Như vầy tôi nghe.
SC 1Một thời Thế Tôn ở Kosambi (Kiều-thưởng-di), tại tịnh xá Ghosita (Cu-sư-la).
SC 2Lúc bấy giờ các Tỷ-kheo ở Kosambi sống cạnh tranh, luận tranh, đấu tranh nhau, đả thương nhau bằng những binh khí miệng lưỡi. Rồi một Tỷ-kheo đến chỗ Thế Tôn ở, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên. Ðứng một bên, Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn
SC 3—Ở đây, bạch Thế Tôn, các Tỷ-kheo ở Kosambi, sống cạnh tranh, luận tranh, đấu tranh nhau, đả thương nhau bằng những binh khí miệng lưỡi. Tốt lành thay, bạch Thế Tôn, nếu Thế Tôn vì lòng từ mẫn, đến các Tỷ-kheo ấy.
SC 4Thế Tôn im lặng nhận lời. Rồi Thế Tôn đi đến các Tỷ-kheo ấy, sau khi đến liền nói với họ
SC 5—Thôi vừa rồi, các Tỷ-kheo! Chớ có cạnh tranh, luận tranh, phân tranh, đấu tranh nhau!
SC 6Khi nghe nói vậy, một Tỷ-kheo bạch Thế Tôn
SC 7—Bạch Thế Tôn, Thế Tôn là bậc Pháp Chủ, hãy dừng lại! Bạch Thế Tôn, Thế Tôn chớ có nhọc lòng! Thế Tôn hãy an trú, chú tâm và hiện tại lạc trú! Vì rằng chúng con chịu trách nhiệm về sự cạnh tranh, luận tranh, phân tranh, đấu tranh này.
SC 8Lần thứ hai, Thế Tôn nói với các Tỷ-kheo ấy
SC 9—Thôi vừa rồi, này các Tỷ-kheo! Chớ có cạnh tranh, luận tranh, phân tranh, đấu tranh nhau!
SC 10Lần thứ hai, Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn
SC 11—Bạch Thế Tôn, Thế Tôn là bậc Pháp Chủ, hãy dừng lại! Bạch Thế Tôn, Thế Tôn chớ có nhọc lòng! Thế Tôn hãy an trú, chú tâm và hiện tại lạc trú! Vì rằng chúng con chịu trách nhiệm về sự cạnh tranh, luận tranh, phân tranh, đấu tranh này.
SC 12Lần thứ ba, Thế Tôn nói với các Tỷ-kheo ấy
SC 13—Thôi vừa rồi, này các Tỷ-kheo! Chớ có cạnh tranh, luận tranh, phân tranh, đấu tranh nhau!
SC 14Lần thứ ba, Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn
SC 15—Bạch Thế Tôn, Thế Tôn là bậc Pháp Chủ, hãy dừng lại! Bạch Thế Tôn, Thế Tôn chớ có nhọc lòng! Thế Tôn hãy an trú, chú tâm vào hiện tại lạc trú! Vì rằng chúng con chịu trách nhiệm về sự cạnh tranh, luận tranh, phân tranh, đấu tranh này.
SC 16Rồi Thế Tôn vào buổi sáng đắp y, cầm y bát và đi vào Kosambi để khất thực. Sau khi đi khất thực ở Kosambi, ăn xong, trên con đường khi khất thực trở về, sau khi dọn dẹp chỗ nằm, lấy y bát, Ngài đứng và nói bài kệ:
SC 17Giữa quần chúng la ó,
Không ai nghĩ mình ngu,
Giữa Tăng chúng phân ly
Có ai nghĩ hướng thượng?
SC 18Thất niệm kẻ trí nói,
Ba hoa trăm thứ chuyện,
Miệng há, nói thả dàn,
Dẫn đi đâu, ai biết?
SC 19“Nó mắng tôi, đánh tôi!
Nó hại tôi, cướp tôi!”
Ai ôm oán niệm ấy,
Hận thù không thể nguôi.
SC 20“Nó mắng tôi, đánh tôi!
Nó hại tôi, cướp tôi!”
Không ôm oán niệm ấy,
Hận thù sẽ tự nguôi.
SC 21Hận thù diệt hận thù,
Không đời nào diệt được,
Từ bi diệt hận thù,
Là định luật ngàn thu.
SC 22“Người khác không hiểu biết,
Ở đây ta bị diệt”,
Những ai hiểu điều này,
Nhờ vậy, tranh luận tiêu.
SC 23Kẻ chủ xướng hại mạng,
Cướp bò, ngựa tài sản,
Kẻ cướp đoạt quốc độ,
Họ còn biết đoàn kết,
Sao các Ông không vậy?
SC 24Nếu được bạn hiền trí,
Ðồng hành, khéo an trú,
Ðả thắng mọi hiểm nạn,
Sống hoan hỷ chánh niệm.
SC 25Nếu không bạn hiền trí,
Như vua bỏ quốc độ,
Cô độc như voi rừng.
Tốt hơn, sống một mình,
Không bè bạn kẻ ngu,
Cô độc không làm ác,
Nhàn hạ, như voi rừng.
SC 26Rồi Thế Tôn đứng nói lên những câu kệ này, rồi đi đến làng Balakalonakara. Khi ấy, Tôn giả Bhagu sống ở trong làng Balakalonakara. Tôn giả Bhagu thấy Thế Tôn từ xa đi đến, liền sắp đặt chỗ ngồi và nước rửa chân. Thế Tôn ngồi trên chỗ ngồi đã soạn sẵn; sau khi ngồi, Ngài rửa chân. Tôn giả Bhagu đảnh lễ Thế Tôn, rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với Tôn giả Bhagu đang ngồi một bên
SC 27—Này Tỷ-kheo, có được an lành không? Có được sống yên vui không? Ði khất thực, có khỏi mệt nhọc không?
SC 28—Bạch Thế Tôn, con được an lành. Bạch Thế Tôn, con sống yên vui. Bạch Thế Tôn, con đi khất thực khỏi có mệt nhọc.
SC 29Rồi Thế Tôn sau khi với thời thuyết pháp khích lệ Tôn giả Bhagu, làm cho hân hoan, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ, từ chỗ ngồi đứng dậy, đi đến Pacinavamsadaya. Lúc bấy giờ, Tôn giả Anuruddha (A-na-luật), Tôn giả Nandiya (Nan-đề) và Tôn giả Kimbila (Kim-ty—la) trú ở Pacinavamasadaya. Người giữ vườn thấy Thế Tôn từ xa đi đến, khi thấy vậy liền bạch Thế Tôn:
SC 30Này Sa-môn, chớ có vào khu vườn này. Có ba Thiện gia nam tử, rất ái luyến tự ngã (attakamanipa) trú tại đây. Chớ có phiền nhiễu các vị ấy.
SC 31Tôn giả Anuruddha nghe người giữ khu vườn nói chuyện với Thế Tôn, liền nói với người giữ vườn
SC 32—Này Người giữ vườn, chớ có ngăn chặn Thế Tôn! Thế Tôn là bậc Ðạo sư của chúng tôi đã đến.
SC 33Rồi Tôn giả Anuruddha đi đến Tôn giả Nandiya và Tôn giả Kimbila và nói
SC 34—Chư Tôn giả hãy đến! Chư Tôn giả hãy đến! Thế Tôn, bậc Ðạo sư của chúng ta đã đến.
SC 35Rồi Tôn giả Anuruddha, Tôn giả Nandiya và Tôn giả Kimbila ra đón Thế Tôn, một người cầm y bát Thế Tôn, một người sửa soạn chỗ ngồi, một người đặt sẵn nước rửa chân. Thế Tôn ngồi trên chỗ ngồi đã soạn sẵn; sau khi ngồi, Thế Tôn rửa chân. Rồi các Tôn giả ấy đảnh lễ Thế Tôn và ngồi xuống một bên. Rồi Thế Tôn nói với Tôn giả Anuruddha đang ngồi xuống một bên
SC 36—Này các Anuruddha, các Ông có được an lành không? Có được sống yên vui không? Ði khất thực có khỏi mệt nhọc không?
SC 37—Bạch Thế Tôn, chúng con được an lành. Bạch Thế Tôn, chúng con sống yên vui. Bạch Thế Tôn, chúng con đi khất thực khỏi có mệt nhọc.
SC 38—Này các Anuruddha, các Ông có sống hòa hợp, hoan hỷ với nhau, không có cãi nhau. Như nước với sữa, sống nhìn nhau với cặp mắt thiện cảm không?
SC 39—Bạch Thế Tôn, thật sự chúng con sống hòa hợp, hoan hỷ với nhau, không có cãi nhau, như nước với sữa, sống nhìn nhau với cặp mắt thiện cảm.
SC 40—Này các Anuruddha, như thế nào các Ông sống hòa hợp, hoan hỷ với nhau, như nước với sữa, sống nhìn nhau với cặp mắt thiện cảm?
SC 41—Bạch Thế Tôn, ở đây chúng con nghĩ như sau: “Thật lợi ích thay cho ta! Thật khéo lợi ích thay cho ta, khi ta được sống với các đồng Phạm hạnh như vậy! Bạch Thế Tôn, do vậy đối với các vị đồng Phạm hạnh này, con khởi lên từ thân nghiệp, trước mặt và sau lưng; con khởi lên từ khẩu nghiệp, trước mặt và sau lưng, con khởi lên từ ý nghiệp, trước mặt và sau lưng. Bạch Thế Tôn, do vậy chúng con nghĩ như sau: “Ta hãy từ bỏ tâm của ta và sống thuận theo tâm của những Tôn giả này”. Và bạch Thế Tôn, con từ bỏ tâm của con, và sống thuận theo tâm của những Tôn giả ấy. Bạch Thế Tôn, chúng con tuy khác thân nhưng giống như đồng một tâm.
SC 42Rồi Tôn giả Nandiya … Rồi Tôn giả Kimbila bạch Thế Tôn
SC 43—Bạch Thế Tôn, ở đây chúng con nghĩ như sau: “Thật lợi ích thay cho ta! Thật khéo lợi ích thay cho ta, khi ta được sống với các vị đồng Phạm hạnh như vậy!” Bạch Thế Tôn, do vậy đối với các vị đồng Phạm hạnh này, con khởi lên từ thân nghiệp, trước mặt và sau lưng; con khởi lên từ khẩu nghiệp, trước mặt và sau lưng, con khởi lên từ ý nghiệp, trước mặt và sau lưng. Bạch Thế Tôn, do vậy chúng con nghĩ như sau: “Ta hãy từ bỏ tâm của ta và sống thuận theo tâm của những Tôn giả này”. Và bạch Thế Tôn, con từ bỏ tâm của con và sống thuận theo tâm của những Tôn giả ấy. Bạch Thế Tôn, chúng con tuy khác thân nhưng giống như đồng một tâm. Bạch Thế Tôn, như vậy chúng con sống hòa hợp, hoan hỷ với nhau, như nước với sữa, sống nhìn nhau với cặp mắt thiện cảm.
SC 44—Lành thay, lành thay, này các Anuruddha! Và này các Anuruddha, các Ông có sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần không?
SC 45—Bạch Thế Tôn, thật sự chúng con sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.
SC 46—Này các Anuruddha, như thế nào, các Ông sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần?
SC 47—Ở đây, bạch Thế Tôn, chúng con ai đi vào làng khất thực về trước, người ấy sắp đặt các chỗ ngồi, soạn sẵn nước uống, nước rửa chân, soạn sẵn một bát để bỏ đồ dư. Ai đi vào làng khất thực về sau, người ấy, còn đồ ăn để lại, nếu muốn thì ăn, nếu không muốn thời bỏ vào chỗ không có cỏ xanh hay đổ vào nước không có loài côn trùng. Người ấy xếp dọn lại các chỗ ngồi, cất đi nước uống, nước rửa chân, cất đi cái bát để bỏ đồ dư và quét sạch nhà ăn. Ai thấy ghè nước uống, ghè nước rửa chân, hay ghè nước trong nhà cầu hết nước trống không, người ấy sẽ lo liệu (nước). Nếu làm không nỗi với sức bàn tay của mình, người ấy dùng tay ra hiệu gọi người thứ hai: “Chúng ta hãy lo liệu (nước)”. Dầu vậy, bạch Thế Tôn, chúng con không vì vậy gây ra tiếng động. Và đến ngày thứ năm, bạch Thế Tôn, suốt cả một đêm chúng con ngồi đàm luận về đạo pháp. Như vậy, bạch Thế Tôn, chúng con sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.
SC 48—Lành thay, lành thay, này các Anurudda! Này các Anuruddha, các Ông sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần như vậy, các Ông có chứng được pháp thượng nhân tri kiến thù thắng, xứng đáng bậc Thánh, sống thoải mái an lạc không?
SC 49—Ở đây, bạch Thế Tôn, chúng con sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần như vậy, chúng con nhận thấy được hào quang, cũng như sự hiện khởi các sắc pháp. Nhưng hào quang ấy không bao lâu biến mất cùng với sự hiện khởi các sắc pháp. Chúng con không được hiểu rõ tướng ấy là gì.
SC 50—Này các Anuruddha, tướng ấy các Ông cần phải hiểu rõ. Ta cũng vậy, này các Anuruddha, trước khi giác ngộ, chưa chứng Chánh Ðẳng Giác, còn là Bồ-tát, Ta nhận thấy hào quang và sự hiện khởi các sắc pháp. Nhưng hào quang ấy không bao lâu biến mất nơi Ta cùng với sự hiện khởi các sắc pháp. Này các Anuruddha, Ta suy nghĩ như sau: “Do nhân gì, do duyên gì hào quang biến mất đối với Ta, cùng với sự hiện khởi các sắc pháp?” Này các Anuruddha, Ta suy nghĩ như sau: “Nghi hoặc khởi lên nơi Ta. Vì có nghi hoặc nên định của Ta bị biến diệt; khi định biến diệt, hào quang biến mất cùng với sự hiện khởi các sắc pháp. Vậy Ta sẽ phải làm thế nào để nghi hoặc không khởi lên nơi Ta nữa”.
SC 51Rồi này các Anuruddha, Ta sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, nhận thấy được hào quang cùng với sự hiện khởi các sắc pháp. Nhưng hào quang ấy không bao lâu biến mất nơi Ta, cùng với sự hiện khởi các sắc pháp. Rồi này các Anuruddha, Ta suy nghĩ như sau: “Do nhân gì, do duyên gì, hào quang biến mất nơi Ta, cùng với sự hiện khởi của các sắc pháp?” Rồi này các Anuruddha, Ta suy nghĩ như sau: “Không tác ý khởi lên nơi Ta. Vì không có tác ý, nên định bị biến diệt nơi Ta; khi định bị biến diệt, hào quang biến mất cùng với sự hiện khởi các sắc pháp. Vậy Ta phải làm như thế nào để nghi hoặc và không tác ý không khởi lên nơi Ta nữa”.
SC 52Rồi này các Anuruddha, Ta sống không phóng dật … Rồi này các Anuruddha, Ta suy nghĩ như sau: “Hôn trầm, thụy miên, khởi lên nơi Ta. Vì có hôn trầm, thụy miên nên định của Ta bị biến diệt; khi định bị biến diệt, hào quang biến mất cùng với sự hiện khởi các sắc pháp. Vậy Ta phải làm như thế nào để nghi hoặc, không tác ý và hôn trầm, thụy miên không khởi lên nơi Ta nữa”.
SC 53Rồi này các Anuruddha, Ta sống không phóng dật … Rồi này các Anuruddha, Ta suy nghĩ như sau: “Sự sợ hãi khởi lên nơi Ta. Vì có sợ hãi, nên định bị biến diệt nơi Ta; khi định bị biến diệt, hào quang biến mất cùng với sự hiện khởi các sắc pháp”. Ví như, này các Anuruddha, một người đang đi trên con đường, có kẻ giết người nhảy đến (công kích) từ hai phía. Do nhân duyên từ hai phía, người ấy khởi lên sợ hãi. Cũng vậy, này các Anuruddha, sợ hãi khởi lên nơi Ta. Vì có sợ hãi, nên định bị biến diệt nơi Ta; khi định bị biến diệt, hào quang biến mất cùng với sự hiện khởi các sắc pháp. Vậy Ta phải làm thế nào để nghi hoặc, không tác ý, hôn trầm, thụy miên và sự sợ hãi không khởi lên nơi Ta nữa”.
SC 54Rồi này các Anuruddha, Ta sống không phóng dật. Rồi này các Anuruddha, Ta suy nghĩ như sau: “Sự phấn chấn (ubbilla) khởi lên nơi Ta. Vì có sự phấn chấn, nên định bị biến diệt nơi Ta; khi định bị biến diệt, hào quang biến mất cùng với sự hiện khởi các sắc pháp. Ví như, này các Anuruddha, một người đi tìm cửa miệng một kho tàng, và trong một lần tìm được năm cửa miệng kho tàng, do nhân duyên này phấn chấn khởi lên. Cũng vậy, này các Anuruddha, phấn chấn khởi lên nơi Ta. Vì có phấn chấn nên định bị biến diệt nơi Ta; khi định bị biến diệt mất cùng với sự hiện khởi các sắc pháp. Vậy Ta phải làm thế nào, để nghi hoặc, không tác ý, hôn trầm, thụy miên, sợ hãi và sự phấn chấn không khởi lên nơi Ta nữa”.
SC 55Rồi này các Anuruddha, Ta sống không phóng dật … Rồi này các Anuruddha, Ta suy nghĩ như sau: “Dâm ý (dutthullam) khởi lên nơi Ta. Vì có dâm ý, nên định bị biến diệt nơi Ta; khi định bị biến diệt, hào quang biến mất cùng với sự hiện khởi các sắc pháp. Vậy Ta phải làm thế nào để nghi hoặc, không tác ý, hôn trầm, thụy miên, sợ hãi, phấn chấn, dâm ý không khởi lên nơi Ta nữa”.
SC 56Rồi này các Anuruddha, Ta sống không phóng dật … Rồi này các Anuruddha, Ta suy nghĩ như sau: “Sự tinh cần quá độ khởi lên nơi Ta, và vì có tinh cần quá độ, nên định lực biến diệt nơi Ta; khi định bị biến diệt, hào quang biến mất cùng với sự hiện khởi các sắc pháp. Ví như, này các Anuruddha, một người với hai tay bắt nắm quá chặt một con chim cáy khiến con chim chết liền tại chỗ. Cũng vậy, này các Anuruddha, tinh cần quá độ khởi lên nơi Ta. Vì có tinh cần quá độ … cùng với sự hiện khởi các sắc pháp. Vậy Ta phải làm thế nào để nghi hoặc, không tác ý, hôn trầm, thụy miên, sợ hãi, phấn chấn, dâm ý, và tinh cần quá độ không khởi lên nơi Ta nữa”.
SC 57Rồi này các Anuruddha, Ta sống không phóng dật … Rồi này các Anuruddha, Ta suy nghĩ như sau: “Tinh cần quá yếu đuối khởi lên nơi Ta. Vì có tinh cần quá yếu đuối, nên định biến diệt nơi Ta; khi định biến diệt, hào quang biến mất cùng với sự hiện khởi các sắc pháp. Ví như, này các Anuruddha, một người bắt một con chim cáy quá lỏng lẻo, con chim ấy bay khỏi hai tay của người ấy. Cũng vậy, này các Anuruddha, … cùng với sự hiện khởi các sắc pháp. Vậy Ta phải làm thế nào để nghi hoặc, không tác ý, hôn trầm, thụy miên, sợ hãi, phấn chấn, dâm ý, tinh cần quá độ và tinh cần quá yếu đuối không khởi lên nơi Ta nữa”.
SC 58Rồi này các Anuruddha, Ta sống không phóng dật … Rồi này các Anuruddha, Ta suy nghĩ như sau: “Ái dục khởi lên nơi Ta. Vì có ái dục. Với sự hiện khởi các sắc pháp … Vậy Ta phải làm thế nào để nghi hoặc, không tác ý … tinh cần quá yếu đuối và ái dục không khởi lên nơi Ta nữa”.
SC 59Rồi này các Anuruddha, Ta sống không phóng dật … Rồi này các Anuruddha, Ta nghĩ như sau: “Sai biệt tưởng khởi lên nơi Ta … cùng với sự hiện khởi các sắc pháp. Vậy Ta phải làm thế nào để nghi hoặc … ái dục và sai biệt tưởng không khởi lên nơi Ta nữa”.
SC 60Rồi này các Anuruddha, Ta sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, và Ta nhận thấy được hào quang cùng với sự hiện khởi sắc pháp. Những hào quang ấy không bao lâu biến mất nơi Ta cùng với sự hiện khởi các sắc pháp. Rồi này các Anuruddha, Ta suy nghĩ như sau: “Do nhân gì, do duyên gì, hào quang biến mất nơi Ta cùng với sự hiện khởi các sắc pháp?” Rồi này các Anuruddha, Ta suy nghĩ như sau: “Một trạng thái quá chú tâm vào các sắc pháp khởi lên nơi Ta … cùng với sự hiện khởi các sắc pháp. Vậy Ta phải làm như thế nào để nghi hoặc. (như trên) … các tưởng sai biệt và trạng thái quá chú tâm vào các sắc pháp không khởi lên nơi Ta nữa”. Rồi này các Anuruddha, sau khi biết được nghi hoặc là một phiền não của tâm, Ta đoạn trừ nghi hoặc, phiền não của tâm; sau khi biết được không tác ý là một phiền não của tâm, Ta đoạn trừ không tác ý, phiền não của tâm; sau khi biết được hôn trầm, thụy miên … sau khi biết được sợ hãi … sau khi biết được phấn chấn … sau khi biết được dâm ý … sau khi biết được sự tinh cần quá độ … sau khi biết được sự tinh cần quá yếu đuối … sau khi biết được dục ái … sau khi biết được tưởng sai biệt; sau khi biết được trạng thái quá chú tâm đến sắc pháp là một phiền não của tâm, Ta đoạn trừ trạng thái quá chú trọng vào các sắc pháp, một phiền não của tâm.
SC 61Rồi này các Anuruddha, Ta sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, nhận thấy được hào quang nhưng Ta không thấy các sắc pháp cả đêm, cả ngày, cả đêm và cả ngày. Ta thấy các sắc pháp nhưng không nhận thấy hào quang. Về vấn đề này, này các Anuruddha, Ta suy nghĩ như sau: “Do nhân gì, do duyên gì, Ta chỉ nhận thấy hào quang, nhưng không thấy sắc pháp: cả đêm, cả ngày, cả đêm và cả ngày?” Ta chỉ thấy các sắc pháp nhưng không nhận thấy hào quang. Về vấn đề này, này các Anuruddha, Ta suy nghĩ như sau: “Trong khi Ta không tác ý sắc tướng, nhưng có tác ý hào quang tướng, trong khi ấy ta nhận thấy hào quang, nhưng không thấy sắc pháp. Còn trong khi Ta không tác ý hào quang tướng, nhưng tác ý sắc tướng; trong khi ấy Ta thấy các sắc pháp, nhưng không nhận thấy hào quang, cả đêm, cả ngày, cả đêm và cả ngày”.
SC 62Rồi này các Anuruddha, Ta sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, nhận thấy hào quang có hạn lượng và thấy được các sắc pháp có hạn lượng; nhận thấy hào quang vô lượng và nhận thấy được các sắc pháp vô lượng, cả đêm, cả ngày, cả đêm và cả ngày. Về vấn đề này, này các Anuruddha, Ta suy nghĩ như sau: “Do nhân gì, do duyên gì, Ta nhận thấy hào quang có hạn lượng và thấy các sắc pháp có hạn lượng; nhận thấy hào quang vô lượng và thấy được các sắc pháp vô lượng, cả đêm, cả ngày, cả đêm và cả ngày?” Về vấn đề này, này các Anuruddha, Ta suy nghĩ như sau: “Khi nào định có hạn lượng, khi ấy mắt của Ta có hạn lượng; với con mắt có hạn lượng ấy, Ta nhận thấy hào quang có hạn lượng và thấy sắc pháp có hạn lượng. Nhưng khi nào định của Ta không hạn lượng, trong khi ấy mắt của Ta thành vô lượng, và với con mắt vô lượng ấy, Ta nhận thấy hào quang vô lượng và thấy các sắc pháp vô lượng cả đêm, cả ngày, cả đêm và cả ngày”.
SC 63Này các Anuruddha, khi nào biết được nghi hoặc là một phiền não của tâm, thời nghi hoặc phiền não của tâm được đoạn trừ; khi nào biết được không tác ý là một phiền não của tâm, thời không tác ý phiền não của tâm được đoạn trừ; khi nào biết được hôn trầm, thụy miên …; khi nào biết được sợ hãi …; khi nào biết được phấn chấn …; khi nào biết được dâm ý …; khi nào biết được tinh cần quá độ …; khi nào biết được sự tinh cần quá yếu đuối …; khi nào biết được dục ái …; khi nào biết được tưởng sai biệt …; khi nào biết được trạng thái quá chú tâm đến các sắc pháp là một phiền não của tâm, thời trạng thái quá chú tâm đến các sắc pháp phiền não của tâm được đoạn trừ. Rồi này các Anuruddha, Ta suy nghĩ như sau: “Những phiền não tâm của Ta đã được đoạn trừ. Nay Ta tu tập ba loại định”.
SC 64Rồi này các Anuruddha, Ta tu tập định có tầm, có tứ; Ta tu tập định không có tầm, chỉ có tứ; Ta tu tập định không tầm, không tứ; Ta tu tập định có hỷ; Ta tu tập định không có hỷ; Ta tu tập định câu hữu với lạc; Ta tu tập định câu hữu với xả.
SC 65Này các Anuruddha, khi nào Ta tu tập định có tầm, có tứ; khi nào Ta tu tập định không tầm, chỉ có tứ; khi nào Ta tu tập định không có tầm, không có tứ; khi nào Ta tu tập định có hỷ; khi nào Ta tu tập định không có hỷ; khi nào Ta tu tập định câu hữu với xả, thời tri kiến khởi lên nơi Ta: “Giải thoát của Ta là bất động, đây là đời sống cuối cùng của Ta, nay không còn hiện hữu”.
SC 66Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Tôn giả Anuruddha hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy.
Evaṁ me sutaṁ—
ekaṁ samayaṁ bhagavā kosambiyaṁ viharati ghositārāme.
Tena kho pana samayena kosambiyaṁ bhikkhū bhaṇḍanajātā kalahajātā vivādāpannā aññamaññaṁ mukhasattīhi vitudantā viharanti.
Atha kho aññataro bhikkhu yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ aṭṭhāsi. Ekamantaṁ ṭhito kho so bhikkhu bhagavantaṁ etadavoca:
“idha, bhante, kosambiyaṁ bhikkhū bhaṇḍanajātā kalahajātā vivādāpannā aññamaññaṁ mukhasattīhi vitudantā viharanti.
Sādhu, bhante, bhagavā yena te bhikkhū tenupasaṅkamatu anukampaṁ upādāyā”ti.
Adhivāsesi bhagavā tuṇhībhāvena.
Atha kho bhagavā yena te bhikkhū tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā te bhikkhū etadavoca:
“alaṁ, bhikkhave, mā bhaṇḍanaṁ, mā kalahaṁ, mā viggahaṁ, mā vivādan”ti.
Evaṁ vutte, aññataro bhikkhu bhagavantaṁ etadavoca:
“āgametu, bhante.
Bhagavā dhammassāmī;
appossukko, bhante, bhagavā diṭṭhadhammasukhavihāraṁ anuyutto viharatu;
mayametena bhaṇḍanena kalahena viggahena vivādena paññāyissāmā”ti.
Dutiyampi kho bhagavā te bhikkhū etadavoca:
“alaṁ, bhikkhave, mā bhaṇḍanaṁ, mā kalahaṁ, mā viggahaṁ, mā vivādan”ti.
Dutiyampi kho so bhikkhu bhagavantaṁ etadavoca:
“āgametu, bhante.
Bhagavā dhammassāmī;
appossukko, bhante, bhagavā diṭṭhadhammasukhavihāraṁ anuyutto viharatu;
mayametena bhaṇḍanena kalahena viggahena vivādena paññāyissāmā”ti.
Tatiyampi kho bhagavā te bhikkhū etadavoca:
“alaṁ, bhikkhave, mā bhaṇḍanaṁ, mā kalahaṁ, mā viggahaṁ, mā vivādan”ti.
Tatiyampi kho so bhikkhu bhagavantaṁ etadavoca:
“āgametu, bhante.
Bhagavā dhammassāmī;
appossukko, bhante, bhagavā diṭṭhadhammasukhavihāraṁ anuyutto viharatu;
mayametena bhaṇḍanena kalahena viggahena vivādena paññāyissāmā”ti.
Atha kho bhagavā pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya kosambiṁ piṇḍāya pāvisi.
Kosambiyaṁ piṇḍāya caritvā pacchābhattaṁ piṇḍapātapaṭikkanto senāsanaṁ saṁsāmetvā pattacīvaramādāya ṭhitakova imā gāthā abhāsi:
“Puthusaddo samajano,
na bālo koci maññatha;
Saṅghasmiṁ bhijjamānasmiṁ,
nāññaṁ bhiyyo amaññaruṁ.
Parimuṭṭhā paṇḍitābhāsā,
vācāgocarabhāṇino;
Yāvicchanti mukhāyāmaṁ,
yena nītā na taṁ vidū.
Akkocchi maṁ avadhi maṁ,
ajini maṁ ahāsi me;
Ye ca taṁ upanayhanti,
veraṁ tesaṁ na sammati.
Akkocchi maṁ avadhi maṁ,
ajini maṁ ahāsi me;
Ye ca taṁ nupanayhanti,
veraṁ tesūpasammati.
Na hi verena verāni,
sammantīdha kudācanaṁ;
Averena ca sammanti,
esa dhammo sanantano.
Pare ca na vijānanti,
mayamettha yamāmase;
Ye ca tattha vijānanti,
tato sammanti medhagā.
Aṭṭhicchinnā pāṇaharā,
gavassadhanahārino;
Raṭṭhaṁ vilumpamānānaṁ,
tesampi hoti saṅgati;
Kasmā tumhākaṁ no siyā.
Sace labhetha nipakaṁ sahāyaṁ,
Saddhiṁ caraṁ sādhuvihāri dhīraṁ;
Abhibhuyya sabbāni parissayāni,
Careyya tenattamano satīmā.
No ce labhetha nipakaṁ sahāyaṁ,
Saddhiṁ caraṁ sādhuvihāri dhīraṁ;
Rājāva raṭṭhaṁ vijitaṁ pahāya,
Eko care mātaṅgaraññeva nāgo.
Ekassa caritaṁ seyyo,
Natthi bāle sahāyatā;
Eko care na ca pāpāni kayirā,
Appossukko mātaṅgaraññeva nāgo”ti.
Atha kho bhagavā ṭhitakova imā gāthā bhāsitvā yena bālakaloṇakāragāmo tenupasaṅkami.
Tena kho pana samayena āyasmā bhagu bālakaloṇakāragāme viharati.
Addasā kho āyasmā bhagu bhagavantaṁ dūratova āgacchantaṁ.
Disvāna āsanaṁ paññapesi udakañca pādānaṁ dhovanaṁ.
Nisīdi bhagavā paññatte āsane.
Nisajja pāde pakkhālesi.
Āyasmāpi kho bhagu bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi.
Ekamantaṁ nisinnaṁ kho āyasmantaṁ bhaguṁ bhagavā etadavoca:
“kacci, bhikkhu, khamanīyaṁ, kacci yāpanīyaṁ, kacci piṇḍakena na kilamasī”ti?
“Khamanīyaṁ bhagavā, yāpanīyaṁ bhagavā, na cāhaṁ, bhante, piṇḍakena kilamāmī”ti.
Atha kho bhagavā āyasmantaṁ bhaguṁ dhammiyā kathāya sandassetvā samādapetvā samuttejetvā sampahaṁsetvā uṭṭhāyāsanā yena pācīnavaṁsadāyo tenupasaṅkami.
Tena kho pana samayena āyasmā ca anuruddho āyasmā ca nandiyo āyasmā ca kimilo pācīnavaṁsadāye viharanti.
Addasā kho dāyapālo bhagavantaṁ dūratova āgacchantaṁ.
Disvāna bhagavantaṁ etadavoca:
“mā, mahāsamaṇa, etaṁ dāyaṁ pāvisi.
Santettha tayo kulaputtā attakāmarūpā viharanti.
Mā tesaṁ aphāsumakāsī”ti.
Assosi kho āyasmā anuruddho dāyapālassa bhagavatā saddhiṁ mantayamānassa.
Sutvāna dāyapālaṁ etadavoca:
“mā, āvuso dāyapāla, bhagavantaṁ vāresi.
Satthā no bhagavā anuppatto”ti.
Atha kho āyasmā anuruddho yenāyasmā ca nandiyo yenāyasmā ca kimilo tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmantañca nandiyaṁ āyasmantañca kimilaṁ etadavoca:
“abhikkamathāyasmanto, abhikkamathāyasmanto, satthā no bhagavā anuppatto”ti.
Atha kho āyasmā ca anuruddho āyasmā ca nandiyo āyasmā ca kimilo bhagavantaṁ paccuggantvā
eko bhagavato pattacīvaraṁ paṭiggahesi, eko āsanaṁ paññapesi, eko pādodakaṁ upaṭṭhapesi.
Nisīdi bhagavā paññatte āsane.
Nisajja pāde pakkhālesi.
Tepi kho āyasmanto bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu.
Ekamantaṁ nisinnaṁ kho āyasmantaṁ anuruddhaṁ bhagavā etadavoca:
“kacci vo, anuruddhā, khamanīyaṁ, kacci yāpanīyaṁ, kacci piṇḍakena na kilamathā”ti?
“Khamanīyaṁ bhagavā, yāpanīyaṁ bhagavā, na ca mayaṁ, bhante, piṇḍakena kilamāmā”ti.
“Kacci pana vo, anuruddhā, samaggā sammodamānā avivadamānā khīrodakībhūtā aññamaññaṁ piyacakkhūhi sampassantā viharathā”ti?
“Taggha mayaṁ, bhante, samaggā sammodamānā avivadamānā khīrodakībhūtā aññamaññaṁ piyacakkhūhi sampassantā viharāmā”ti.
“Yathā kathaṁ pana tumhe, anuruddhā, samaggā sammodamānā avivadamānā khīrodakībhūtā aññamaññaṁ piyacakkhūhi sampassantā viharathā”ti?
“Idha mayhaṁ, bhante, evaṁ hoti:
‘lābhā vata me, suladdhaṁ vata me
yohaṁ evarūpehi sabrahmacārīhi saddhiṁ viharāmī’ti.
Tassa mayhaṁ, bhante, imesu āyasmantesu mettaṁ kāyakammaṁ paccupaṭṭhitaṁ āvi ceva raho ca,
mettaṁ vacīkammaṁ paccupaṭṭhitaṁ āvi ceva raho ca,
mettaṁ manokammaṁ paccupaṭṭhitaṁ āvi ceva raho ca.
Tassa, mayhaṁ, bhante, evaṁ hoti:
‘yannūnāhaṁ sakaṁ cittaṁ nikkhipitvā imesaṁyeva āyasmantānaṁ cittassa vasena vatteyyan’ti.
So kho ahaṁ, bhante, sakaṁ cittaṁ nikkhipitvā imesaṁyeva āyasmantānaṁ cittassa vasena vattāmi.
Nānā hi kho no, bhante, kāyā, ekañca pana maññe cittan”ti.
Āyasmāpi kho nandiyo …pe…
āyasmāpi kho kimilo bhagavantaṁ etadavoca:
“mayhampi kho, bhante, evaṁ hoti:
‘lābhā vata me, suladdhaṁ vata me
yohaṁ evarūpehi sabrahmacārīhi saddhiṁ viharāmī’ti.
Tassa mayhaṁ, bhante, imesu āyasmantesu mettaṁ kāyakammaṁ paccupaṭṭhitaṁ āvi ceva raho ca,
mettaṁ vacīkammaṁ paccupaṭṭhitaṁ āvi ceva raho ca,
mettaṁ manokammaṁ paccupaṭṭhitaṁ āvi ceva raho ca.
Tassa mayhaṁ, bhante, evaṁ hoti:
‘yannūnāhaṁ sakaṁ cittaṁ nikkhipitvā imesaṁyeva āyasmantānaṁ cittassa vasena vatteyyan’ti.
So kho ahaṁ, bhante, sakaṁ cittaṁ nikkhipitvā imesaṁyeva āyasmantānaṁ cittassa vasena vattāmi.
Nānā hi kho no, bhante, kāyā, ekañca pana maññe cittanti.
Evaṁ kho mayaṁ, bhante, samaggā sammodamānā avivadamānā khīrodakībhūtā aññamaññaṁ piyacakkhūhi sampassantā viharāmā”ti.
“Sādhu sādhu, anuruddhā.
Kacci pana vo, anuruddhā, appamattā ātāpino pahitattā viharathā”ti?
“Taggha mayaṁ, bhante, appamattā ātāpino pahitattā viharāmā”ti.
“Yathā kathaṁ pana tumhe, anuruddhā, appamattā ātāpino pahitattā viharathā”ti?
“Idha, bhante, amhākaṁ yo paṭhamaṁ gāmato piṇḍāya paṭikkamati, so āsanāni paññapeti, pānīyaṁ paribhojanīyaṁ upaṭṭhāpeti, avakkārapātiṁ upaṭṭhāpeti.
Yo pacchā gāmato piṇḍāya paṭikkamati—sace hoti bhuttāvaseso, sace ākaṅkhati, bhuñjati; no ce ākaṅkhati, appaharite vā chaḍḍeti apāṇake vā udake opilāpeti—
so āsanāni paṭisāmeti, pānīyaṁ paribhojanīyaṁ paṭisāmeti, avakkārapātiṁ dhovitvā paṭisāmeti, bhattaggaṁ sammajjati.
Yo passati pānīyaghaṭaṁ vā paribhojanīyaghaṭaṁ vā vaccaghaṭaṁ vā rittaṁ tucchaṁ so upaṭṭhāpeti.
Sacassa hoti avisayhaṁ, hatthavikārena dutiyaṁ āmantetvā hatthavilaṅghakena upaṭṭhāpema, na tveva mayaṁ, bhante, tappaccayā vācaṁ bhindāma.
Pañcāhikaṁ kho pana mayaṁ, bhante, sabbarattiṁ dhammiyā kathāya sannisīdāma.
Evaṁ kho mayaṁ, bhante, appamattā ātāpino pahitattā viharāmā”ti.
“Sādhu sādhu, anuruddhā.
Atthi pana vo, anuruddhā, evaṁ appamattānaṁ ātāpīnaṁ pahitattānaṁ viharataṁ uttari manussadhammā alamariyañāṇadassanaviseso adhigato phāsuvihāro”ti?
“Idha mayaṁ, bhante, appamattā ātāpino pahitattā viharantā obhāsañceva sañjānāma dassanañca rūpānaṁ.
So kho pana no obhāso nacirasseva antaradhāyati dassanañca rūpānaṁ;
tañca nimittaṁ nappaṭivijjhāmā”ti.
“Taṁ kho pana vo, anuruddhā, nimittaṁ paṭivijjhitabbaṁ.
Ahampi sudaṁ, anuruddhā, pubbeva sambodhā anabhisambuddho bodhisattova samāno obhāsañceva sañjānāmi dassanañca rūpānaṁ.
So kho pana me obhāso nacirasseva antaradhāyati dassanañca rūpānaṁ.
Tassa mayhaṁ, anuruddhā, etadahosi:
‘ko nu kho hetu ko paccayo yena me obhāso antaradhāyati dassanañca rūpānan’ti?
Tassa mayhaṁ, anuruddhā, etadahosi:
‘vicikicchā kho me udapādi, vicikicchādhikaraṇañca pana me samādhi cavi.
Samādhimhi cute obhāso antaradhāyati dassanañca rūpānaṁ.
Sohaṁ tathā karissāmi yathā me puna na vicikicchā uppajjissatī’ti.
So kho ahaṁ, anuruddhā, appamatto ātāpī pahitatto viharanto obhāsañceva sañjānāmi dassanañca rūpānaṁ.
So kho pana me obhāso nacirasseva antaradhāyati dassanañca rūpānaṁ.
Tassa mayhaṁ, anuruddhā, etadahosi:
‘ko nu kho hetu ko paccayo yena me obhāso antaradhāyati dassanañca rūpānan’ti?
Tassa mayhaṁ, anuruddhā, etadahosi:
‘amanasikāro kho me udapādi, amanasikārādhikaraṇañca pana me samādhi cavi.
Samādhimhi cute obhāso antaradhāyati dassanañca rūpānaṁ.
Sohaṁ tathā karissāmi yathā me puna na vicikicchā uppajjissati, na amanasikāro’ti.
So kho ahaṁ, anuruddhā …pe…
tassa mayhaṁ, anuruddhā, etadahosi:
‘thinamiddhaṁ kho me udapādi, thinamiddhādhikaraṇañca pana me samādhi cavi.
Samādhimhi cute obhāso antaradhāyati dassanañca rūpānaṁ.
Sohaṁ tathā karissāmi yathā me puna na vicikicchā uppajjissati, na amanasikāro, na thinamiddhan’ti.
So kho ahaṁ, anuruddhā …pe…
tassa mayhaṁ, anuruddhā, etadahosi:
‘chambhitattaṁ kho me udapādi, chambhitattādhikaraṇañca pana me samādhi cavi.
Samādhimhi cute obhāso antaradhāyati dassanañca rūpānaṁ.
Seyyathāpi, anuruddhā, puriso addhānamaggappaṭipanno, tassa ubhatopasse vaṭṭakā uppateyyuṁ, tassa tatonidānaṁ chambhitattaṁ uppajjeyya;
evameva kho me, anuruddhā, chambhitattaṁ udapādi, chambhitattādhikaraṇañca pana me samādhi cavi.
Samādhimhi cute obhāso antaradhāyati dassanañca rūpānaṁ.
Sohaṁ tathā karissāmi yathā me puna na vicikicchā uppajjissati, na amanasikāro, na thinamiddhaṁ, na chambhitattan’ti.
So kho ahaṁ, anuruddhā …pe…
tassa mayhaṁ, anuruddhā, etadahosi:
‘uppilaṁ kho me udapādi, uppilādhikaraṇañca pana me samādhi cavi.
Samādhimhi cute obhāso antaradhāyati dassanañca rūpānaṁ.
Seyyathāpi, anuruddhā, puriso ekaṁ nidhimukhaṁ gavesanto sakideva pañcanidhimukhāni adhigaccheyya, tassa tatonidānaṁ uppilaṁ uppajjeyya;
evameva kho me, anuruddhā, uppilaṁ udapādi, uppilādhikaraṇañca pana me samādhi cavi.
Samādhimhi cute obhāso antaradhāyati dassanañca rūpānaṁ.
Sohaṁ tathā karissāmi yathā me puna na vicikicchā uppajjissati, na amanasikāro, na thinamiddhaṁ, na chambhitattaṁ, na uppilan’ti.
So kho ahaṁ, anuruddhā …pe…
tassa mayhaṁ, anuruddhā, etadahosi:
‘duṭṭhullaṁ kho me udapādi, duṭṭhullādhikaraṇañca pana me samādhi cavi.
Samādhimhi cute obhāso antaradhāyati dassanañca rūpānaṁ.
Sohaṁ tathā karissāmi yathā me puna na vicikicchā uppajjissati, na amanasikāro, na thinamiddhaṁ, na chambhitattaṁ, na uppilaṁ, na duṭṭhullan’ti.
So kho ahaṁ, anuruddhā …pe…
tassa mayhaṁ, anuruddhā, etadahosi:
‘accāraddhavīriyaṁ kho me udapādi, accāraddhavīriyādhikaraṇañca pana me samādhi cavi.
Samādhimhi cute obhāso antaradhāyati dassanañca rūpānaṁ.
Seyyathāpi, anuruddhā, puriso ubhohi hatthehi vaṭṭakaṁ gāḷhaṁ gaṇheyya, so tattheva patameyya;
evameva kho me, anuruddhā, accāraddhavīriyaṁ udapādi, accāraddhavīriyādhikaraṇañca pana me samādhi cavi.
Samādhimhi cute obhāso antaradhāyati dassanañca rūpānaṁ.
Sohaṁ tathā karissāmi yathā me puna na vicikicchā uppajjissati, na amanasikāro, na thinamiddhaṁ, na chambhitattaṁ, na uppilaṁ, na duṭṭhullaṁ, na accāraddhavīriyan’ti.
So kho ahaṁ, anuruddhā …pe…
tassa mayhaṁ, anuruddhā, etadahosi:
‘atilīnavīriyaṁ kho me udapādi, atilīnavīriyādhikaraṇañca pana me samādhi cavi.
Samādhimhi cute obhāso antaradhāyati dassanañca rūpānaṁ.
Seyyathāpi, anuruddhā, puriso vaṭṭakaṁ sithilaṁ gaṇheyya, so tassa hatthato uppateyya;
evameva kho me, anuruddhā, atilīnavīriyaṁ udapādi, atilīnavīriyādhikaraṇañca pana me samādhi cavi.
Samādhimhi cute obhāso antaradhāyati dassanañca rūpānaṁ.
Sohaṁ tathā karissāmi yathā me puna na vicikicchā uppajjissati, na amanasikāro, na thinamiddhaṁ, na chambhitattaṁ, na uppilaṁ, na duṭṭhullaṁ, na accāraddhavīriyaṁ, na atilīnavīriyan’ti.
So kho ahaṁ, anuruddhā …pe…
tassa mayhaṁ, anuruddhā, etadahosi:
‘abhijappā kho me udapādi, abhijappādhikaraṇañca pana me samādhi cavi.
Samādhimhi cute obhāso antaradhāyati dassanañca rūpānaṁ.
Sohaṁ tathā karissāmi yathā me puna na vicikicchā uppajjissati, na amanasikāro, na thinamiddhaṁ, na chambhitattaṁ, na uppilaṁ, na duṭṭhullaṁ, na accāraddhavīriyaṁ, na atilīnavīriyaṁ, na abhijappā’ti.
So kho ahaṁ, anuruddhā …pe…
tassa mayhaṁ, anuruddhā, etadahosi:
‘nānattasaññā kho me udapādi, nānattasaññādhikaraṇañca pana me samādhi cavi.
Samādhimhi cute obhāso antaradhāyati dassanañca rūpānaṁ.
Sohaṁ tathā karissāmi yathā me puna na vicikicchā uppajjissati, na amanasikāro, na thinamiddhaṁ, na chambhitattaṁ, na uppilaṁ, na duṭṭhullaṁ, na accāraddhavīriyaṁ, na atilīnavīriyaṁ, na abhijappā, na nānattasaññā’ti.
So kho ahaṁ, anuruddhā, appamatto ātāpī pahitatto viharanto obhāsañceva sañjānāmi dassanañca rūpānaṁ.
So kho pana me obhāso nacirasseva antaradhāyati dassanañca rūpānaṁ.
Tassa mayhaṁ anuruddhā etadahosi:
‘ko nu kho hetu ko paccayo yena me obhāso antaradhāyati dassanañca rūpānan’ti.
Tassa mayhaṁ, anuruddhā, etadahosi:
‘atinijjhāyitattaṁ kho me rūpānaṁ udapādi, atinijjhāyitattādhikaraṇañca pana me rūpānaṁ samādhi cavi.
Samādhimhi cute obhāso antaradhāyati dassanañca rūpānaṁ.
Sohaṁ tathā karissāmi yathā me puna na vicikicchā uppajjissati, na amanasikāro, na thinamiddhaṁ, na chambhitattaṁ, na uppilaṁ, na duṭṭhullaṁ, na accāraddhavīriyaṁ, na atilīnavīriyaṁ, na abhijappā, na nānattasaññā, na atinijjhāyitattaṁ rūpānan’ti.
So kho ahaṁ, anuruddhā, ‘vicikicchā cittassa upakkileso’ti—iti viditvā vicikicchaṁ cittassa upakkilesaṁ pajahiṁ,
‘amanasikāro cittassa upakkileso’ti—iti viditvā amanasikāraṁ cittassa upakkilesaṁ pajahiṁ,
‘thinamiddhaṁ cittassa upakkileso’ti—iti viditvā thinamiddhaṁ cittassa upakkilesaṁ pajahiṁ,
‘chambhitattaṁ cittassa upakkileso’ti—iti viditvā chambhitattaṁ cittassa upakkilesaṁ pajahiṁ,
‘uppilaṁ cittassa upakkileso’ti—iti viditvā uppilaṁ cittassa upakkilesaṁ pajahiṁ,
‘duṭṭhullaṁ cittassa upakkileso’ti—iti viditvā duṭṭhullaṁ cittassa upakkilesaṁ pajahiṁ,
‘accāraddhavīriyaṁ cittassa upakkileso’ti—iti viditvā accāraddhavīriyaṁ cittassa upakkilesaṁ pajahiṁ,
‘atilīnavīriyaṁ cittassa upakkileso’ti—iti viditvā atilīnavīriyaṁ cittassa upakkilesaṁ pajahiṁ,
‘abhijappā cittassa upakkileso’ti—iti viditvā abhijappaṁ cittassa upakkilesaṁ pajahiṁ,
‘nānattasaññā cittassa upakkileso’ti—iti viditvā nānattasaññaṁ cittassa upakkilesaṁ pajahiṁ,
‘atinijjhāyitattaṁ rūpānaṁ cittassa upakkileso’ti—iti viditvā atinijjhāyitattaṁ rūpānaṁ cittassa upakkilesaṁ pajahiṁ.
So kho ahaṁ, anuruddhā, appamatto ātāpī pahitatto viharanto obhāsañhi kho sañjānāmi, na ca rūpāni passāmi;
rūpāni hi kho passāmi, na ca obhāsaṁ sañjānāmi:
‘kevalampi rattiṁ, kevalampi divaṁ, kevalampi rattindivaṁ’.
Tassa mayhaṁ, anuruddhā, etadahosi:
‘ko nu kho hetu ko paccayo yvāhaṁ obhāsañhi kho sañjānāmi na ca rūpāni passāmi;
rūpāni hi kho passāmi na ca obhāsaṁ sañjānāmi—
kevalampi rattiṁ, kevalampi divaṁ, kevalampi rattindivan’ti.
Tassa mayhaṁ, anuruddhā, etadahosi:
‘yasmiñhi kho ahaṁ samaye rūpanimittaṁ amanasikaritvā obhāsanimittaṁ manasi karomi, obhāsañhi kho tasmiṁ samaye sañjānāmi, na ca rūpāni passāmi.
Yasmiṁ panāhaṁ samaye obhāsanimittaṁ amanasikaritvā rūpanimittaṁ manasi karomi, rūpāni hi kho tasmiṁ samaye passāmi na ca obhāsaṁ sañjānāmi—
kevalampi rattiṁ, kevalampi divaṁ, kevalampi rattindivan’ti.
So kho ahaṁ, anuruddhā, appamatto ātāpī pahitatto viharanto parittañceva obhāsaṁ sañjānāmi, parittāni ca rūpāni passāmi;
appamāṇañceva obhāsaṁ sañjānāmi, appamāṇāni ca rūpāni passāmi:
‘kevalampi rattiṁ, kevalampi divaṁ, kevalampi rattindivaṁ’.
Tassa mayhaṁ, anuruddhā, etadahosi:
‘ko nu kho hetu ko paccayo yvāhaṁ parittañceva obhāsaṁ sañjānāmi, parittāni ca rūpāni passāmi;
appamāṇañceva obhāsaṁ sañjānāmi, appamāṇāni ca rūpāni passāmi—
kevalampi rattiṁ, kevalampi divaṁ, kevalampi rattindivan’ti.
Tassa mayhaṁ, anuruddhā, etadahosi:
‘yasmiṁ kho me samaye paritto samādhi hoti, parittaṁ me tasmiṁ samaye cakkhu hoti.
Sohaṁ parittena cakkhunā parittañceva obhāsaṁ sañjānāmi, parittāni ca rūpāni passāmi.
Yasmiṁ pana me samaye appamāṇo samādhi hoti, appamāṇaṁ me tasmiṁ samaye cakkhu hoti.
Sohaṁ appamāṇena cakkhunā appamāṇañceva obhāsaṁ sañjānāmi, appamāṇāni ca rūpāni passāmi—
kevalampi rattiṁ, kevalampi divaṁ, kevalampi rattindivan’ti.
Yato kho me, anuruddhā, ‘vicikicchā cittassa upakkileso’ti—iti viditvā vicikicchā cittassa upakkileso pahīno ahosi,
‘amanasikāro cittassa upakkileso’ti—iti viditvā amanasikāro cittassa upakkileso pahīno ahosi,
‘thinamiddhaṁ cittassa upakkileso’ti—iti viditvā thinamiddhaṁ cittassa upakkileso pahīno ahosi,
‘chambhitattaṁ cittassa upakkileso’ti—iti viditvā chambhitattaṁ cittassa upakkileso pahīno ahosi,
‘uppilaṁ cittassa upakkileso’ti—iti viditvā uppilaṁ cittassa upakkileso pahīno ahosi,
‘duṭṭhullaṁ cittassa upakkileso’ti—iti viditvā duṭṭhullaṁ cittassa upakkileso pahīno ahosi,
‘accāraddhavīriyaṁ cittassa upakkileso’ti—iti viditvā accāraddhavīriyaṁ cittassa upakkileso pahīno ahosi,
‘atilīnavīriyaṁ cittassa upakkileso’ti—iti viditvā atilīnavīriyaṁ cittassa upakkileso pahīno ahosi,
‘abhijappā cittassa upakkileso’ti—iti viditvā abhijappā cittassa upakkileso pahīno ahosi,
‘nānattasaññā cittassa upakkileso’ti—iti viditvā nānattasaññā cittassa upakkileso pahīno ahosi,
‘atinijjhāyitattaṁ rūpānaṁ cittassa upakkileso’ti—iti viditvā atinijjhāyitattaṁ rūpānaṁ cittassa upakkileso pahīno ahosi.
Tassa mayhaṁ, anuruddhā, etadahosi:
‘ye kho me cittassa upakkilesā te me pahīnā.
Handa dānāhaṁ tividhena samādhiṁ bhāvemī’ti.
So kho ahaṁ, anuruddhā, savitakkampi savicāraṁ samādhiṁ bhāvesiṁ, avitakkampi vicāramattaṁ samādhiṁ bhāvesiṁ, avitakkampi avicāraṁ samādhiṁ bhāvesiṁ, sappītikampi samādhiṁ bhāvesiṁ, nippītikampi samādhiṁ bhāvesiṁ, sātasahagatampi samādhiṁ bhāvesiṁ, upekkhāsahagatampi samādhiṁ bhāvesiṁ.
Yato kho me, anuruddhā, savitakkopi savicāro samādhi bhāvito ahosi, avitakkopi vicāramatto samādhi bhāvito ahosi, avitakkopi avicāro samādhi bhāvito ahosi, sappītikopi samādhi bhāvito ahosi, nippītikopi samādhi bhāvito ahosi, sātasahagatopi samādhi bhāvito ahosi, upekkhāsahagatopi samādhi bhāvito ahosi.
Ñāṇañca pana me dassanaṁ udapādi,
akuppā me cetovimutti. Ayamantimā jāti, natthi dāni punabbhavo”ti.
Idamavoca bhagavā.
Attamano āyasmā anuruddho bhagavato bhāsitaṁ abhinandīti.
Upakkilesasuttaṁ niṭṭhitaṁ aṭṭhamaṁ.
Nya 1Thus I heard:
On one occasion the Blessed One was living at Kosambi in Ghosita’s Park.
Nya 2Now on that occasion, Kosambi bhikkhus had taken to quarrelling and brawling, and were deep in disputes, stabbing each other with verbal daggers.
Nya 3Then a certain bhikkhu went to the Blessed One, and after paying homage to him, he stood at one side, and he said: “Venerable sir, bhikkhus here at Kosambi have taken to quarrelling and brawling, and are deep in disputes, stabbing each other with verbal daggers. Venerable sir, it would be good if the Blessed One went to those bhikkhus out of compassion.”
The Blessed One consented in silence.
Nya 4Then the Blessed One went to those bhikkhus and said to them: “Enough, bhikkhus, no quarrelling, no brawling, no wrangling, no disputing.”
Nya 5When this was said, a certain bhikkhu said to the Blessed One: “Venerable sir, let the Blessed One, Lord of the Dhamma, wait; venerable sir, let the Blessed One abide inactive and devoted to pleasant abiding here and now. It is we who shall be known for this quarrelling, brawling, wrangling and disputing.”
For the second time…
For the third time the Blessed One said to them: “Enough, bhikkhus, no quarrelling, no brawling, no wrangling, no disputing.”
For the third time that bhikkhu said to the Blessed One: “Venerable sir, let the Blessed One, Lord of the Dhamma, wait; venerable sir, let the Blessed One abide inactive and devoted to pleasant abiding here and now. It is we who shall be known for this quarrelling, brawling, wrangling and disputing.”
Nya 6Now it being morning, the Blessed One dressed, and taking his bowl and outer robe, he went into Kosambi for alms. When he had wandered for alms and had returned from his alms-round after his meal, he set his resting place in order, and taking his bowl and outer robe, he uttered these stanzas while standing:
Nya 7“When many voices shout at once
There is none thinks himself a fool;
The Sangha being split none thinks
‘I too took part, I helped in this’.
They have forgot wise speech, they talk
With minds obsessed by words alone;
Uncurbed their mouths, they bawl at will;
None knows what leads him so to do.
‘This he abused me, he that beat me,
He that worsted me, that robbed me!’
Hate never is allayed in men
Who cherish suchlike enmity.
‘This he abused me, he that beat me,
He that worsted me, that robbed me!’
Hate surely is allayed in men
Who cherish no such enmity
For enmity by enmity
Is never in this world allayed.
It is allayed by amity—
That is an ancient law.
Those others do not recognize
That here we should restrain ourselves;
Still there are some who are aware
And so their quarrels are appeased.
Breakers of bones and murderers,
Stealers of cattle, horses, wealth
While bent on pillaging the realm,
Even these can act in concord;
So why can you not do so too?
If you can find a trustworthy companion
With whom to walk, both virtuous and steadfast,
Then walk with him content and mindfully,
And overcoming any threat of danger.
If you can find no trustworthy companion
With whom to walk, both virtuous and steadfast,
Then, as a king who leaves a vanquished kingdom,
Walk like a tusker in the woods alone.
Better it is to walk alone,
There is no fellowship with fools.
Walk alone, harm none, and know no conflict;
Be like a tusker in the woods alone.”
Nya 8Then having uttered these stanzas standing, the Blessed One went to Bālakaloṇakāra-gāma. The venerable Bhagu was living there on that occasion. When he saw the Blessed One coming in the distance, he prepared a seat and water for the feet. The Blessed One sat down on the seat prepared, and having done so, he washed his feet. The venerable Bhagu paid homage and sat down at one side. When he had done so, the Blessed One said to him: “I hope that you are keeping well, bhikkhu, that you are comfortable and that you have no trouble on account of alms-food?”
“I am keeping well, Blessed One, I am comfortable and have no trouble on account of alms-food.”
Then the Blessed One instructed, urged, roused and encouraged the venerable Bhagu with talk on the Dhamma, after which he got up from his seat and left for the Eastern Bamboo Park.
Nya 9Now on that occasion the venerable Anuruddha, the venerable Nandiya and the venerable Kimbila were living there. The park-keeper saw the Blessed One coming. He told him: “Do not come to this park, monk. There are three clansmen here seeking their own good. Do not disturb them.”
Nya 10The venerable Anuruddha heard the park-keeper speaking to the Blessed One. He told him: “Friend park-keeper, do not keep the Blessed One out. It is our own Master, the Blessed One, who has come.”
The venerable Anuruddha went to the venerable Nandiya and the venerable Kimbila and said: “Come out, venerable sirs, come out! Our Master has come.”
Nya 11Then all three went to meet the Blessed One: one took his bowl and outer robe, one prepared a seat, and one placed water for washing the feet. The Blessed One sat down on the seat prepared, and having done so, he washed his feet. Then they paid homage to him and sat down at one side. When they had done so, the Blessed One said to them: “I hope that you are all keeping well, Anuruddha, that you are comfortable, and that you have no trouble on account of alms-food.”
“We are all keeping well, Blessed One. We are comfortable and have no trouble on account of alms-food.”
Nya 12“I hope that you all live in concord and agreement, Anuruddha, as undisputing as milk with water, viewing each other with kindly eyes?”
“Surely we do so, venerable sir.”
Nya 13“But, Anuruddha, how do you live thus?”
“Venerable sir, as to that, I think thus: ‘It is gain for me, it is great gain for me here that I am living with such companions in the life divine.’ I maintain bodily, verbal and mental acts of loving-kindness towards these venerable ones both in public and in private. I think: ‘Why should I not set aside what I am minded to do and do only what they are minded to do?’ And I act accordingly. We are different in body, venerable sir, but only one in mind, I think.”
The venerable Nandiya and the venerable Kimbila each spoke likewise. They added: “That is how we live in concord, venerable sir, as friendly and undisputing as milk with water, viewing each other with kindly eyes.”
Nya 14“Good, good, Anuruddha. I hope you all dwell diligent, ardent and self-controlled?”
“Surely we do so, venerable sir.”
Nya 15“But, Anuruddha, how do you dwell thus?”
“Venerable sir, as to that, whichever of us returns first from the village with alms-food prepares the seats, sets outs the water for drinking and for washing and puts the refuse bucket in its place. Whichever of us returns last eats any food left over, if he wishes; otherwise he throws it away where there is no greenery or drops it into water where there is no life. He puts away the seats and the water for drinking and for washing. He puts away the refuse bucket after washing it, and he sweeps out the refectory. Whoever notices that the pots of drinking water or washing water or water for the privy are low or empty sees to them. If they are too heavy for him, he calls someone else by a sign of the hand and they move it by joining hands. We do not speak for that purpose. But every five days we sit out the night together with talk on the Dhamma. That is how we dwell diligent, ardent and self-controlled.”
Nya 16“Good, good, Anuruddha; but while dwelling diligent, ardent and self-controlled in this way, have you attained as a comfortable abiding any distinction worthy of a Noble One’s knowledge and vision higher than the human dhamma?”
“As to that, venerable sir, as we dwell here diligent, ardent and self-controlled, we perceive both illumination and the vision of forms but that illumination of ours soon disappears and so does the vision of forms and we have not penetrated the sign, the reason for what.”
Nya 17“Still, Anuruddha, the sign for that can be penetrated by you. I too, before my enlightenment, while I was still an unenlightened Bodhisatta, perceived both illumination and the vision of forms. But that illumination of mine and the vision of forms soon disappeared. I thought thus: ‘What is the reason, what is the condition, why this illumination of mine and the vision of forms disappears?’ I thought thus: ‘Uncertainty arose in me, and owing to the uncertainty my concentration died away; when concentration died away, the illumination disappeared and so did the vision of forms. I shall so act that uncertainty does not arise in me again.’
Nya 18“As I dwelt diligent, ardent and self-controlled I perceived both illumination and vision of forms. But that illumination of mine and the vision of forms disappeared.
“I thought thus: ‘What is the reason, what is the condition, why this illumination of mine and the vision of forms disappears?’ I thought thus: ‘Inattention arose in me, and owing to the inattention my concentration died away; when concentration died away, the illumination disappeared and so did the vision of forms. I shall so act that neither uncertainty arises in me again nor inattention.’
Nya 19“As I dwelt diligent… vision of forms disappeared.
“I thought thus: ‘What is the reason… disappears?’ I thought thus: ‘Lethargy and drowsiness arose in me, and owing to the lethargy and drowsiness my concentration died away; when concentration died away, the illumination disappeared and so did the vision of forms. I shall so act that neither uncertainty nor inattention nor lethargy and drowsiness arise in me again.’
Nya 20“As I dwelt diligent… vision of forms disappeared.
“I thought thus: ‘What is the reason… disappears?’ I thought thus: ‘Alarm arose in me, and owing to the alarm my concentration died away; when concentration died away, the illumination disappeared and so did the vision of forms.’ Suppose, Anuruddha, a man set out on a journey and murderers leapt out on each side of him, then alarm would arise in him on that account. So too, I thought thus: ‘Alarm arose in me and owing to the alarm my concentration died away; when concentration died away, the illumination disappeared and so did the vision of forms. I shall so act that neither uncertainty nor inattention nor lethargy and drowsiness nor alarm arise in me again.’
Nya 21“As I dwelt diligent… vision of forms disappeared.
“I thought thus: ‘What is the reason… disappears?’ I thought thus: ‘Elation arose in me, and owing to the elation my concentration died away; when concentration died away, the illumination disappeared and so did the vision of forms.’ Suppose, Anuruddha, a man seeking a hidden treasure found at once five hidden treasures, then elation would arise in him on that account. So too I thought thus: ‘Elation arose in me, and owing to the elation my concentration died away; when concentration died away, the illumination disappeared and so did the vision of forms. I shall so act that neither uncertainty nor inattention nor lethargy and drowsiness nor alarm nor elation arise in me again.’
Nya 22“As I dwelt diligent… vision of forms disappeared.
“I thought thus: ‘What is the reason… disappears?’ I thought thus: ‘Inertia arose in me, and owing to the inertia my concentration died away; when concentration died away, the illumination disappeared and so did the vision of forms. I shall so act that neither uncertainty nor inattention nor lethargy and drowsiness nor alarm nor elation nor inertia arise in me again.’
Nya 23“As I dwelt diligent… vision of forms disappeared.
“I thought thus: ‘What is the reason… disappears?’ I thought thus: ‘Too active an energy arose in me, and owing to too active an energy my concentration died away. When the concentration died away, the illumination disappeared and so did the vision of forms.’ Suppose, Anuruddha, a man gripped a quail tightly with both hands, it would die then and there. So too, I thought thus: ‘Too active an energy arose in me, and owing to too active an energy my concentration died away; when concentration died away, the illumination disappeared and so did the vision of forms. I shall so act that neither uncertainty nor inattention nor lethargy and drowsiness nor alarm nor elation nor inertia nor too active an energy arise in me again.’
Nya 24“As I dwelt diligent… vision of forms disappeared.
“I thought thus: ‘What is the reason… disappears?’ I thought thus: ‘Too sluggish an energy arose in me, and owing to too sluggish an energy my concentration died away; when concentration died away, the illumination disappeared and so did the vision of forms.’ Suppose Anuruddha, a man gripped a quail loosely, it would jump out of his hand. So too, I thought thus: ‘Too sluggish an energy arose in me, and owing to too sluggish an energy my concentration died away. When concentration died away, the illumination disappeared and so did the vision of forms. I shall so act that neither uncertainty nor inattention nor lethargy and drowsiness nor alarm nor elation nor inertia nor too active an energy nor too sluggish and energy arise in me again.’
Nya 25“As I dwelt diligent… vision of forms disappeared.
“I thought thus: ‘What is the reason… disappears?’ I thought thus: ‘Longing arose in me, and owing to longing my concentration died away; when concentration died away, the illumination disappeared and so did the vision of forms. I shall so act that neither uncertainty nor inattention nor lethargy and drowsiness nor alarm nor elation nor inertia nor too active an energy nor too sluggish an energy nor longing arise in me again.’
Nya 26“As I dwelt diligent… vision of forms disappeared.
“I thought thus: ‘What is the reason… disappears?’ I thought thus: ‘Perception of difference arose in me, and owing to perception of difference my concentration died away; when concentration died away, the illumination disappeared and so did the vision of forms. I shall so act that neither uncertainty nor inattention nor lethargy and drowsiness nor alarm nor elation nor inertia nor too active an energy nor too sluggish an energy nor longing nor perception of difference arise in me again.’
Nya 27“As I dwelt diligent… vision of forms disappeared.
“I thought thus: ‘What is the reason… disappears?’ I thought thus: ‘Too much meditating upon forms arose in me and owing to too much meditating upon forms my concentration died away; when concentration died away the illumination disappeared and so did the vision of forms. I shall so act that neither uncertainty nor inattention nor lethargy and drowsiness nor alarm nor elation nor inertia nor too active an energy nor too sluggish an energy nor longing nor perception of difference nor too much meditating upon forms arise in me again.’
Nya 28“When I knew thus that uncertainty is an imperfection of mind, I abandoned it. Knowing that inattention… lethargy and drowsiness… alarm… elation… inertia… too active an energy… too sluggish an energy… longing… perception of difference… too much meditating upon forms is an imperfection of mind, I abandoned it.
Nya 29“While I dwelt diligent, ardent and self-controlled I perceived illumination and I did not see forms; I saw forms and I did not perceive illumination, even for a whole night and a whole day and a whole night and day. I thought thus: ‘What is the reason, what is the condition, for this?’ I thought thus: ‘On the occasion on which I give attention to the sign of illumination without giving attention to the sign of form, on that occasion I perceive illumination and I do not see forms. And on that occasion on which I give attention to the sign of forms without giving attention to the sign of illumination, on that occasion I see forms and I do not perceive illumination; even for a whole night and a whole day and a whole night and day.’
Nya 30“While I dwelt diligent, ardent and self-controlled, perceived limited illumination and I saw limited forms, I perceived measureless illumination and I saw measureless forms, even for a whole night and a whole day and a whole night and day. I thought thus: ‘What is the reason, what is the condition for this?’ I thought thus: ‘On the occasion on which my concentration is limited, on that occasion my eye is limited, and with a limited eye I perceive limited illumination and I see limited forms and on the occasion on which my concentration is measureless, on that occasion my eye is measureless, and with measureless eye I see measureless forms; even for a whole night and a whole day and a whole night and day.’
Nya 31“As soon as, by my knowing thus that uncertainty is an imperfection of mind, it had been abandoned in me; as soon as by my knowing thus that inattention… lethargy and drowsiness… alarm… elation… inertia … too active an energy… too sluggish an energy… longing… perception of difference… as soon as by my knowing thus that too much meditating on forms is an imperfection of mind, it had been abandoned in me.
Nya 32“Thereupon I thought thus: ‘I have abandoned those imperfections in my mind. Now I shall develop concentration in three ways.’
Nya 33“I developed concentration with initial application and sustained application: I developed it without initial application and with only sustained application, I developed it without initial application and without sustained application; I developed it with happiness; I developed it without happiness; I developed it accompanied by enjoyment; I developed it accompanied by equanimity.
Nya 34“As soon as I developed concentration thus, knowledge and vision arose in me: ‘My deliverance is unassailable, this is the last birth, there is no renewal of being now.’”
This is what the Blessed One said. The venerable Anuruddha was satisfied and he delighted in the Blessed One’s words.
Như vầy tôi nghe.
SC 1Một thời Thế Tôn ở Kosambi (Kiều-thưởng-di), tại tịnh xá Ghosita (Cu-sư-la).
SC 2Lúc bấy giờ các Tỷ-kheo ở Kosambi sống cạnh tranh, luận tranh, đấu tranh nhau, đả thương nhau bằng những binh khí miệng lưỡi. Rồi một Tỷ-kheo đến chỗ Thế Tôn ở, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên. Ðứng một bên, Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn
SC 3—Ở đây, bạch Thế Tôn, các Tỷ-kheo ở Kosambi, sống cạnh tranh, luận tranh, đấu tranh nhau, đả thương nhau bằng những binh khí miệng lưỡi. Tốt lành thay, bạch Thế Tôn, nếu Thế Tôn vì lòng từ mẫn, đến các Tỷ-kheo ấy.
SC 4Thế Tôn im lặng nhận lời. Rồi Thế Tôn đi đến các Tỷ-kheo ấy, sau khi đến liền nói với họ
SC 5—Thôi vừa rồi, các Tỷ-kheo! Chớ có cạnh tranh, luận tranh, phân tranh, đấu tranh nhau!
SC 6Khi nghe nói vậy, một Tỷ-kheo bạch Thế Tôn
SC 7—Bạch Thế Tôn, Thế Tôn là bậc Pháp Chủ, hãy dừng lại! Bạch Thế Tôn, Thế Tôn chớ có nhọc lòng! Thế Tôn hãy an trú, chú tâm và hiện tại lạc trú! Vì rằng chúng con chịu trách nhiệm về sự cạnh tranh, luận tranh, phân tranh, đấu tranh này.
SC 8Lần thứ hai, Thế Tôn nói với các Tỷ-kheo ấy
SC 9—Thôi vừa rồi, này các Tỷ-kheo! Chớ có cạnh tranh, luận tranh, phân tranh, đấu tranh nhau!
SC 10Lần thứ hai, Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn
SC 11—Bạch Thế Tôn, Thế Tôn là bậc Pháp Chủ, hãy dừng lại! Bạch Thế Tôn, Thế Tôn chớ có nhọc lòng! Thế Tôn hãy an trú, chú tâm và hiện tại lạc trú! Vì rằng chúng con chịu trách nhiệm về sự cạnh tranh, luận tranh, phân tranh, đấu tranh này.
SC 12Lần thứ ba, Thế Tôn nói với các Tỷ-kheo ấy
SC 13—Thôi vừa rồi, này các Tỷ-kheo! Chớ có cạnh tranh, luận tranh, phân tranh, đấu tranh nhau!
SC 14Lần thứ ba, Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn
SC 15—Bạch Thế Tôn, Thế Tôn là bậc Pháp Chủ, hãy dừng lại! Bạch Thế Tôn, Thế Tôn chớ có nhọc lòng! Thế Tôn hãy an trú, chú tâm vào hiện tại lạc trú! Vì rằng chúng con chịu trách nhiệm về sự cạnh tranh, luận tranh, phân tranh, đấu tranh này.
SC 16Rồi Thế Tôn vào buổi sáng đắp y, cầm y bát và đi vào Kosambi để khất thực. Sau khi đi khất thực ở Kosambi, ăn xong, trên con đường khi khất thực trở về, sau khi dọn dẹp chỗ nằm, lấy y bát, Ngài đứng và nói bài kệ:
SC 17Giữa quần chúng la ó,
Không ai nghĩ mình ngu,
Giữa Tăng chúng phân ly
Có ai nghĩ hướng thượng?
SC 18Thất niệm kẻ trí nói,
Ba hoa trăm thứ chuyện,
Miệng há, nói thả dàn,
Dẫn đi đâu, ai biết?
SC 19“Nó mắng tôi, đánh tôi!
Nó hại tôi, cướp tôi!”
Ai ôm oán niệm ấy,
Hận thù không thể nguôi.
SC 20“Nó mắng tôi, đánh tôi!
Nó hại tôi, cướp tôi!”
Không ôm oán niệm ấy,
Hận thù sẽ tự nguôi.
SC 21Hận thù diệt hận thù,
Không đời nào diệt được,
Từ bi diệt hận thù,
Là định luật ngàn thu.
SC 22“Người khác không hiểu biết,
Ở đây ta bị diệt”,
Những ai hiểu điều này,
Nhờ vậy, tranh luận tiêu.
SC 23Kẻ chủ xướng hại mạng,
Cướp bò, ngựa tài sản,
Kẻ cướp đoạt quốc độ,
Họ còn biết đoàn kết,
Sao các Ông không vậy?
SC 24Nếu được bạn hiền trí,
Ðồng hành, khéo an trú,
Ðả thắng mọi hiểm nạn,
Sống hoan hỷ chánh niệm.
SC 25Nếu không bạn hiền trí,
Như vua bỏ quốc độ,
Cô độc như voi rừng.
Tốt hơn, sống một mình,
Không bè bạn kẻ ngu,
Cô độc không làm ác,
Nhàn hạ, như voi rừng.
SC 26Rồi Thế Tôn đứng nói lên những câu kệ này, rồi đi đến làng Balakalonakara. Khi ấy, Tôn giả Bhagu sống ở trong làng Balakalonakara. Tôn giả Bhagu thấy Thế Tôn từ xa đi đến, liền sắp đặt chỗ ngồi và nước rửa chân. Thế Tôn ngồi trên chỗ ngồi đã soạn sẵn; sau khi ngồi, Ngài rửa chân. Tôn giả Bhagu đảnh lễ Thế Tôn, rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với Tôn giả Bhagu đang ngồi một bên
SC 27—Này Tỷ-kheo, có được an lành không? Có được sống yên vui không? Ði khất thực, có khỏi mệt nhọc không?
SC 28—Bạch Thế Tôn, con được an lành. Bạch Thế Tôn, con sống yên vui. Bạch Thế Tôn, con đi khất thực khỏi có mệt nhọc.
SC 29Rồi Thế Tôn sau khi với thời thuyết pháp khích lệ Tôn giả Bhagu, làm cho hân hoan, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ, từ chỗ ngồi đứng dậy, đi đến Pacinavamsadaya. Lúc bấy giờ, Tôn giả Anuruddha (A-na-luật), Tôn giả Nandiya (Nan-đề) và Tôn giả Kimbila (Kim-ty—la) trú ở Pacinavamasadaya. Người giữ vườn thấy Thế Tôn từ xa đi đến, khi thấy vậy liền bạch Thế Tôn:
SC 30Này Sa-môn, chớ có vào khu vườn này. Có ba Thiện gia nam tử, rất ái luyến tự ngã (attakamanipa) trú tại đây. Chớ có phiền nhiễu các vị ấy.
SC 31Tôn giả Anuruddha nghe người giữ khu vườn nói chuyện với Thế Tôn, liền nói với người giữ vườn
SC 32—Này Người giữ vườn, chớ có ngăn chặn Thế Tôn! Thế Tôn là bậc Ðạo sư của chúng tôi đã đến.
SC 33Rồi Tôn giả Anuruddha đi đến Tôn giả Nandiya và Tôn giả Kimbila và nói
SC 34—Chư Tôn giả hãy đến! Chư Tôn giả hãy đến! Thế Tôn, bậc Ðạo sư của chúng ta đã đến.
SC 35Rồi Tôn giả Anuruddha, Tôn giả Nandiya và Tôn giả Kimbila ra đón Thế Tôn, một người cầm y bát Thế Tôn, một người sửa soạn chỗ ngồi, một người đặt sẵn nước rửa chân. Thế Tôn ngồi trên chỗ ngồi đã soạn sẵn; sau khi ngồi, Thế Tôn rửa chân. Rồi các Tôn giả ấy đảnh lễ Thế Tôn và ngồi xuống một bên. Rồi Thế Tôn nói với Tôn giả Anuruddha đang ngồi xuống một bên
SC 36—Này các Anuruddha, các Ông có được an lành không? Có được sống yên vui không? Ði khất thực có khỏi mệt nhọc không?
SC 37—Bạch Thế Tôn, chúng con được an lành. Bạch Thế Tôn, chúng con sống yên vui. Bạch Thế Tôn, chúng con đi khất thực khỏi có mệt nhọc.
SC 38—Này các Anuruddha, các Ông có sống hòa hợp, hoan hỷ với nhau, không có cãi nhau. Như nước với sữa, sống nhìn nhau với cặp mắt thiện cảm không?
SC 39—Bạch Thế Tôn, thật sự chúng con sống hòa hợp, hoan hỷ với nhau, không có cãi nhau, như nước với sữa, sống nhìn nhau với cặp mắt thiện cảm.
SC 40—Này các Anuruddha, như thế nào các Ông sống hòa hợp, hoan hỷ với nhau, như nước với sữa, sống nhìn nhau với cặp mắt thiện cảm?
SC 41—Bạch Thế Tôn, ở đây chúng con nghĩ như sau: “Thật lợi ích thay cho ta! Thật khéo lợi ích thay cho ta, khi ta được sống với các đồng Phạm hạnh như vậy! Bạch Thế Tôn, do vậy đối với các vị đồng Phạm hạnh này, con khởi lên từ thân nghiệp, trước mặt và sau lưng; con khởi lên từ khẩu nghiệp, trước mặt và sau lưng, con khởi lên từ ý nghiệp, trước mặt và sau lưng. Bạch Thế Tôn, do vậy chúng con nghĩ như sau: “Ta hãy từ bỏ tâm của ta và sống thuận theo tâm của những Tôn giả này”. Và bạch Thế Tôn, con từ bỏ tâm của con, và sống thuận theo tâm của những Tôn giả ấy. Bạch Thế Tôn, chúng con tuy khác thân nhưng giống như đồng một tâm.
SC 42Rồi Tôn giả Nandiya … Rồi Tôn giả Kimbila bạch Thế Tôn
SC 43—Bạch Thế Tôn, ở đây chúng con nghĩ như sau: “Thật lợi ích thay cho ta! Thật khéo lợi ích thay cho ta, khi ta được sống với các vị đồng Phạm hạnh như vậy!” Bạch Thế Tôn, do vậy đối với các vị đồng Phạm hạnh này, con khởi lên từ thân nghiệp, trước mặt và sau lưng; con khởi lên từ khẩu nghiệp, trước mặt và sau lưng, con khởi lên từ ý nghiệp, trước mặt và sau lưng. Bạch Thế Tôn, do vậy chúng con nghĩ như sau: “Ta hãy từ bỏ tâm của ta và sống thuận theo tâm của những Tôn giả này”. Và bạch Thế Tôn, con từ bỏ tâm của con và sống thuận theo tâm của những Tôn giả ấy. Bạch Thế Tôn, chúng con tuy khác thân nhưng giống như đồng một tâm. Bạch Thế Tôn, như vậy chúng con sống hòa hợp, hoan hỷ với nhau, như nước với sữa, sống nhìn nhau với cặp mắt thiện cảm.
SC 44—Lành thay, lành thay, này các Anuruddha! Và này các Anuruddha, các Ông có sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần không?
SC 45—Bạch Thế Tôn, thật sự chúng con sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.
SC 46—Này các Anuruddha, như thế nào, các Ông sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần?
SC 47—Ở đây, bạch Thế Tôn, chúng con ai đi vào làng khất thực về trước, người ấy sắp đặt các chỗ ngồi, soạn sẵn nước uống, nước rửa chân, soạn sẵn một bát để bỏ đồ dư. Ai đi vào làng khất thực về sau, người ấy, còn đồ ăn để lại, nếu muốn thì ăn, nếu không muốn thời bỏ vào chỗ không có cỏ xanh hay đổ vào nước không có loài côn trùng. Người ấy xếp dọn lại các chỗ ngồi, cất đi nước uống, nước rửa chân, cất đi cái bát để bỏ đồ dư và quét sạch nhà ăn. Ai thấy ghè nước uống, ghè nước rửa chân, hay ghè nước trong nhà cầu hết nước trống không, người ấy sẽ lo liệu (nước). Nếu làm không nỗi với sức bàn tay của mình, người ấy dùng tay ra hiệu gọi người thứ hai: “Chúng ta hãy lo liệu (nước)”. Dầu vậy, bạch Thế Tôn, chúng con không vì vậy gây ra tiếng động. Và đến ngày thứ năm, bạch Thế Tôn, suốt cả một đêm chúng con ngồi đàm luận về đạo pháp. Như vậy, bạch Thế Tôn, chúng con sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.
SC 48—Lành thay, lành thay, này các Anurudda! Này các Anuruddha, các Ông sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần như vậy, các Ông có chứng được pháp thượng nhân tri kiến thù thắng, xứng đáng bậc Thánh, sống thoải mái an lạc không?
SC 49—Ở đây, bạch Thế Tôn, chúng con sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần như vậy, chúng con nhận thấy được hào quang, cũng như sự hiện khởi các sắc pháp. Nhưng hào quang ấy không bao lâu biến mất cùng với sự hiện khởi các sắc pháp. Chúng con không được hiểu rõ tướng ấy là gì.
SC 50—Này các Anuruddha, tướng ấy các Ông cần phải hiểu rõ. Ta cũng vậy, này các Anuruddha, trước khi giác ngộ, chưa chứng Chánh Ðẳng Giác, còn là Bồ-tát, Ta nhận thấy hào quang và sự hiện khởi các sắc pháp. Nhưng hào quang ấy không bao lâu biến mất nơi Ta cùng với sự hiện khởi các sắc pháp. Này các Anuruddha, Ta suy nghĩ như sau: “Do nhân gì, do duyên gì hào quang biến mất đối với Ta, cùng với sự hiện khởi các sắc pháp?” Này các Anuruddha, Ta suy nghĩ như sau: “Nghi hoặc khởi lên nơi Ta. Vì có nghi hoặc nên định của Ta bị biến diệt; khi định biến diệt, hào quang biến mất cùng với sự hiện khởi các sắc pháp. Vậy Ta sẽ phải làm thế nào để nghi hoặc không khởi lên nơi Ta nữa”.
SC 51Rồi này các Anuruddha, Ta sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, nhận thấy được hào quang cùng với sự hiện khởi các sắc pháp. Nhưng hào quang ấy không bao lâu biến mất nơi Ta, cùng với sự hiện khởi các sắc pháp. Rồi này các Anuruddha, Ta suy nghĩ như sau: “Do nhân gì, do duyên gì, hào quang biến mất nơi Ta, cùng với sự hiện khởi của các sắc pháp?” Rồi này các Anuruddha, Ta suy nghĩ như sau: “Không tác ý khởi lên nơi Ta. Vì không có tác ý, nên định bị biến diệt nơi Ta; khi định bị biến diệt, hào quang biến mất cùng với sự hiện khởi các sắc pháp. Vậy Ta phải làm như thế nào để nghi hoặc và không tác ý không khởi lên nơi Ta nữa”.
SC 52Rồi này các Anuruddha, Ta sống không phóng dật … Rồi này các Anuruddha, Ta suy nghĩ như sau: “Hôn trầm, thụy miên, khởi lên nơi Ta. Vì có hôn trầm, thụy miên nên định của Ta bị biến diệt; khi định bị biến diệt, hào quang biến mất cùng với sự hiện khởi các sắc pháp. Vậy Ta phải làm như thế nào để nghi hoặc, không tác ý và hôn trầm, thụy miên không khởi lên nơi Ta nữa”.
SC 53Rồi này các Anuruddha, Ta sống không phóng dật … Rồi này các Anuruddha, Ta suy nghĩ như sau: “Sự sợ hãi khởi lên nơi Ta. Vì có sợ hãi, nên định bị biến diệt nơi Ta; khi định bị biến diệt, hào quang biến mất cùng với sự hiện khởi các sắc pháp”. Ví như, này các Anuruddha, một người đang đi trên con đường, có kẻ giết người nhảy đến (công kích) từ hai phía. Do nhân duyên từ hai phía, người ấy khởi lên sợ hãi. Cũng vậy, này các Anuruddha, sợ hãi khởi lên nơi Ta. Vì có sợ hãi, nên định bị biến diệt nơi Ta; khi định bị biến diệt, hào quang biến mất cùng với sự hiện khởi các sắc pháp. Vậy Ta phải làm thế nào để nghi hoặc, không tác ý, hôn trầm, thụy miên và sự sợ hãi không khởi lên nơi Ta nữa”.
SC 54Rồi này các Anuruddha, Ta sống không phóng dật. Rồi này các Anuruddha, Ta suy nghĩ như sau: “Sự phấn chấn (ubbilla) khởi lên nơi Ta. Vì có sự phấn chấn, nên định bị biến diệt nơi Ta; khi định bị biến diệt, hào quang biến mất cùng với sự hiện khởi các sắc pháp. Ví như, này các Anuruddha, một người đi tìm cửa miệng một kho tàng, và trong một lần tìm được năm cửa miệng kho tàng, do nhân duyên này phấn chấn khởi lên. Cũng vậy, này các Anuruddha, phấn chấn khởi lên nơi Ta. Vì có phấn chấn nên định bị biến diệt nơi Ta; khi định bị biến diệt mất cùng với sự hiện khởi các sắc pháp. Vậy Ta phải làm thế nào, để nghi hoặc, không tác ý, hôn trầm, thụy miên, sợ hãi và sự phấn chấn không khởi lên nơi Ta nữa”.
SC 55Rồi này các Anuruddha, Ta sống không phóng dật … Rồi này các Anuruddha, Ta suy nghĩ như sau: “Dâm ý (dutthullam) khởi lên nơi Ta. Vì có dâm ý, nên định bị biến diệt nơi Ta; khi định bị biến diệt, hào quang biến mất cùng với sự hiện khởi các sắc pháp. Vậy Ta phải làm thế nào để nghi hoặc, không tác ý, hôn trầm, thụy miên, sợ hãi, phấn chấn, dâm ý không khởi lên nơi Ta nữa”.
SC 56Rồi này các Anuruddha, Ta sống không phóng dật … Rồi này các Anuruddha, Ta suy nghĩ như sau: “Sự tinh cần quá độ khởi lên nơi Ta, và vì có tinh cần quá độ, nên định lực biến diệt nơi Ta; khi định bị biến diệt, hào quang biến mất cùng với sự hiện khởi các sắc pháp. Ví như, này các Anuruddha, một người với hai tay bắt nắm quá chặt một con chim cáy khiến con chim chết liền tại chỗ. Cũng vậy, này các Anuruddha, tinh cần quá độ khởi lên nơi Ta. Vì có tinh cần quá độ … cùng với sự hiện khởi các sắc pháp. Vậy Ta phải làm thế nào để nghi hoặc, không tác ý, hôn trầm, thụy miên, sợ hãi, phấn chấn, dâm ý, và tinh cần quá độ không khởi lên nơi Ta nữa”.
SC 57Rồi này các Anuruddha, Ta sống không phóng dật … Rồi này các Anuruddha, Ta suy nghĩ như sau: “Tinh cần quá yếu đuối khởi lên nơi Ta. Vì có tinh cần quá yếu đuối, nên định biến diệt nơi Ta; khi định biến diệt, hào quang biến mất cùng với sự hiện khởi các sắc pháp. Ví như, này các Anuruddha, một người bắt một con chim cáy quá lỏng lẻo, con chim ấy bay khỏi hai tay của người ấy. Cũng vậy, này các Anuruddha, … cùng với sự hiện khởi các sắc pháp. Vậy Ta phải làm thế nào để nghi hoặc, không tác ý, hôn trầm, thụy miên, sợ hãi, phấn chấn, dâm ý, tinh cần quá độ và tinh cần quá yếu đuối không khởi lên nơi Ta nữa”.
SC 58Rồi này các Anuruddha, Ta sống không phóng dật … Rồi này các Anuruddha, Ta suy nghĩ như sau: “Ái dục khởi lên nơi Ta. Vì có ái dục. Với sự hiện khởi các sắc pháp … Vậy Ta phải làm thế nào để nghi hoặc, không tác ý … tinh cần quá yếu đuối và ái dục không khởi lên nơi Ta nữa”.
SC 59Rồi này các Anuruddha, Ta sống không phóng dật … Rồi này các Anuruddha, Ta nghĩ như sau: “Sai biệt tưởng khởi lên nơi Ta … cùng với sự hiện khởi các sắc pháp. Vậy Ta phải làm thế nào để nghi hoặc … ái dục và sai biệt tưởng không khởi lên nơi Ta nữa”.
SC 60Rồi này các Anuruddha, Ta sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, và Ta nhận thấy được hào quang cùng với sự hiện khởi sắc pháp. Những hào quang ấy không bao lâu biến mất nơi Ta cùng với sự hiện khởi các sắc pháp. Rồi này các Anuruddha, Ta suy nghĩ như sau: “Do nhân gì, do duyên gì, hào quang biến mất nơi Ta cùng với sự hiện khởi các sắc pháp?” Rồi này các Anuruddha, Ta suy nghĩ như sau: “Một trạng thái quá chú tâm vào các sắc pháp khởi lên nơi Ta … cùng với sự hiện khởi các sắc pháp. Vậy Ta phải làm như thế nào để nghi hoặc. (như trên) … các tưởng sai biệt và trạng thái quá chú tâm vào các sắc pháp không khởi lên nơi Ta nữa”. Rồi này các Anuruddha, sau khi biết được nghi hoặc là một phiền não của tâm, Ta đoạn trừ nghi hoặc, phiền não của tâm; sau khi biết được không tác ý là một phiền não của tâm, Ta đoạn trừ không tác ý, phiền não của tâm; sau khi biết được hôn trầm, thụy miên … sau khi biết được sợ hãi … sau khi biết được phấn chấn … sau khi biết được dâm ý … sau khi biết được sự tinh cần quá độ … sau khi biết được sự tinh cần quá yếu đuối … sau khi biết được dục ái … sau khi biết được tưởng sai biệt; sau khi biết được trạng thái quá chú tâm đến sắc pháp là một phiền não của tâm, Ta đoạn trừ trạng thái quá chú trọng vào các sắc pháp, một phiền não của tâm.
SC 61Rồi này các Anuruddha, Ta sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, nhận thấy được hào quang nhưng Ta không thấy các sắc pháp cả đêm, cả ngày, cả đêm và cả ngày. Ta thấy các sắc pháp nhưng không nhận thấy hào quang. Về vấn đề này, này các Anuruddha, Ta suy nghĩ như sau: “Do nhân gì, do duyên gì, Ta chỉ nhận thấy hào quang, nhưng không thấy sắc pháp: cả đêm, cả ngày, cả đêm và cả ngày?” Ta chỉ thấy các sắc pháp nhưng không nhận thấy hào quang. Về vấn đề này, này các Anuruddha, Ta suy nghĩ như sau: “Trong khi Ta không tác ý sắc tướng, nhưng có tác ý hào quang tướng, trong khi ấy ta nhận thấy hào quang, nhưng không thấy sắc pháp. Còn trong khi Ta không tác ý hào quang tướng, nhưng tác ý sắc tướng; trong khi ấy Ta thấy các sắc pháp, nhưng không nhận thấy hào quang, cả đêm, cả ngày, cả đêm và cả ngày”.
SC 62Rồi này các Anuruddha, Ta sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, nhận thấy hào quang có hạn lượng và thấy được các sắc pháp có hạn lượng; nhận thấy hào quang vô lượng và nhận thấy được các sắc pháp vô lượng, cả đêm, cả ngày, cả đêm và cả ngày. Về vấn đề này, này các Anuruddha, Ta suy nghĩ như sau: “Do nhân gì, do duyên gì, Ta nhận thấy hào quang có hạn lượng và thấy các sắc pháp có hạn lượng; nhận thấy hào quang vô lượng và thấy được các sắc pháp vô lượng, cả đêm, cả ngày, cả đêm và cả ngày?” Về vấn đề này, này các Anuruddha, Ta suy nghĩ như sau: “Khi nào định có hạn lượng, khi ấy mắt của Ta có hạn lượng; với con mắt có hạn lượng ấy, Ta nhận thấy hào quang có hạn lượng và thấy sắc pháp có hạn lượng. Nhưng khi nào định của Ta không hạn lượng, trong khi ấy mắt của Ta thành vô lượng, và với con mắt vô lượng ấy, Ta nhận thấy hào quang vô lượng và thấy các sắc pháp vô lượng cả đêm, cả ngày, cả đêm và cả ngày”.
SC 63Này các Anuruddha, khi nào biết được nghi hoặc là một phiền não của tâm, thời nghi hoặc phiền não của tâm được đoạn trừ; khi nào biết được không tác ý là một phiền não của tâm, thời không tác ý phiền não của tâm được đoạn trừ; khi nào biết được hôn trầm, thụy miên …; khi nào biết được sợ hãi …; khi nào biết được phấn chấn …; khi nào biết được dâm ý …; khi nào biết được tinh cần quá độ …; khi nào biết được sự tinh cần quá yếu đuối …; khi nào biết được dục ái …; khi nào biết được tưởng sai biệt …; khi nào biết được trạng thái quá chú tâm đến các sắc pháp là một phiền não của tâm, thời trạng thái quá chú tâm đến các sắc pháp phiền não của tâm được đoạn trừ. Rồi này các Anuruddha, Ta suy nghĩ như sau: “Những phiền não tâm của Ta đã được đoạn trừ. Nay Ta tu tập ba loại định”.
SC 64Rồi này các Anuruddha, Ta tu tập định có tầm, có tứ; Ta tu tập định không có tầm, chỉ có tứ; Ta tu tập định không tầm, không tứ; Ta tu tập định có hỷ; Ta tu tập định không có hỷ; Ta tu tập định câu hữu với lạc; Ta tu tập định câu hữu với xả.
SC 65Này các Anuruddha, khi nào Ta tu tập định có tầm, có tứ; khi nào Ta tu tập định không tầm, chỉ có tứ; khi nào Ta tu tập định không có tầm, không có tứ; khi nào Ta tu tập định có hỷ; khi nào Ta tu tập định không có hỷ; khi nào Ta tu tập định câu hữu với xả, thời tri kiến khởi lên nơi Ta: “Giải thoát của Ta là bất động, đây là đời sống cuối cùng của Ta, nay không còn hiện hữu”.
SC 66Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Tôn giả Anuruddha hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy.
Evaṁ me sutaṁ—
ekaṁ samayaṁ bhagavā kosambiyaṁ viharati ghositārāme.
Tena kho pana samayena kosambiyaṁ bhikkhū bhaṇḍanajātā kalahajātā vivādāpannā aññamaññaṁ mukhasattīhi vitudantā viharanti.
Atha kho aññataro bhikkhu yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ aṭṭhāsi. Ekamantaṁ ṭhito kho so bhikkhu bhagavantaṁ etadavoca:
“idha, bhante, kosambiyaṁ bhikkhū bhaṇḍanajātā kalahajātā vivādāpannā aññamaññaṁ mukhasattīhi vitudantā viharanti.
Sādhu, bhante, bhagavā yena te bhikkhū tenupasaṅkamatu anukampaṁ upādāyā”ti.
Adhivāsesi bhagavā tuṇhībhāvena.
Atha kho bhagavā yena te bhikkhū tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā te bhikkhū etadavoca:
“alaṁ, bhikkhave, mā bhaṇḍanaṁ, mā kalahaṁ, mā viggahaṁ, mā vivādan”ti.
Evaṁ vutte, aññataro bhikkhu bhagavantaṁ etadavoca:
“āgametu, bhante.
Bhagavā dhammassāmī;
appossukko, bhante, bhagavā diṭṭhadhammasukhavihāraṁ anuyutto viharatu;
mayametena bhaṇḍanena kalahena viggahena vivādena paññāyissāmā”ti.
Dutiyampi kho bhagavā te bhikkhū etadavoca:
“alaṁ, bhikkhave, mā bhaṇḍanaṁ, mā kalahaṁ, mā viggahaṁ, mā vivādan”ti.
Dutiyampi kho so bhikkhu bhagavantaṁ etadavoca:
“āgametu, bhante.
Bhagavā dhammassāmī;
appossukko, bhante, bhagavā diṭṭhadhammasukhavihāraṁ anuyutto viharatu;
mayametena bhaṇḍanena kalahena viggahena vivādena paññāyissāmā”ti.
Tatiyampi kho bhagavā te bhikkhū etadavoca:
“alaṁ, bhikkhave, mā bhaṇḍanaṁ, mā kalahaṁ, mā viggahaṁ, mā vivādan”ti.
Tatiyampi kho so bhikkhu bhagavantaṁ etadavoca:
“āgametu, bhante.
Bhagavā dhammassāmī;
appossukko, bhante, bhagavā diṭṭhadhammasukhavihāraṁ anuyutto viharatu;
mayametena bhaṇḍanena kalahena viggahena vivādena paññāyissāmā”ti.
Atha kho bhagavā pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya kosambiṁ piṇḍāya pāvisi.
Kosambiyaṁ piṇḍāya caritvā pacchābhattaṁ piṇḍapātapaṭikkanto senāsanaṁ saṁsāmetvā pattacīvaramādāya ṭhitakova imā gāthā abhāsi:
“Puthusaddo samajano,
na bālo koci maññatha;
Saṅghasmiṁ bhijjamānasmiṁ,
nāññaṁ bhiyyo amaññaruṁ.
Parimuṭṭhā paṇḍitābhāsā,
vācāgocarabhāṇino;
Yāvicchanti mukhāyāmaṁ,
yena nītā na taṁ vidū.
Akkocchi maṁ avadhi maṁ,
ajini maṁ ahāsi me;
Ye ca taṁ upanayhanti,
veraṁ tesaṁ na sammati.
Akkocchi maṁ avadhi maṁ,
ajini maṁ ahāsi me;
Ye ca taṁ nupanayhanti,
veraṁ tesūpasammati.
Na hi verena verāni,
sammantīdha kudācanaṁ;
Averena ca sammanti,
esa dhammo sanantano.
Pare ca na vijānanti,
mayamettha yamāmase;
Ye ca tattha vijānanti,
tato sammanti medhagā.
Aṭṭhicchinnā pāṇaharā,
gavassadhanahārino;
Raṭṭhaṁ vilumpamānānaṁ,
tesampi hoti saṅgati;
Kasmā tumhākaṁ no siyā.
Sace labhetha nipakaṁ sahāyaṁ,
Saddhiṁ caraṁ sādhuvihāri dhīraṁ;
Abhibhuyya sabbāni parissayāni,
Careyya tenattamano satīmā.
No ce labhetha nipakaṁ sahāyaṁ,
Saddhiṁ caraṁ sādhuvihāri dhīraṁ;
Rājāva raṭṭhaṁ vijitaṁ pahāya,
Eko care mātaṅgaraññeva nāgo.
Ekassa caritaṁ seyyo,
Natthi bāle sahāyatā;
Eko care na ca pāpāni kayirā,
Appossukko mātaṅgaraññeva nāgo”ti.
Atha kho bhagavā ṭhitakova imā gāthā bhāsitvā yena bālakaloṇakāragāmo tenupasaṅkami.
Tena kho pana samayena āyasmā bhagu bālakaloṇakāragāme viharati.
Addasā kho āyasmā bhagu bhagavantaṁ dūratova āgacchantaṁ.
Disvāna āsanaṁ paññapesi udakañca pādānaṁ dhovanaṁ.
Nisīdi bhagavā paññatte āsane.
Nisajja pāde pakkhālesi.
Āyasmāpi kho bhagu bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi.
Ekamantaṁ nisinnaṁ kho āyasmantaṁ bhaguṁ bhagavā etadavoca:
“kacci, bhikkhu, khamanīyaṁ, kacci yāpanīyaṁ, kacci piṇḍakena na kilamasī”ti?
“Khamanīyaṁ bhagavā, yāpanīyaṁ bhagavā, na cāhaṁ, bhante, piṇḍakena kilamāmī”ti.
Atha kho bhagavā āyasmantaṁ bhaguṁ dhammiyā kathāya sandassetvā samādapetvā samuttejetvā sampahaṁsetvā uṭṭhāyāsanā yena pācīnavaṁsadāyo tenupasaṅkami.
Tena kho pana samayena āyasmā ca anuruddho āyasmā ca nandiyo āyasmā ca kimilo pācīnavaṁsadāye viharanti.
Addasā kho dāyapālo bhagavantaṁ dūratova āgacchantaṁ.
Disvāna bhagavantaṁ etadavoca:
“mā, mahāsamaṇa, etaṁ dāyaṁ pāvisi.
Santettha tayo kulaputtā attakāmarūpā viharanti.
Mā tesaṁ aphāsumakāsī”ti.
Assosi kho āyasmā anuruddho dāyapālassa bhagavatā saddhiṁ mantayamānassa.
Sutvāna dāyapālaṁ etadavoca:
“mā, āvuso dāyapāla, bhagavantaṁ vāresi.
Satthā no bhagavā anuppatto”ti.
Atha kho āyasmā anuruddho yenāyasmā ca nandiyo yenāyasmā ca kimilo tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmantañca nandiyaṁ āyasmantañca kimilaṁ etadavoca:
“abhikkamathāyasmanto, abhikkamathāyasmanto, satthā no bhagavā anuppatto”ti.
Atha kho āyasmā ca anuruddho āyasmā ca nandiyo āyasmā ca kimilo bhagavantaṁ paccuggantvā
eko bhagavato pattacīvaraṁ paṭiggahesi, eko āsanaṁ paññapesi, eko pādodakaṁ upaṭṭhapesi.
Nisīdi bhagavā paññatte āsane.
Nisajja pāde pakkhālesi.
Tepi kho āyasmanto bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu.
Ekamantaṁ nisinnaṁ kho āyasmantaṁ anuruddhaṁ bhagavā etadavoca:
“kacci vo, anuruddhā, khamanīyaṁ, kacci yāpanīyaṁ, kacci piṇḍakena na kilamathā”ti?
“Khamanīyaṁ bhagavā, yāpanīyaṁ bhagavā, na ca mayaṁ, bhante, piṇḍakena kilamāmā”ti.
“Kacci pana vo, anuruddhā, samaggā sammodamānā avivadamānā khīrodakībhūtā aññamaññaṁ piyacakkhūhi sampassantā viharathā”ti?
“Taggha mayaṁ, bhante, samaggā sammodamānā avivadamānā khīrodakībhūtā aññamaññaṁ piyacakkhūhi sampassantā viharāmā”ti.
“Yathā kathaṁ pana tumhe, anuruddhā, samaggā sammodamānā avivadamānā khīrodakībhūtā aññamaññaṁ piyacakkhūhi sampassantā viharathā”ti?
“Idha mayhaṁ, bhante, evaṁ hoti:
‘lābhā vata me, suladdhaṁ vata me
yohaṁ evarūpehi sabrahmacārīhi saddhiṁ viharāmī’ti.
Tassa mayhaṁ, bhante, imesu āyasmantesu mettaṁ kāyakammaṁ paccupaṭṭhitaṁ āvi ceva raho ca,
mettaṁ vacīkammaṁ paccupaṭṭhitaṁ āvi ceva raho ca,
mettaṁ manokammaṁ paccupaṭṭhitaṁ āvi ceva raho ca.
Tassa, mayhaṁ, bhante, evaṁ hoti:
‘yannūnāhaṁ sakaṁ cittaṁ nikkhipitvā imesaṁyeva āyasmantānaṁ cittassa vasena vatteyyan’ti.
So kho ahaṁ, bhante, sakaṁ cittaṁ nikkhipitvā imesaṁyeva āyasmantānaṁ cittassa vasena vattāmi.
Nānā hi kho no, bhante, kāyā, ekañca pana maññe cittan”ti.
Āyasmāpi kho nandiyo …pe…
āyasmāpi kho kimilo bhagavantaṁ etadavoca:
“mayhampi kho, bhante, evaṁ hoti:
‘lābhā vata me, suladdhaṁ vata me
yohaṁ evarūpehi sabrahmacārīhi saddhiṁ viharāmī’ti.
Tassa mayhaṁ, bhante, imesu āyasmantesu mettaṁ kāyakammaṁ paccupaṭṭhitaṁ āvi ceva raho ca,
mettaṁ vacīkammaṁ paccupaṭṭhitaṁ āvi ceva raho ca,
mettaṁ manokammaṁ paccupaṭṭhitaṁ āvi ceva raho ca.
Tassa mayhaṁ, bhante, evaṁ hoti:
‘yannūnāhaṁ sakaṁ cittaṁ nikkhipitvā imesaṁyeva āyasmantānaṁ cittassa vasena vatteyyan’ti.
So kho ahaṁ, bhante, sakaṁ cittaṁ nikkhipitvā imesaṁyeva āyasmantānaṁ cittassa vasena vattāmi.
Nānā hi kho no, bhante, kāyā, ekañca pana maññe cittanti.
Evaṁ kho mayaṁ, bhante, samaggā sammodamānā avivadamānā khīrodakībhūtā aññamaññaṁ piyacakkhūhi sampassantā viharāmā”ti.
“Sādhu sādhu, anuruddhā.
Kacci pana vo, anuruddhā, appamattā ātāpino pahitattā viharathā”ti?
“Taggha mayaṁ, bhante, appamattā ātāpino pahitattā viharāmā”ti.
“Yathā kathaṁ pana tumhe, anuruddhā, appamattā ātāpino pahitattā viharathā”ti?
“Idha, bhante, amhākaṁ yo paṭhamaṁ gāmato piṇḍāya paṭikkamati, so āsanāni paññapeti, pānīyaṁ paribhojanīyaṁ upaṭṭhāpeti, avakkārapātiṁ upaṭṭhāpeti.
Yo pacchā gāmato piṇḍāya paṭikkamati—sace hoti bhuttāvaseso, sace ākaṅkhati, bhuñjati; no ce ākaṅkhati, appaharite vā chaḍḍeti apāṇake vā udake opilāpeti—
so āsanāni paṭisāmeti, pānīyaṁ paribhojanīyaṁ paṭisāmeti, avakkārapātiṁ dhovitvā paṭisāmeti, bhattaggaṁ sammajjati.
Yo passati pānīyaghaṭaṁ vā paribhojanīyaghaṭaṁ vā vaccaghaṭaṁ vā rittaṁ tucchaṁ so upaṭṭhāpeti.
Sacassa hoti avisayhaṁ, hatthavikārena dutiyaṁ āmantetvā hatthavilaṅghakena upaṭṭhāpema, na tveva mayaṁ, bhante, tappaccayā vācaṁ bhindāma.
Pañcāhikaṁ kho pana mayaṁ, bhante, sabbarattiṁ dhammiyā kathāya sannisīdāma.
Evaṁ kho mayaṁ, bhante, appamattā ātāpino pahitattā viharāmā”ti.
“Sādhu sādhu, anuruddhā.
Atthi pana vo, anuruddhā, evaṁ appamattānaṁ ātāpīnaṁ pahitattānaṁ viharataṁ uttari manussadhammā alamariyañāṇadassanaviseso adhigato phāsuvihāro”ti?
“Idha mayaṁ, bhante, appamattā ātāpino pahitattā viharantā obhāsañceva sañjānāma dassanañca rūpānaṁ.
So kho pana no obhāso nacirasseva antaradhāyati dassanañca rūpānaṁ;
tañca nimittaṁ nappaṭivijjhāmā”ti.
“Taṁ kho pana vo, anuruddhā, nimittaṁ paṭivijjhitabbaṁ.
Ahampi sudaṁ, anuruddhā, pubbeva sambodhā anabhisambuddho bodhisattova samāno obhāsañceva sañjānāmi dassanañca rūpānaṁ.
So kho pana me obhāso nacirasseva antaradhāyati dassanañca rūpānaṁ.
Tassa mayhaṁ, anuruddhā, etadahosi:
‘ko nu kho hetu ko paccayo yena me obhāso antaradhāyati dassanañca rūpānan’ti?
Tassa mayhaṁ, anuruddhā, etadahosi:
‘vicikicchā kho me udapādi, vicikicchādhikaraṇañca pana me samādhi cavi.
Samādhimhi cute obhāso antaradhāyati dassanañca rūpānaṁ.
Sohaṁ tathā karissāmi yathā me puna na vicikicchā uppajjissatī’ti.
So kho ahaṁ, anuruddhā, appamatto ātāpī pahitatto viharanto obhāsañceva sañjānāmi dassanañca rūpānaṁ.
So kho pana me obhāso nacirasseva antaradhāyati dassanañca rūpānaṁ.
Tassa mayhaṁ, anuruddhā, etadahosi:
‘ko nu kho hetu ko paccayo yena me obhāso antaradhāyati dassanañca rūpānan’ti?
Tassa mayhaṁ, anuruddhā, etadahosi:
‘amanasikāro kho me udapādi, amanasikārādhikaraṇañca pana me samādhi cavi.
Samādhimhi cute obhāso antaradhāyati dassanañca rūpānaṁ.
Sohaṁ tathā karissāmi yathā me puna na vicikicchā uppajjissati, na amanasikāro’ti.
So kho ahaṁ, anuruddhā …pe…
tassa mayhaṁ, anuruddhā, etadahosi:
‘thinamiddhaṁ kho me udapādi, thinamiddhādhikaraṇañca pana me samādhi cavi.
Samādhimhi cute obhāso antaradhāyati dassanañca rūpānaṁ.
Sohaṁ tathā karissāmi yathā me puna na vicikicchā uppajjissati, na amanasikāro, na thinamiddhan’ti.
So kho ahaṁ, anuruddhā …pe…
tassa mayhaṁ, anuruddhā, etadahosi:
‘chambhitattaṁ kho me udapādi, chambhitattādhikaraṇañca pana me samādhi cavi.
Samādhimhi cute obhāso antaradhāyati dassanañca rūpānaṁ.
Seyyathāpi, anuruddhā, puriso addhānamaggappaṭipanno, tassa ubhatopasse vaṭṭakā uppateyyuṁ, tassa tatonidānaṁ chambhitattaṁ uppajjeyya;
evameva kho me, anuruddhā, chambhitattaṁ udapādi, chambhitattādhikaraṇañca pana me samādhi cavi.
Samādhimhi cute obhāso antaradhāyati dassanañca rūpānaṁ.
Sohaṁ tathā karissāmi yathā me puna na vicikicchā uppajjissati, na amanasikāro, na thinamiddhaṁ, na chambhitattan’ti.
So kho ahaṁ, anuruddhā …pe…
tassa mayhaṁ, anuruddhā, etadahosi:
‘uppilaṁ kho me udapādi, uppilādhikaraṇañca pana me samādhi cavi.
Samādhimhi cute obhāso antaradhāyati dassanañca rūpānaṁ.
Seyyathāpi, anuruddhā, puriso ekaṁ nidhimukhaṁ gavesanto sakideva pañcanidhimukhāni adhigaccheyya, tassa tatonidānaṁ uppilaṁ uppajjeyya;
evameva kho me, anuruddhā, uppilaṁ udapādi, uppilādhikaraṇañca pana me samādhi cavi.
Samādhimhi cute obhāso antaradhāyati dassanañca rūpānaṁ.
Sohaṁ tathā karissāmi yathā me puna na vicikicchā uppajjissati, na amanasikāro, na thinamiddhaṁ, na chambhitattaṁ, na uppilan’ti.
So kho ahaṁ, anuruddhā …pe…
tassa mayhaṁ, anuruddhā, etadahosi:
‘duṭṭhullaṁ kho me udapādi, duṭṭhullādhikaraṇañca pana me samādhi cavi.
Samādhimhi cute obhāso antaradhāyati dassanañca rūpānaṁ.
Sohaṁ tathā karissāmi yathā me puna na vicikicchā uppajjissati, na amanasikāro, na thinamiddhaṁ, na chambhitattaṁ, na uppilaṁ, na duṭṭhullan’ti.
So kho ahaṁ, anuruddhā …pe…
tassa mayhaṁ, anuruddhā, etadahosi:
‘accāraddhavīriyaṁ kho me udapādi, accāraddhavīriyādhikaraṇañca pana me samādhi cavi.
Samādhimhi cute obhāso antaradhāyati dassanañca rūpānaṁ.
Seyyathāpi, anuruddhā, puriso ubhohi hatthehi vaṭṭakaṁ gāḷhaṁ gaṇheyya, so tattheva patameyya;
evameva kho me, anuruddhā, accāraddhavīriyaṁ udapādi, accāraddhavīriyādhikaraṇañca pana me samādhi cavi.
Samādhimhi cute obhāso antaradhāyati dassanañca rūpānaṁ.
Sohaṁ tathā karissāmi yathā me puna na vicikicchā uppajjissati, na amanasikāro, na thinamiddhaṁ, na chambhitattaṁ, na uppilaṁ, na duṭṭhullaṁ, na accāraddhavīriyan’ti.
So kho ahaṁ, anuruddhā …pe…
tassa mayhaṁ, anuruddhā, etadahosi:
‘atilīnavīriyaṁ kho me udapādi, atilīnavīriyādhikaraṇañca pana me samādhi cavi.
Samādhimhi cute obhāso antaradhāyati dassanañca rūpānaṁ.
Seyyathāpi, anuruddhā, puriso vaṭṭakaṁ sithilaṁ gaṇheyya, so tassa hatthato uppateyya;
evameva kho me, anuruddhā, atilīnavīriyaṁ udapādi, atilīnavīriyādhikaraṇañca pana me samādhi cavi.
Samādhimhi cute obhāso antaradhāyati dassanañca rūpānaṁ.
Sohaṁ tathā karissāmi yathā me puna na vicikicchā uppajjissati, na amanasikāro, na thinamiddhaṁ, na chambhitattaṁ, na uppilaṁ, na duṭṭhullaṁ, na accāraddhavīriyaṁ, na atilīnavīriyan’ti.
So kho ahaṁ, anuruddhā …pe…
tassa mayhaṁ, anuruddhā, etadahosi:
‘abhijappā kho me udapādi, abhijappādhikaraṇañca pana me samādhi cavi.
Samādhimhi cute obhāso antaradhāyati dassanañca rūpānaṁ.
Sohaṁ tathā karissāmi yathā me puna na vicikicchā uppajjissati, na amanasikāro, na thinamiddhaṁ, na chambhitattaṁ, na uppilaṁ, na duṭṭhullaṁ, na accāraddhavīriyaṁ, na atilīnavīriyaṁ, na abhijappā’ti.
So kho ahaṁ, anuruddhā …pe…
tassa mayhaṁ, anuruddhā, etadahosi:
‘nānattasaññā kho me udapādi, nānattasaññādhikaraṇañca pana me samādhi cavi.
Samādhimhi cute obhāso antaradhāyati dassanañca rūpānaṁ.
Sohaṁ tathā karissāmi yathā me puna na vicikicchā uppajjissati, na amanasikāro, na thinamiddhaṁ, na chambhitattaṁ, na uppilaṁ, na duṭṭhullaṁ, na accāraddhavīriyaṁ, na atilīnavīriyaṁ, na abhijappā, na nānattasaññā’ti.
So kho ahaṁ, anuruddhā, appamatto ātāpī pahitatto viharanto obhāsañceva sañjānāmi dassanañca rūpānaṁ.
So kho pana me obhāso nacirasseva antaradhāyati dassanañca rūpānaṁ.
Tassa mayhaṁ anuruddhā etadahosi:
‘ko nu kho hetu ko paccayo yena me obhāso antaradhāyati dassanañca rūpānan’ti.
Tassa mayhaṁ, anuruddhā, etadahosi:
‘atinijjhāyitattaṁ kho me rūpānaṁ udapādi, atinijjhāyitattādhikaraṇañca pana me rūpānaṁ samādhi cavi.
Samādhimhi cute obhāso antaradhāyati dassanañca rūpānaṁ.
Sohaṁ tathā karissāmi yathā me puna na vicikicchā uppajjissati, na amanasikāro, na thinamiddhaṁ, na chambhitattaṁ, na uppilaṁ, na duṭṭhullaṁ, na accāraddhavīriyaṁ, na atilīnavīriyaṁ, na abhijappā, na nānattasaññā, na atinijjhāyitattaṁ rūpānan’ti.
So kho ahaṁ, anuruddhā, ‘vicikicchā cittassa upakkileso’ti—iti viditvā vicikicchaṁ cittassa upakkilesaṁ pajahiṁ,
‘amanasikāro cittassa upakkileso’ti—iti viditvā amanasikāraṁ cittassa upakkilesaṁ pajahiṁ,
‘thinamiddhaṁ cittassa upakkileso’ti—iti viditvā thinamiddhaṁ cittassa upakkilesaṁ pajahiṁ,
‘chambhitattaṁ cittassa upakkileso’ti—iti viditvā chambhitattaṁ cittassa upakkilesaṁ pajahiṁ,
‘uppilaṁ cittassa upakkileso’ti—iti viditvā uppilaṁ cittassa upakkilesaṁ pajahiṁ,
‘duṭṭhullaṁ cittassa upakkileso’ti—iti viditvā duṭṭhullaṁ cittassa upakkilesaṁ pajahiṁ,
‘accāraddhavīriyaṁ cittassa upakkileso’ti—iti viditvā accāraddhavīriyaṁ cittassa upakkilesaṁ pajahiṁ,
‘atilīnavīriyaṁ cittassa upakkileso’ti—iti viditvā atilīnavīriyaṁ cittassa upakkilesaṁ pajahiṁ,
‘abhijappā cittassa upakkileso’ti—iti viditvā abhijappaṁ cittassa upakkilesaṁ pajahiṁ,
‘nānattasaññā cittassa upakkileso’ti—iti viditvā nānattasaññaṁ cittassa upakkilesaṁ pajahiṁ,
‘atinijjhāyitattaṁ rūpānaṁ cittassa upakkileso’ti—iti viditvā atinijjhāyitattaṁ rūpānaṁ cittassa upakkilesaṁ pajahiṁ.
So kho ahaṁ, anuruddhā, appamatto ātāpī pahitatto viharanto obhāsañhi kho sañjānāmi, na ca rūpāni passāmi;
rūpāni hi kho passāmi, na ca obhāsaṁ sañjānāmi:
‘kevalampi rattiṁ, kevalampi divaṁ, kevalampi rattindivaṁ’.
Tassa mayhaṁ, anuruddhā, etadahosi:
‘ko nu kho hetu ko paccayo yvāhaṁ obhāsañhi kho sañjānāmi na ca rūpāni passāmi;
rūpāni hi kho passāmi na ca obhāsaṁ sañjānāmi—
kevalampi rattiṁ, kevalampi divaṁ, kevalampi rattindivan’ti.
Tassa mayhaṁ, anuruddhā, etadahosi:
‘yasmiñhi kho ahaṁ samaye rūpanimittaṁ amanasikaritvā obhāsanimittaṁ manasi karomi, obhāsañhi kho tasmiṁ samaye sañjānāmi, na ca rūpāni passāmi.
Yasmiṁ panāhaṁ samaye obhāsanimittaṁ amanasikaritvā rūpanimittaṁ manasi karomi, rūpāni hi kho tasmiṁ samaye passāmi na ca obhāsaṁ sañjānāmi—
kevalampi rattiṁ, kevalampi divaṁ, kevalampi rattindivan’ti.
So kho ahaṁ, anuruddhā, appamatto ātāpī pahitatto viharanto parittañceva obhāsaṁ sañjānāmi, parittāni ca rūpāni passāmi;
appamāṇañceva obhāsaṁ sañjānāmi, appamāṇāni ca rūpāni passāmi:
‘kevalampi rattiṁ, kevalampi divaṁ, kevalampi rattindivaṁ’.
Tassa mayhaṁ, anuruddhā, etadahosi:
‘ko nu kho hetu ko paccayo yvāhaṁ parittañceva obhāsaṁ sañjānāmi, parittāni ca rūpāni passāmi;
appamāṇañceva obhāsaṁ sañjānāmi, appamāṇāni ca rūpāni passāmi—
kevalampi rattiṁ, kevalampi divaṁ, kevalampi rattindivan’ti.
Tassa mayhaṁ, anuruddhā, etadahosi:
‘yasmiṁ kho me samaye paritto samādhi hoti, parittaṁ me tasmiṁ samaye cakkhu hoti.
Sohaṁ parittena cakkhunā parittañceva obhāsaṁ sañjānāmi, parittāni ca rūpāni passāmi.
Yasmiṁ pana me samaye appamāṇo samādhi hoti, appamāṇaṁ me tasmiṁ samaye cakkhu hoti.
Sohaṁ appamāṇena cakkhunā appamāṇañceva obhāsaṁ sañjānāmi, appamāṇāni ca rūpāni passāmi—
kevalampi rattiṁ, kevalampi divaṁ, kevalampi rattindivan’ti.
Yato kho me, anuruddhā, ‘vicikicchā cittassa upakkileso’ti—iti viditvā vicikicchā cittassa upakkileso pahīno ahosi,
‘amanasikāro cittassa upakkileso’ti—iti viditvā amanasikāro cittassa upakkileso pahīno ahosi,
‘thinamiddhaṁ cittassa upakkileso’ti—iti viditvā thinamiddhaṁ cittassa upakkileso pahīno ahosi,
‘chambhitattaṁ cittassa upakkileso’ti—iti viditvā chambhitattaṁ cittassa upakkileso pahīno ahosi,
‘uppilaṁ cittassa upakkileso’ti—iti viditvā uppilaṁ cittassa upakkileso pahīno ahosi,
‘duṭṭhullaṁ cittassa upakkileso’ti—iti viditvā duṭṭhullaṁ cittassa upakkileso pahīno ahosi,
‘accāraddhavīriyaṁ cittassa upakkileso’ti—iti viditvā accāraddhavīriyaṁ cittassa upakkileso pahīno ahosi,
‘atilīnavīriyaṁ cittassa upakkileso’ti—iti viditvā atilīnavīriyaṁ cittassa upakkileso pahīno ahosi,
‘abhijappā cittassa upakkileso’ti—iti viditvā abhijappā cittassa upakkileso pahīno ahosi,
‘nānattasaññā cittassa upakkileso’ti—iti viditvā nānattasaññā cittassa upakkileso pahīno ahosi,
‘atinijjhāyitattaṁ rūpānaṁ cittassa upakkileso’ti—iti viditvā atinijjhāyitattaṁ rūpānaṁ cittassa upakkileso pahīno ahosi.
Tassa mayhaṁ, anuruddhā, etadahosi:
‘ye kho me cittassa upakkilesā te me pahīnā.
Handa dānāhaṁ tividhena samādhiṁ bhāvemī’ti.
So kho ahaṁ, anuruddhā, savitakkampi savicāraṁ samādhiṁ bhāvesiṁ, avitakkampi vicāramattaṁ samādhiṁ bhāvesiṁ, avitakkampi avicāraṁ samādhiṁ bhāvesiṁ, sappītikampi samādhiṁ bhāvesiṁ, nippītikampi samādhiṁ bhāvesiṁ, sātasahagatampi samādhiṁ bhāvesiṁ, upekkhāsahagatampi samādhiṁ bhāvesiṁ.
Yato kho me, anuruddhā, savitakkopi savicāro samādhi bhāvito ahosi, avitakkopi vicāramatto samādhi bhāvito ahosi, avitakkopi avicāro samādhi bhāvito ahosi, sappītikopi samādhi bhāvito ahosi, nippītikopi samādhi bhāvito ahosi, sātasahagatopi samādhi bhāvito ahosi, upekkhāsahagatopi samādhi bhāvito ahosi.
Ñāṇañca pana me dassanaṁ udapādi,
akuppā me cetovimutti. Ayamantimā jāti, natthi dāni punabbhavo”ti.
Idamavoca bhagavā.
Attamano āyasmā anuruddho bhagavato bhāsitaṁ abhinandīti.
Upakkilesasuttaṁ niṭṭhitaṁ aṭṭhamaṁ.