơn chánh từ bỏ không nói láo, từ bỏ không nói hai lưỡi, từ bỏ không nói ác khẩu, từ bỏ không nói phiếm luận. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là người chơn chánh nói năng như người chơn chánh.
SC 28Và này các Tỷ-kheo, thế nào là người chơn chánh hành động như người chơn chánh? Ở đây, này các Tỷ-kheo, người chơn chánh từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ làm các tà hạnh trong dâm dục. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là người chơn chánh hành động như người chơn chánh.
SC 29Và này các Tỷ-kheo, thế nào là người chơn chánh có chánh kiến như bậc chơn chánh? Ở đây, này các Tỷ-kheo, người chơn chánh có chánh kiến như sau: “Có bố thí, có lễ hy sinh, có tế tự, có quả dị thục các nghiệp thiện ác, có đời này, có đời khác, có cha, có mẹ, có loại hóa sanh. Ở đời có những vị Sa-môn, những vị Bà-la-môn chánh hướng, chánh hạnh, đã tự mình chứng đạt với thượng trí đời này và đời khác, và truyền dạy lại. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là người chơn chánh có chánh kiến như người chơn chánh.
SC 30Và này các Tỷ-kheo, thế nào là người chơn chánh bố thí như người chơn chánh? Ở đây, này các Tỷ-kheo, người chơn chánh bố thí một cách lễ độ, bố thí với tự tay, bố thí có suy tư kỹ lưỡng, bố thí những vật cần dùng, bố thí có nghĩ đến tương lai. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là người chơn chánh bố thí như người chơn chánh.
SC 31Này các Tỷ-kheo, người chơn chánh ấy, đầy đủ Chánh pháp như vậy, giao du với người chơn chánh như vậy, suy tư như người chơn chánh như vậy, tư lường như người chơn chánh như vậy, nói năng như người chơn chánh như vậy, hành động như người chơn chánh như vậy, có chánh kiến như người như người chơn chánh như vậy, bố thí như người chơn chánh như vậy, sau khi thân hoại mạng chung, sanh vào cảnh giới của những người chơn chánh. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là cảnh giới của những người chơn chánh? Ðại tánh của chư Thiên hay đại tánh của loài Người.
SC 32Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Các Tỷ-kheo hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy.
Evaṁ me sutaṁ—
ekaṁ samayaṁ bhagavā sāvatthiyaṁ viharati pubbārāme migāramātupāsāde.
Tena kho pana samayena bhagavā tadahuposathe pannarase puṇṇāya puṇṇamāya rattiyā bhikkhusaṅghaparivuto abbhokāse nisinno hoti.
Atha kho bhagavā tuṇhībhūtaṁ tuṇhībhūtaṁ bhikkhusaṅghaṁ anuviloketvā bhikkhū āmantesi:
“jāneyya nu kho, bhikkhave, asappuriso asappurisaṁ:
‘asappuriso ayaṁ bhavan’”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Sādhu, bhikkhave;
aṭṭhānametaṁ, bhikkhave, anavakāso yaṁ asappuriso asappurisaṁ jāneyya:
‘asappuriso ayaṁ bhavan’ti.
Jāneyya pana, bhikkhave, asappuriso sappurisaṁ:
‘sappuriso ayaṁ bhavan’”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Sādhu, bhikkhave;
etampi kho, bhikkhave, aṭṭhānaṁ anavakāso yaṁ asappuriso sappurisaṁ jāneyya:
‘sappuriso ayaṁ bhavan’ti.
Asappuriso, bhikkhave, assaddhammasamannāgato hoti, asappurisabhatti hoti, asappurisacintī hoti, asappurisamantī hoti, asappurisavāco hoti, asappurisakammanto hoti, asappurisadiṭṭhi hoti; asappurisadānaṁ deti.
Kathañca, bhikkhave, asappuriso assaddhammasamannāgato hoti?
Idha, bhikkhave, asappuriso assaddho hoti, ahiriko hoti, anottappī hoti, appassuto hoti, kusīto hoti, muṭṭhassati hoti, duppañño hoti.
Evaṁ kho, bhikkhave, asappuriso assaddhammasamannāgato hoti.
Kathañca, bhikkhave, asappuriso asappurisabhatti hoti?
Idha, bhikkhave, asappurisassa ye te samaṇabrāhmaṇā assaddhā ahirikā anottappino appassutā kusītā muṭṭhassatino duppaññā tyāssa mittā honti te sahāyā.
Evaṁ kho, bhikkhave, asappuriso asappurisabhatti hoti.
Kathañca, bhikkhave, asappuriso asappurisacintī hoti?
Idha, bhikkhave, asappuriso attabyābādhāyapi ceteti, parabyābādhāyapi ceteti, ubhayabyābādhāyapi ceteti.
Evaṁ kho, bhikkhave, asappuriso asappurisacintī hoti.
Kathañca, bhikkhave, asappuriso asappurisamantī hoti?
Idha, bhikkhave, asappuriso attabyābādhāyapi manteti, parabyābādhāyapi manteti, ubhayabyābādhāyapi manteti.
Evaṁ kho, bhikkhave, asappuriso asappurisamantī hoti.
Kathañca, bhikkhave, asappuriso asappurisavāco hoti?
Idha, bhikkhave, asappuriso musāvādī hoti, pisuṇavāco hoti, pharusavāco hoti, samphappalāpī hoti.
Evaṁ kho, bhikkhave, asappuriso asappurisavāco hoti.
Kathañca, bhikkhave, asappuriso asappurisakammanto hoti?
Idha, bhikkhave, asappuriso pāṇātipātī hoti, adinnādāyī hoti, kāmesumicchācārī hoti.
Evaṁ kho, bhikkhave, asappuriso asappurisakammanto hoti.
Kathañca, bhikkhave, asappuriso asappurisadiṭṭhi hoti?
Idha, bhikkhave, asappuriso evaṁdiṭṭhi hoti:
‘natthi dinnaṁ, natthi yiṭṭhaṁ, natthi hutaṁ, natthi sukatadukkaṭānaṁ kammānaṁ phalaṁ vipāko, natthi ayaṁ loko, natthi paro loko, natthi mātā, natthi pitā, natthi sattā opapātikā, natthi loke samaṇabrāhmaṇā sammaggatā sammāpaṭipannā, ye imañca lokaṁ parañca lokaṁ sayaṁ abhiññā sacchikatvā pavedentī’ti.
Evaṁ kho, bhikkhave, asappuriso asappurisadiṭṭhi hoti.
Kathañca, bhikkhave, asappuriso asappurisadānaṁ deti?
Idha, bhikkhave, asappuriso asakkaccaṁ dānaṁ deti, asahatthā dānaṁ deti, acittīkatvā dānaṁ deti, apaviṭṭhaṁ dānaṁ deti anāgamanadiṭṭhiko dānaṁ deti.
Evaṁ kho, bhikkhave, asappuriso asappurisadānaṁ deti.
So, bhikkhave, asappuriso evaṁ assaddhammasamannāgato, evaṁ asappurisabhatti, evaṁ asappurisacintī, evaṁ asappurisamantī, evaṁ asappurisavāco, evaṁ asappurisakammanto, evaṁ asappurisadiṭṭhi;
evaṁ asappurisadānaṁ datvā kāyassa bhedā paraṁ maraṇā yā asappurisānaṁ gati tattha upapajjati.
Kā ca, bhikkhave, asappurisānaṁ gati?
Nirayo vā tiracchānayoni vā.
Jāneyya nu kho, bhikkhave, sappuriso sappurisaṁ:
‘sappuriso ayaṁ bhavan’”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Sādhu, bhikkhave;
ṭhānametaṁ, bhikkhave, vijjati yaṁ sappuriso sappurisaṁ jāneyya:
‘sappuriso ayaṁ bhavan’ti.
Jāneyya pana, bhikkhave, sappuriso asappurisaṁ:
‘asappuriso ayaṁ bhavan’”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Sādhu, bhikkhave;
etampi kho, bhikkhave, ṭhānaṁ vijjati yaṁ sappuriso asappurisaṁ jāneyya:
‘asappuriso ayaṁ bhavan’ti.
Sappuriso, bhikkhave, saddhammasamannāgato hoti, sappurisabhatti hoti, sappurisacintī hoti, sappurisamantī hoti, sappurisavāco hoti, sappurisakammanto hoti, sappurisadiṭṭhi hoti;
sappurisadānaṁ deti.
Kathañca, bhikkhave, sappuriso saddhammasamannāgato hoti?
Idha, bhikkhave, sappuriso saddho hoti, hirimā hoti, ottappī hoti, bahussuto hoti, āraddhavīriyo hoti, upaṭṭhitassati hoti, paññavā hoti.
Evaṁ kho, bhikkhave, sappuriso saddhammasamannāgato hoti.
Kathañca, bhikkhave, sappuriso sappurisabhatti hoti?
Idha, bhikkhave, sappurisassa ye te samaṇabrāhmaṇā saddhā hirimanto ottappino bahussutā āraddhavīriyā upaṭṭhitassatino paññavanto tyāssa mittā honti, te sahāyā.
Evaṁ kho, bhikkhave, sappuriso sappurisabhatti hoti.
Kathañca, bhikkhave, sappuriso sappurisacintī hoti?
Idha, bhikkhave, sappuriso nevattabyābādhāya ceteti, na parabyābādhāya ceteti, na ubhayabyābādhāya ceteti.
Evaṁ kho, bhikkhave, sappuriso sappurisacintī hoti.
Kathañca, bhikkhave, sappuriso sappurisamantī hoti?
Idha, bhikkhave, sappuriso nevattabyābādhāya manteti, na parabyābādhāya manteti, na ubhayabyābādhāya manteti.
Evaṁ kho, bhikkhave, sappuriso sappurisamantī hoti.
Kathañca, bhikkhave, sappuriso sappurisavāco hoti?
Idha, bhikkhave, sappuriso musāvādā paṭivirato hoti, pisuṇāya vācāya paṭivirato hoti, pharusāya vācāya paṭivirato hoti, samphappalāpā paṭivirato hoti.
Evaṁ kho, bhikkhave, sappuriso sappurisavāco hoti.
Kathañca, bhikkhave, sappuriso sappurisakammanto hoti?
Idha, bhikkhave, sappuriso pāṇātipātā paṭivirato hoti, adinnādānā paṭivirato hoti, kāmesumicchācārā paṭivirato hoti.
Evaṁ kho, bhikkhave, sappuriso sappurisakammanto hoti.
Kathañca, bhikkhave, sappuriso sappurisadiṭṭhi hoti?
Idha, bhikkhave, sappuriso evaṁdiṭṭhi hoti:
‘atthi dinnaṁ, atthi yiṭṭhaṁ, atthi hutaṁ, atthi sukatadukkaṭānaṁ kammānaṁ phalaṁ vipāko, atthi ayaṁ loko, atthi paro loko, atthi mātā, atthi pitā, atthi sattā opapātikā, atthi loke samaṇabrāhmaṇā sammaggatā sammāpaṭipannā ye imañca lokaṁ parañca lokaṁ sayaṁ abhiññā sacchikatvā pavedentī’ti.
Evaṁ kho, bhikkhave, sappuriso sappurisadiṭṭhi hoti.
Kathañca, bhikkhave, sappuriso sappurisadānaṁ deti?
Idha, bhikkhave, sappuriso sakkaccaṁ dānaṁ deti, sahatthā dānaṁ deti, cittīkatvā dānaṁ deti, anapaviṭṭhaṁ dānaṁ deti, āgamanadiṭṭhiko dānaṁ deti.
Evaṁ kho, bhikkhave, sappuriso sappurisadānaṁ deti.
So, bhikkhave, sappuriso evaṁ saddhammasamannāgato, evaṁ sappurisabhatti, evaṁ sappurisacintī, evaṁ sappurisamantī, evaṁ sappurisavāco, evaṁ sappurisakammanto, evaṁ sappurisadiṭṭhi;
evaṁ sappurisadānaṁ datvā kāyassa bhedā paraṁ maraṇā yā sappurisānaṁ gati tattha upapajjati.
Kā ca, bhikkhave, sappurisānaṁ gati?
Devamahattatā vā manussamahattatā vā”ti.
Idamavoca bhagavā.
Attamanā te bhikkhū bhagavato bhāsitaṁ abhinandunti.
Cūḷapuṇṇamasuttaṁ niṭṭhitaṁ dasamaṁ.
Devadahavaggo niṭṭhito paṭhamo.
Tassuddānaṁ
Devadahaṁ pañcattayaṁ,
Kinti sāma sunakkhattaṁ;
Sappāya gaṇa gopaka—
Mahāpuṇṇa cūḷapuṇṇañcāti.