Như vầy tôi nghe.
SC 1Một thời Thế Tôn ở Sāvatthi (Xá-vệ), tại Jetavana (Kỳ-đà Lâm), vườn ông Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Ðộc). Lúc bấy giờ Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: “Này các Tỷ-kheo”.:” Bạch Thế Tôn”, các vị Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau
SC 2—Này các Tỷ-kheo, như một tấm vải cấu uế, nhiễm bụi, một người thợ nhuộm nhúng tấm vải ấy vào thuốc nhuộm này hay thuốc nhuộm khác—hoặc xanh, hoặc vàng, hoặc đỏ, hoặc tía—vải ấy sẽ được màu nhuộm không tốt đẹp, sẽ được màu nhuộm không sạch sẽ. Vì sao vậy? Này các Tỷ-kheo, vì tấm vải không được trong sạch. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, cõi ác chờ đợi một tâm cấu uế. Này các Tỷ-kheo, như một tấm vải thanh tịnh, trong sạch, một người thợ nhuộm nhúng tấm vải ấy vào thuốc nhuộm này hay thuốc nhuộm khác—hoặc xanh, hoặc vàng, hoặc đỏ, hoặc tía, vải ấy sẽ được màu nhuộm tốt đẹp, sẽ được màu nhuộm sạch sẽ. Vì sao vậy? Này các Tỷ-kheo, vì tấm vải được trong sạch. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, cõi thiện chờ đợi một tâm không cấu uế.
SC 3Và này các Tỷ-kheo, thế nào là những cấu uế của tâm? Tham dục, tà tham là cấu uế của tâm, sân là cấu uế của tâm, phẫn là cấu uế của tâm, hận là cấu uế của tâm, hư ngụy, não hại, tật đố, xan tham, man trá, khi cuống, ngoan cố, cấp tháo, quá mạn, kiêu, phóng dật là cấu uế của tâm.
SC 4Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào nghĩ rằng: “Tham dục, tà tham là cấu uế của tâm” và sau khi biết vậy, vị ấy đoạn trừ tham dục, tà tham cấu uế của tâm; nghĩ rằng: “Sân là cấu uế của tâm”, và sau khi biết vậy, vị ấy đoạn trừ sân, cấu uế của tâm; phẫn … hận … hư ngụy … não hại, tật đố, xan tham, man trá, khi cuống … ngoan cố … cấp tháo … mạn … quá mạn … kiêu; nghĩ rằng: “Phóng dật là cấu uế của tâm” thì sau khi biết vậy, vị ấy đoạn trừ phóng dật, cấu uế của tâm.
SC 5Này các Tỷ-kheo, khi nào Tỷ-kheo biết được: “Tham dục, tà tham là cấu uế của tâm”, tham dục, tà tham cấu uế của tâm được diệt trừ, … sân … phẫn … hận … hư ngụy … não hại … tật đố … xan tham … man trá … khi cuống … ngoan cố … cấp tháo … mạn … quá mạn … kiêu; khi nào Tỷ-kheo biết được: “Phóng dật là cấu uế của tâm”, phóng dật, cấu uế của tâm được diệt trừ, Tỷ-kheo ấy thành tựu lòng tin tuyệt đối đối với Phật: Ngài là bậc Thế Tôn, A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Ðiều Ngự Trượng Phu, Vô Thượng Sĩ, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn.
SC 6Vị ấy thành tựu lòng tin tuyệt đối đối với Pháp: Pháp được Thế Tôn khéo thuyết giảng, thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người có trí chứng hiểu.
SC 7Vị ấy thành tựu lòng tin tuyệt đối đối với chúng Tăng: Diệu hạnh là chúng Tăng, đệ tử Thế Tôn; Trực hạnh là chúng Tăng, đệ tử Thế Tôn; Như lý hạnh là chúng Tăng, đệ tử Thế Tôn; Chánh hạnh là chúng Tăng, đệ tử Thế Tôn. Tức là bốn đôi tám vị. Chúng Tăng, đệ tử Thế Tôn, đáng được cung kính, đáng được tôn trọng, đáng được cúng dường, đáng được chắp tay, là phước điền vô thượng ở đời.
SC 8Ðến giai đoạn này, đối với vị ấy có sự từ bỏ, có sự diệt trừ, có sự giải thoát, có sự đoạn trừ, có sự xả ly. Vị ấy tự nghĩ: “Ta thành tựu lòng tin tuyệt đối đối với Thế Tôn”, và chứng được nghĩa tín thọ, chứng được pháp tín thọ, chứng được hân hoan liên hệ đến pháp; từ hân hoan, hỷ sanh; từ hỷ, thân được khinh an; thân khinh an, cảm giác được lạc thọ; với lạc thọ, tâm được Thiền định.
SC 9Vị ấy tự nghĩ: “Ta thành tựu lòng tin tuyệt đối đối với Pháp”, và chứng được nghĩa tín thọ, chứng được pháp tín thọ, chứng được hân hoan liên hệ đến pháp; từ hân hoan, hỷ sanh; từ hỷ, thân được khinh an; thân khinh an, cảm giác được lạc thọ; với lạc thọ, tâm được Thiền định.
SC 10Vị ấy tự nghĩ: “Ta thành tựu lòng tin tuyệt đối đối với Tăng”, và chứng được nghĩa tín thọ, chứng được pháp tín thọ, chứng được hân hoan liên hệ đến pháp; từ hân hoan hỷ sanh; từ hỷ, thân được khinh an, thân khinh an, cảm giác được lạc thọ; với lạc thọ, tâm được Thiền định.
SC 11Vị ấy tự nghĩ: “Ðến giai đoạn này, đối với Ta, có sự từ bỏ, có sự diệt trừ, có sự giải thoát, có sự đoạn trừ, có sự xả ly”, và chứng được nghĩa tín thọ, chứng được pháp tín thọ, chứng được hân hoan liên hệ đến pháp; từ hân hoan, hỷ sanh; từ hỷ, thân khinh an; thân khinh an, cảm giác được lạc thọ; với lạc thọ, tâm được Thiền định.
SC 12Này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo, giới như vậy, pháp như vậy, tuệ như vậy—nếu có ăn đồ khất thực với gạo thơm, hạt đen được vất đi, với các món canh, với các món ăn khác cũng không vì vậy trở thành một chướng ngại cho vị ấy. Này các Tỷ-kheo, như một tấm vải cấu uế, nhiễm bụi, nếu bỏ trong nước sạch, trở thành thanh tịnh sạch sẽ, như bỏ vào lò lửa trở thành thanh tịnh sạch sẽ. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, một Tỷ-kheo, giới như vậy, pháp như vậy, tuệ như vậy—nếu có ăn đồ khất thực với gạo thơm, hạt đen được vất đi, với các món canh, với các món ăn khác, cũng không vì vậy trở thành một chướng ngại cho vị ấy.
SC 13Vị ấy an trú, biến mãn một phương với tâm câu hữu với từ, cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như vậy, cùng khắp thế giới, trên dưới bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy an trú biến mãn với tâm câu hữu với từ, quảng đại, vô biên, không hận, không sân.
SC 14Vị ấy an trú, biến mãn một phương với tâm câu hữu với bi … (như trên) … với tâm câu hữu với hỷ … (như trên) … biến mãn một phương với tâm câu hữu với xả, cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như vậy, cùng khắp thế giới, trên dưới bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy an trú biến mãn với tâm câu hữu với xả, quảng đại vô biên, không hận, không sân.
SC 15Vị ấy biết: “Có cái này, có cái hạ liệt, có cái cao thượng, có sự giải thoát vượt qua các tưởng”.
SC 16Do vị ấy biết như vậy, thấy như vậy, tâm được giải thoát khỏi dục lậu, tâm được giải thoát khỏi hữu lậu, tâm được giải thoát khỏi vô minh lậu. Ðối với tự thân đã giải thoát, trí khởi lên: “Ta đã giải thoát, sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy được gọi là Tỷ-kheo đã được tắm rửa với sự tắm rửa nội tâm.
SC 17Lúc bấy giờ, Bà-la-môn Sundarika Bhāradvāja đang ngồi không xa Thế Tôn. Rồi Bà-la-môn Sundarika Bhāradvāja bạch Thế Tôn
SC 18—Tôn giả Gotama có đi đến sông Bahuka để tắm rửa không?
SC 19—Này Bà-la-môn, sông Bahuka là gì? Sông Bahuka có làm được lợi ích gì?
SC 20—Tôn giả Gotama, sông Bahuka được nhiều người xem là có khả năng giải thoát. Tôn giả Gotama, sông Bahuka được nhiều người xem là có khả năng đem lại công đức. Và nhiều người đã gội sạch các ác nghiệp trong sông Bahuka.
SC 21Rồi Thế Tôn nói lên những bài kệ sau đây cho Bà-la-môn Sundarika Bhāradvāja:
SC 22Trong sông Bàhukà
Tại Adhikakkà,
Tại cả sông Gayà
Và Sundarikà,
Tại Sarassatì
Và tại Payàna,
Tại Bàhumatì,
Kẻ ngu dầu thường tắm,
Ác nghiệp không rửa sạch.
SC 23Sông Sundarikà
Có thể làm được gì?
Payàga làm gì?
Cả sông Bàhukà?
Không thể rửa nghiệp đen
Của kẻ ác gây tội.
SC 24Ðối kẻ sống thanh tịnh,
Ngày nào cũng ngày tốt,
Với kẻ sống thanh tịnh,
Ngày nào cũng ngày lành,
SC 25Các tịnh nghiệp thanh tịnh,
Luôn thành tựu thiện hạnh.
Này vị Bà-la-môn,
Chỉ nên tắm ở đây,
Khiến mọi loài chúng sanh,
Ðược sống trong an ổn.
Nếu không nói dối trá,
Nếu không hại chúng sanh,
Không lấy của không cho,
Có lòng tín, không tham,
Ði Gayà làm gì,
Gayà một giếng nước?
SC 26Khi được nghe nói vậy, Bà-la-môn Sundarika Bhāradvāja bạch Thế Tôn
SC 27—Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Tôn giả Gotama, như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho kẻ bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối, để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy Chánh pháp đã được Tôn giả Gotama dùng nhiều phương tiện trình bày. Nay con quy y Tôn giả Gotama, quy y Pháp và quy y Tăng. Mong con được xuất gia với Tôn giả Gotama! Mong con được thọ đại giới!
SC 28Bà-la-môn Sundarika Bhāradvāja được xuất gia với Thế Tôn, được thọ đại giới. Trong thời gian ngắn sau khi thọ đại giới, Tôn giả Bhāradvāja sống độc cư, không phóng dật, nhiệt tâm tinh cần và không bao lâu sau khi tự thân chứng ngộ với thượng trí, chứng đắc và an trú ngay trong hiện tại, vô thượng cứu cánh Phạm hạnh mà vì mục đích này các Thiện nam tử xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Vị ấy đã thắng tri: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”. Như vậy, Tôn giả Bhāradvāja trở thành một vị A-la-hán nữa.
Evaṁ me sutaṁ—
ekaṁ samayaṁ bhagavā sāvatthiyaṁ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme.
Tatra kho bhagavā bhikkhū āmantesi:
“bhikkhavo”ti.
“Bhadante”ti te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ.
Bhagavā etadavoca:
“Seyyathāpi, bhikkhave, vatthaṁ saṅkiliṭṭhaṁ malaggahitaṁ;
tamenaṁ rajako yasmiṁ yasmiṁ raṅgajāte upasaṁhareyya—yadi nīlakāya yadi pītakāya yadi lohitakāya yadi mañjiṭṭhakāya durattavaṇṇamevassa aparisuddhavaṇṇamevassa.
Taṁ kissa hetu?
Aparisuddhattā, bhikkhave, vatthassa.
Evameva kho, bhikkhave, citte saṅkiliṭṭhe, duggati pāṭikaṅkhā.
Seyyathāpi, bhikkhave, vatthaṁ parisuddhaṁ pariyodātaṁ;
tamenaṁ rajako yasmiṁ yasmiṁ raṅgajāte upasaṁhareyya—yadi nīlakāya yadi pītakāya yadi lohitakāya yadi mañjiṭṭhakāya—surattavaṇṇamevassa parisuddhavaṇṇamevassa.
Taṁ kissa hetu?
Parisuddhattā, bhikkhave, vatthassa.
Evameva kho, bhikkhave, citte asaṅkiliṭṭhe, sugati pāṭikaṅkhā.
Katame ca, bhikkhave, cittassa upakkilesā?
Abhijjhāvisamalobho cittassa upakkileso, byāpādo cittassa upakkileso, kodho cittassa upakkileso, upanāho cittassa upakkileso, makkho cittassa upakkileso, paḷāso cittassa upakkileso, issā cittassa upakkileso, macchariyaṁ cittassa upakkileso, māyā cittassa upakkileso, sāṭheyyaṁ cittassa upakkileso, thambho cittassa upakkileso, sārambho cittassa upakkileso, māno cittassa upakkileso, atimāno cittassa upakkileso, mado cittassa upakkileso, pamādo cittassa upakkileso.
Sa kho so, bhikkhave, bhikkhu ‘abhijjhāvisamalobho cittassa upakkileso’ti—iti viditvā abhijjhāvisamalobhaṁ cittassa upakkilesaṁ pajahati;
‘byāpādo cittassa upakkileso’ti—
iti viditvā byāpādaṁ cittassa upakkilesaṁ pajahati;
‘kodho cittassa upakkileso’ti—
iti viditvā kodhaṁ cittassa upakkilesaṁ pajahati;
‘upanāho cittassa upakkileso’ti—
iti viditvā upanāhaṁ cittassa upakkilesaṁ pajahati;
‘makkho cittassa upakkileso’ti—
iti viditvā makkhaṁ cittassa upakkilesaṁ pajahati;
‘paḷāso cittassa upakkileso’ti—
iti viditvā paḷāsaṁ cittassa upakkilesaṁ pajahati;
‘issā cittassa upakkileso’ti—
iti viditvā issaṁ cittassa upakkilesaṁ pajahati;
‘macchariyaṁ cittassa upakkileso’ti—
iti viditvā macchariyaṁ cittassa upakkilesaṁ pajahati;
‘māyā cittassa upakkileso’ti—
iti viditvā māyaṁ cittassa upakkilesaṁ pajahati;
‘sāṭheyyaṁ cittassa upakkileso’ti—
iti viditvā sāṭheyyaṁ cittassa upakkilesaṁ pajahati;
‘thambho cittassa upakkileso’ti—
iti viditvā thambhaṁ cittassa upakkilesaṁ pajahati;
‘sārambho cittassa upakkileso’ti—
iti viditvā sārambhaṁ cittassa upakkilesaṁ pajahati;
‘māno cittassa upakkileso’ti—
iti viditvā mānaṁ cittassa upakkilesaṁ pajahati;
‘atimāno cittassa upakkileso’ti—
iti viditvā atimānaṁ cittassa upakkilesaṁ pajahati;
‘mado cittassa upakkileso’ti—
iti viditvā madaṁ cittassa upakkilesaṁ pajahati;
‘pamādo cittassa upakkileso’ti—
iti viditvā pamādaṁ cittassa upakkilesaṁ pajahati.
Yato kho, bhikkhave, bhikkhuno ‘abhijjhāvisamalobho cittassa upakkileso’ti—iti viditvā abhijjhāvisamalobho cittassa upakkileso pahīno hoti,
‘byāpādo cittassa upakkileso’ti—
iti viditvā byāpādo cittassa upakkileso pahīno hoti;
‘kodho cittassa upakkileso’ti—
iti viditvā kodho cittassa upakkileso pahīno hoti;
‘upanāho cittassa upakkileso’ti—
iti viditvā upanāho cittassa upakkileso pahīno hoti;
‘makkho cittassa upakkileso’ti—
iti viditvā makkho cittassa upakkileso pahīno hoti;
‘paḷāso cittassa upakkileso’ti—
iti viditvā paḷāso cittassa upakkileso pahīno hoti;
‘issā cittassa upakkileso’ti—
iti viditvā issā cittassa upakkileso pahīno hoti;
‘macchariyaṁ cittassa upakkileso’ti—
iti viditvā macchariyaṁ cittassa upakkileso pahīno hoti;
‘māyā cittassa upakkileso’ti—
iti viditvā māyā cittassa upakkileso pahīno hoti;
‘sāṭheyyaṁ cittassa upakkileso’ti—
iti viditvā sāṭheyyaṁ cittassa upakkileso pahīno hoti;
‘thambho cittassa upakkileso’ti—
iti viditvā thambho cittassa upakkileso pahīno hoti;
‘sārambho cittassa upakkileso’ti—
iti viditvā sārambho cittassa upakkileso pahīno hoti;
‘māno cittassa upakkileso’ti—
iti viditvā māno cittassa upakkileso pahīno hoti;
‘atimāno cittassa upakkileso’ti—
iti viditvā atimāno cittassa upakkileso pahīno hoti;
‘mado cittassa upakkileso’ti—
iti viditvā mado cittassa upakkileso pahīno hoti;
‘pamādo cittassa upakkileso’ti—
iti viditvā pamādo cittassa upakkileso pahīno hoti.
So buddhe aveccappasādena samannāgato hoti:
‘itipi so bhagavā arahaṁ sammāsambuddho vijjācaraṇasampanno sugato lokavidū anuttaro purisadammasārathi satthā devamanussānaṁ buddho bhagavā’ti;
dhamme aveccappasādena samannāgato hoti:
‘svākkhāto bhagavatā dhammo sandiṭṭhiko akāliko ehipassiko opaneyyiko paccattaṁ veditabbo viññūhī’ti;
saṅghe aveccappasādena samannāgato hoti:
‘suppaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho, ujuppaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho, ñāyappaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho, sāmīcippaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho, yadidaṁ cattāri purisayugāni, aṭṭha purisapuggalā. Esa bhagavato sāvakasaṅgho āhuneyyo pāhuneyyo dakkhiṇeyyo añjalikaraṇīyo, anuttaraṁ puññakkhettaṁ lokassā’ti.
Yathodhi kho panassa cattaṁ hoti vantaṁ muttaṁ pahīnaṁ paṭinissaṭṭhaṁ, so ‘buddhe aveccappasādena samannāgatomhī’ti labhati atthavedaṁ, labhati dhammavedaṁ, labhati dhammūpasaṁhitaṁ pāmojjaṁ.
Pamuditassa pīti jāyati, pītimanassa kāyo passambhati, passaddhakāyo sukhaṁ vedeti, sukhino cittaṁ samādhiyati;
‘dhamme …pe…
saṅghe aveccappasādena samannāgatomhī’ti labhati atthavedaṁ, labhati dhammavedaṁ, labhati dhammūpasaṁhitaṁ pāmojjaṁ;
pamuditassa pīti jāyati, pītimanassa kāyo passambhati, passaddhakāyo sukhaṁ vedeti, sukhino cittaṁ samādhiyati.
‘Yathodhi kho pana me cattaṁ vantaṁ muttaṁ pahīnaṁ paṭinissaṭṭhan’ti labhati atthavedaṁ, labhati dhammavedaṁ, labhati dhammūpasaṁhitaṁ pāmojjaṁ;
pamuditassa pīti jāyati, pītimanassa kāyo passambhati, passaddhakāyo sukhaṁ vedeti, sukhino cittaṁ samādhiyati.
Sa kho so, bhikkhave, bhikkhu evaṁsīlo evaṁdhammo evaṁpañño sālīnañcepi piṇḍapātaṁ bhuñjati vicitakāḷakaṁ anekasūpaṁ anekabyañjanaṁ, nevassa taṁ hoti antarāyāya.
Seyyathāpi, bhikkhave, vatthaṁ saṅkiliṭṭhaṁ malaggahitaṁ acchodakaṁ āgamma parisuddhaṁ hoti pariyodātaṁ, ukkāmukhaṁ vā panāgamma jātarūpaṁ parisuddhaṁ hoti pariyodātaṁ;
evameva kho, bhikkhave, bhikkhu evaṁsīlo evaṁdhammo evaṁpañño sālīnañcepi piṇḍapātaṁ bhuñjati vicitakāḷakaṁ anekasūpaṁ anekabyañjanaṁ, nevassa taṁ hoti antarāyāya.
So mettāsahagatena cetasā ekaṁ disaṁ pharitvā viharati, tathā dutiyaṁ, tathā tatiyaṁ, tathā catutthaṁ. Iti uddhamadho tiriyaṁ sabbadhi sabbattatāya sabbāvantaṁ lokaṁ mettāsahagatena cetasā vipulena mahaggatena appamāṇena averena abyāpajjena pharitvā viharati;
karuṇāsahagatena cetasā …pe…
muditāsahagatena cetasā …pe…
upekkhāsahagatena cetasā ekaṁ disaṁ pharitvā viharati, tathā dutiyaṁ, tathā tatiyaṁ, tathā catutthaṁ. Iti uddhamadho tiriyaṁ sabbadhi sabbattatāya sabbāvantaṁ lokaṁ upekkhāsahagatena cetasā vipulena mahaggatena appamāṇena averena abyāpajjena pharitvā viharati.
So ‘atthi idaṁ, atthi hīnaṁ, atthi paṇītaṁ, atthi imassa saññāgatassa uttari nissaraṇan’ti pajānāti.
Tassa evaṁ jānato evaṁ passato kāmāsavāpi cittaṁ vimuccati, bhavāsavāpi cittaṁ vimuccati, avijjāsavāpi cittaṁ vimuccati.
Vimuttasmiṁ vimuttamiti ñāṇaṁ hoti.
‘Khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyā’ti pajānāti.
Ayaṁ vuccati, bhikkhave:
‘bhikkhu sināto antarena sinānenā’”ti.
Tena kho pana samayena sundarikabhāradvājo brāhmaṇo bhagavato avidūre nisinno hoti.
Atha kho sundarikabhāradvājo brāhmaṇo bhagavantaṁ etadavoca:
“gacchati pana bhavaṁ gotamo bāhukaṁ nadiṁ sināyitun”ti?
“Kiṁ, brāhmaṇa, bāhukāya nadiyā?
Kiṁ bāhukā nadī karissatī”ti?
“Lokkhasammatā hi, bho gotama, bāhukā nadī bahujanassa, puññasammatā hi, bho gotama, bāhukā nadī bahujanassa, bāhukāya pana nadiyā bahujano pāpakammaṁ kataṁ pavāhetī”ti.
Atha kho bhagavā sundarikabhāradvājaṁ brāhmaṇaṁ gāthāhi ajjhabhāsi:
“Bāhukaṁ adhikakkañca,
gayaṁ sundarikaṁ mapi;
Sarassatiṁ payāgañca,
atho bāhumatiṁ nadiṁ;
Niccampi bālo pakkhando,
kaṇhakammo na sujjhati.
Kiṁ sundarikā karissati,
Kiṁ payāgā kiṁ bāhukā nadī;
Veriṁ katakibbisaṁ naraṁ,
Na hi naṁ sodhaye pāpakamminaṁ.
Suddhassa ve sadā phaggu,
Suddhassuposatho sadā;
Suddhassa sucikammassa,
Sadā sampajjate vataṁ;
Idheva sināhi brāhmaṇa,
Sabbabhūtesu karohi khemataṁ.
Sace musā na bhaṇasi,
sace pāṇaṁ na hiṁsasi;
Sace adinnaṁ nādiyasi,
saddahāno amaccharī;
Kiṁ kāhasi gayaṁ gantvā,
udapānopi te gayā”ti.
Evaṁ vutte, sundarikabhāradvājo brāhmaṇo bhagavantaṁ etadavoca:
“abhikkantaṁ, bho gotama, abhikkantaṁ, bho gotama.
Seyyathāpi, bho gotama, nikkujjitaṁ vā ukkujjeyya, paṭicchannaṁ vā vivareyya, mūḷhassa vā maggaṁ ācikkheyya, andhakāre vā telapajjotaṁ dhāreyya—cakkhumanto rūpāni dakkhantīti; evamevaṁ bhotā gotamena anekapariyāyena dhammo pakāsito.
Esāhaṁ bhavantaṁ gotamaṁ saraṇaṁ gacchāmi dhammañca bhikkhusaṅghañca.
Labheyyāhaṁ bhoto gotamassa santike pabbajjaṁ, labheyyaṁ upasampadan”ti.
Alattha kho sundarikabhāradvājo brāhmaṇo bhagavato santike pabbajjaṁ, alattha upasampadaṁ.
Acirūpasampanno kho panāyasmā bhāradvājo eko vūpakaṭṭho appamatto ātāpī pahitatto viharanto nacirasseva—yassatthāya kulaputtā sammadeva agārasmā anagāriyaṁ pabbajanti, tadanuttaraṁ—brahmacariyapariyosānaṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja vihāsi.
“Khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyā”ti abbhaññāsi.
Aññataro kho panāyasmā bhāradvājo arahataṁ ahosīti.
Vatthasuttaṁ niṭṭhitaṁ sattamaṁ.
SC 1Thus have I heard. On one occasion the Blessed One was living at Sāvatthi, at Jeta‘s Grove, in Anāthapiṇḍika‘s Park. There the Blessed One addressed the monks: “Monks!” “Auspicious sir,” those monks replied to the Blessed One. The Blessed One said this:
SC 2“Monks, when cloth is defiled and dirty, then no matter what kind of dye you use – whether it is blue, yellow, red, or crimson – it will appear poorly dyed and the color will not be pure. For what reason? Monks, because of the impurity of the cloth. In the same way, monks, when the mind is defiled, a bad result is expected.
SC 3“Monks, when cloth is completely pure and clean, then no matter what kind of dye you use – whether it is blue, yellow, red, or crimson – it will appear well-dyed and the color will be pure. For what reason? Monks, because of the purity of the cloth. In the same way, monks, when the mind is not defiled, a good result is expected.
SC 4“Monks, what are the defilements of the mind? Covetous deviant1 greed is a defilement of the mind. Aversion… anger… resentment… deprecation… malice… jealousy… stinginess… fraudulence… deceitfulness… stubbornness… hostility… conceit… arrogance… pride… negligence is a defilement of the mind.
SC 5“Monks, when a monk has recognized that covetous deviant greed is a defilement of the mind, he abandons it. When he has recognized that aversion… anger… resentment… deprecation… malice… jealousy… stinginess… fraudulence… deceitfulness… stubbornness… hostility… conceit… arrogance… pride… negligence is a defilement of the mind, he abandons it.
SC 6“Monks, when a monk has recognized that covetous deviant greed is a defilement of the mind and has abandoned it, when he has recognized that aversion… anger… resentment… deprecation… malice… jealousy… stinginess… fraudulence… deceitfulness… stubbornness… hostility… conceit… arrogance… pride… negligence is a defilement of the mind and has abandoned it, then he has unwavering2 confidence in the Buddha: ‘He is the Blessed One, the Arahant, the Fully Self-Awakened One, perfect in knowledge and conduct, sublime, the world-knower, the unsurpassable trainer of trainable people, the teacher of celestial and human beings, the Buddha, the Blessed One.’ He has unwavering confidence in the Dhamma: ‘The Blessed One‘s Dhamma is well-expounded, visible, timeless, tangible, a guide3, personally experiencable by the wise.’ He has unwavering confidence in the Saṅgha: ‘The Saṅgha of the Blessed One‘s disciples that has practiced well, that has practiced honorably4, that has practiced methodically, that has practiced appropriately – that is, the four pairs, the eight kinds of individuals: this is the Saṅgha of the Blessed One‘s disciples, which is worthy of support, worthy of hospitality, worthy of generosity, and respectable – an unsurpassable field of merit for the world.’
SC 7“When there is discarding, rejecting, releasing, abandoning, and relinquishing to this extent, then with the thought ‘I have unwavering confidence in the Buddha… Dhamma… Saṅgha,’ one acquires knowledge of the meaning, knowledge of the Dhamma, and joy connected with Dhamma. When one is joyful, rapture arises. When one has a rapturous mind, the body becomes tranquil. One who has a tranquil body experiences happiness. When one is happy, the mind becomes concentrated.
SC 8“With the thought ‘There is discarding, rejecting, releasing, abandoning, and relinquishing to this extent,’ one acquires knowledge of the meaning, knowledge of the Dhamma, and joy connected with Dhamma. When one is joyful, rapture arises. When one has a rapturous mind, the body becomes tranquil. One who has a tranquil body experiences happiness. When one is happy, the mind becomes concentrated.
SC 9“Monks, if a monk has this virtue, this teaching, and this wisdom, then even if he eats refined almsfood with many sauces and condiments, it is not an impediment for him. Monks, just as when a defiled and dirty cloth enters clear water it becomes completely pure and clean, or when gold enters a furnace it becomes completely pure and clean, in the same way, monks, if a monk has this virtue, this teaching, and this wisdom, then even if he eats refined almsfood with many sauces and condiments, it is not an impediment for him.
SC 10“He dwells having pervaded one direction with a mind endowed with loving-kindness – likewise the second, the third, and the fourth.5 So above, below, around, and everywhere, to all as to himself, he dwells having pervaded the entire world with a mind endowed with loving-kindness – abundant, expansive, immeasurable, without hostility, and without aversion.
SC 11“He dwells having pervaded one direction with a mind endowed with compassion… with sympathetic joy… with equanimity… abundant, expansive, immeasurable, without hostility, and without aversion.
SC 12“He understands: ‘There is this, there is the inferior, there is the superior, there is a further escape from this perception.’ Knowing and seeing in this way, his mind is liberated from the corruption of sensuality, the corruption of existence, and the corruption of ignorance. When there is liberation, there is the knowledge of liberation. He understands: ‘Birth is eliminated, the spiritual life has been completed, what was to be done has been done, there will not be another life here.’ Monks, this is called ‘A monk who is cleansed by means of internal cleansing.’”
SC 13On this occasion, the Brahmin Sundarika-Bhāradvāja was seated not far from the Blessed One. He said to the Blessed One, “Does Sir Gotama go to bathe in the river Bāhukā?”
SC 14“Brahmin, what is the river Bāhukā? What will the river Bāhukā do?”
SC 15“Sir Gotama, the river Bāhukā is considered by many to be liberating, to be meritorious; many people wash away their harmful karma in the river Bāhukā.”
SC 16Then the Blessed One spoke to the Brahmin Sundarika-Bhāradvāja using these verses:
SC 17“Bāhukā, Adhikakkā, Gayā, Sundarikā,
SC 18Sarassatī, Payāgā, and the river Bāhumatī,
SC 19A fool may constantly jump in,
SC 20But his dark karma will not be purified.
SC 21“What will the river Sundarikā do, or Payāgā, or Bāhukā?
SC 22If a man has done hostile or cruel actions,
SC 23That will not purify his harmful karma.
SC 24“For one who is pure, it is always a sacred festival,
SC 25For one who is pure, it is always a holy day.
SC 26For one who is pure and has pure karma,
SC 27One attains the completion of one‘s practice.
SC 28“Bathe in this, Brahmin, and produce safety for all beings;
SC 29If you speak no lies, harm no beings, take nothing that is not given,
SC 30If you have faith and are free of stinginess,
SC 31What would you do if you went to Gayā?
SC 32Any well can be Gayā for you.”
SC 33When this was said, the Brahmin Sundarika-Bhāradvāja said to the Blessed One, “Wonderful, Sir Gotama! Wonderful, Sir Gotama! Sir Gotama, just as one might set upright what has been overturned, or reveal what has been concealed, or explain the path to one who is confused, or bring an oil-lamp into the darkness so those with eyes can see – in the same way, Sir Gotama has revealed the Dhamma in many ways. I go for refuge to Sir Gotama, and to the Dhamma, and to the monastic community. May I receive the Going-Forth in the Blessed One‘s presence; may I receive full ordination.”
SC 34The Brahmin Sundarika-Bhāradvāja received the Going-Forth in the Blessed One‘s presence, and he received full ordination. Not long after his ordination, while living alone, withdrawn, vigilant, ardent, and diligent, he directly realized for himself the conclusion of the spiritual life – the right goal that good people go forth from the household life to homelessness for. He knew, “Birth is eliminated, the spiritual life has been completed, what was to be done has been done, there will not be another life here.” Venerable Bhāradvāja become one of the Arahants.
Như vầy tôi nghe.
SC 1Một thời Thế Tôn ở Sāvatthi (Xá-vệ), tại Jetavana (Kỳ-đà Lâm), vườn ông Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Ðộc). Lúc bấy giờ Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: “Này các Tỷ-kheo”.:” Bạch Thế Tôn”, các vị Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau
SC 2—Này các Tỷ-kheo, như một tấm vải cấu uế, nhiễm bụi, một người thợ nhuộm nhúng tấm vải ấy vào thuốc nhuộm này hay thuốc nhuộm khác—hoặc xanh, hoặc vàng, hoặc đỏ, hoặc tía—vải ấy sẽ được màu nhuộm không tốt đẹp, sẽ được màu nhuộm không sạch sẽ. Vì sao vậy? Này các Tỷ-kheo, vì tấm vải không được trong sạch. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, cõi ác chờ đợi một tâm cấu uế. Này các Tỷ-kheo, như một tấm vải thanh tịnh, trong sạch, một người thợ nhuộm nhúng tấm vải ấy vào thuốc nhuộm này hay thuốc nhuộm khác—hoặc xanh, hoặc vàng, hoặc đỏ, hoặc tía, vải ấy sẽ được màu nhuộm tốt đẹp, sẽ được màu nhuộm sạch sẽ. Vì sao vậy? Này các Tỷ-kheo, vì tấm vải được trong sạch. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, cõi thiện chờ đợi một tâm không cấu uế.
SC 3Và này các Tỷ-kheo, thế nào là những cấu uế của tâm? Tham dục, tà tham là cấu uế của tâm, sân là cấu uế của tâm, phẫn là cấu uế của tâm, hận là cấu uế của tâm, hư ngụy, não hại, tật đố, xan tham, man trá, khi cuống, ngoan cố, cấp tháo, quá mạn, kiêu, phóng dật là cấu uế của tâm.
SC 4Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào nghĩ rằng: “Tham dục, tà tham là cấu uế của tâm” và sau khi biết vậy, vị ấy đoạn trừ tham dục, tà tham cấu uế của tâm; nghĩ rằng: “Sân là cấu uế của tâm”, và sau khi biết vậy, vị ấy đoạn trừ sân, cấu uế của tâm; phẫn … hận … hư ngụy … não hại, tật đố, xan tham, man trá, khi cuống … ngoan cố … cấp tháo … mạn … quá mạn … kiêu; nghĩ rằng: “Phóng dật là cấu uế của tâm” thì sau khi biết vậy, vị ấy đoạn trừ phóng dật, cấu uế của tâm.
SC 5Này các Tỷ-kheo, khi nào Tỷ-kheo biết được: “Tham dục, tà tham là cấu uế của tâm”, tham dục, tà tham cấu uế của tâm được diệt trừ, … sân … phẫn … hận … hư ngụy … não hại … tật đố … xan tham … man trá … khi cuống … ngoan cố … cấp tháo … mạn … quá mạn … kiêu; khi nào Tỷ-kheo biết được: “Phóng dật là cấu uế của tâm”, phóng dật, cấu uế của tâm được diệt trừ, Tỷ-kheo ấy thành tựu lòng tin tuyệt đối đối với Phật: Ngài là bậc Thế Tôn, A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Ðiều Ngự Trượng Phu, Vô Thượng Sĩ, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn.
SC 6Vị ấy thành tựu lòng tin tuyệt đối đối với Pháp: Pháp được Thế Tôn khéo thuyết giảng, thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người có trí chứng hiểu.
SC 7Vị ấy thành tựu lòng tin tuyệt đối đối với chúng Tăng: Diệu hạnh là chúng Tăng, đệ tử Thế Tôn; Trực hạnh là chúng Tăng, đệ tử Thế Tôn; Như lý hạnh là chúng Tăng, đệ tử Thế Tôn; Chánh hạnh là chúng Tăng, đệ tử Thế Tôn. Tức là bốn đôi tám vị. Chúng Tăng, đệ tử Thế Tôn, đáng được cung kính, đáng được tôn trọng, đáng được cúng dường, đáng được chắp tay, là phước điền vô thượng ở đời.
SC 8Ðến giai đoạn này, đối với vị ấy có sự từ bỏ, có sự diệt trừ, có sự giải thoát, có sự đoạn trừ, có sự xả ly. Vị ấy tự nghĩ: “Ta thành tựu lòng tin tuyệt đối đối với Thế Tôn”, và chứng được nghĩa tín thọ, chứng được pháp tín thọ, chứng được hân hoan liên hệ đến pháp; từ hân hoan, hỷ sanh; từ hỷ, thân được khinh an; thân khinh an, cảm giác được lạc thọ; với lạc thọ, tâm được Thiền định.
SC 9Vị ấy tự nghĩ: “Ta thành tựu lòng tin tuyệt đối đối với Pháp”, và chứng được nghĩa tín thọ, chứng được pháp tín thọ, chứng được hân hoan liên hệ đến pháp; từ hân hoan, hỷ sanh; từ hỷ, thân được khinh an; thân khinh an, cảm giác được lạc thọ; với lạc thọ, tâm được Thiền định.
SC 10Vị ấy tự nghĩ: “Ta thành tựu lòng tin tuyệt đối đối với Tăng”, và chứng được nghĩa tín thọ, chứng được pháp tín thọ, chứng được hân hoan liên hệ đến pháp; từ hân hoan hỷ sanh; từ hỷ, thân được khinh an, thân khinh an, cảm giác được lạc thọ; với lạc thọ, tâm được Thiền định.
SC 11Vị ấy tự nghĩ: “Ðến giai đoạn này, đối với Ta, có sự từ bỏ, có sự diệt trừ, có sự giải thoát, có sự đoạn trừ, có sự xả ly”, và chứng được nghĩa tín thọ, chứng được pháp tín thọ, chứng được hân hoan liên hệ đến pháp; từ hân hoan, hỷ sanh; từ hỷ, thân khinh an; thân khinh an, cảm giác được lạc thọ; với lạc thọ, tâm được Thiền định.
SC 12Này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo, giới như vậy, pháp như vậy, tuệ như vậy—nếu có ăn đồ khất thực với gạo thơm, hạt đen được vất đi, với các món canh, với các món ăn khác cũng không vì vậy trở thành một chướng ngại cho vị ấy. Này các Tỷ-kheo, như một tấm vải cấu uế, nhiễm bụi, nếu bỏ trong nước sạch, trở thành thanh tịnh sạch sẽ, như bỏ vào lò lửa trở thành thanh tịnh sạch sẽ. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, một Tỷ-kheo, giới như vậy, pháp như vậy, tuệ như vậy—nếu có ăn đồ khất thực với gạo thơm, hạt đen được vất đi, với các món canh, với các món ăn khác, cũng không vì vậy trở thành một chướng ngại cho vị ấy.
SC 13Vị ấy an trú, biến mãn một phương với tâm câu hữu với từ, cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như vậy, cùng khắp thế giới, trên dưới bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy an trú biến mãn với tâm câu hữu với từ, quảng đại, vô biên, không hận, không sân.
SC 14Vị ấy an trú, biến mãn một phương với tâm câu hữu với bi … (như trên) … với tâm câu hữu với hỷ … (như trên) … biến mãn một phương với tâm câu hữu với xả, cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như vậy, cùng khắp thế giới, trên dưới bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy an trú biến mãn với tâm câu hữu với xả, quảng đại vô biên, không hận, không sân.
SC 15Vị ấy biết: “Có cái này, có cái hạ liệt, có cái cao thượng, có sự giải thoát vượt qua các tưởng”.
SC 16Do vị ấy biết như vậy, thấy như vậy, tâm được giải thoát khỏi dục lậu, tâm được giải thoát khỏi hữu lậu, tâm được giải thoát khỏi vô minh lậu. Ðối với tự thân đã giải thoát, trí khởi lên: “Ta đã giải thoát, sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy được gọi là Tỷ-kheo đã được tắm rửa với sự tắm rửa nội tâm.
SC 17Lúc bấy giờ, Bà-la-môn Sundarika Bhāradvāja đang ngồi không xa Thế Tôn. Rồi Bà-la-môn Sundarika Bhāradvāja bạch Thế Tôn
SC 18—Tôn giả Gotama có đi đến sông Bahuka để tắm rửa không?
SC 19—Này Bà-la-môn, sông Bahuka là gì? Sông Bahuka có làm được lợi ích gì?
SC 20—Tôn giả Gotama, sông Bahuka được nhiều người xem là có khả năng giải thoát. Tôn giả Gotama, sông Bahuka được nhiều người xem là có khả năng đem lại công đức. Và nhiều người đã gội sạch các ác nghiệp trong sông Bahuka.
SC 21Rồi Thế Tôn nói lên những bài kệ sau đây cho Bà-la-môn Sundarika Bhāradvāja:
SC 22Trong sông Bàhukà
Tại Adhikakkà,
Tại cả sông Gayà
Và Sundarikà,
Tại Sarassatì
Và tại Payàna,
Tại Bàhumatì,
Kẻ ngu dầu thường tắm,
Ác nghiệp không rửa sạch.
SC 23Sông Sundarikà
Có thể làm được gì?
Payàga làm gì?
Cả sông Bàhukà?
Không thể rửa nghiệp đen
Của kẻ ác gây tội.
SC 24Ðối kẻ sống thanh tịnh,
Ngày nào cũng ngày tốt,
Với kẻ sống thanh tịnh,
Ngày nào cũng ngày lành,
SC 25Các tịnh nghiệp thanh tịnh,
Luôn thành tựu thiện hạnh.
Này vị Bà-la-môn,
Chỉ nên tắm ở đây,
Khiến mọi loài chúng sanh,
Ðược sống trong an ổn.
Nếu không nói dối trá,
Nếu không hại chúng sanh,
Không lấy của không cho,
Có lòng tín, không tham,
Ði Gayà làm gì,
Gayà một giếng nước?
SC 26Khi được nghe nói vậy, Bà-la-môn Sundarika Bhāradvāja bạch Thế Tôn
SC 27—Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Tôn giả Gotama, như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho kẻ bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối, để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy Chánh pháp đã được Tôn giả Gotama dùng nhiều phương tiện trình bày. Nay con quy y Tôn giả Gotama, quy y Pháp và quy y Tăng. Mong con được xuất gia với Tôn giả Gotama! Mong con được thọ đại giới!
SC 28Bà-la-môn Sundarika Bhāradvāja được xuất gia với Thế Tôn, được thọ đại giới. Trong thời gian ngắn sau khi thọ đại giới, Tôn giả Bhāradvāja sống độc cư, không phóng dật, nhiệt tâm tinh cần và không bao lâu sau khi tự thân chứng ngộ với thượng trí, chứng đắc và an trú ngay trong hiện tại, vô thượng cứu cánh Phạm hạnh mà vì mục đích này các Thiện nam tử xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Vị ấy đã thắng tri: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”. Như vậy, Tôn giả Bhāradvāja trở thành một vị A-la-hán nữa.
Evaṁ me sutaṁ—
ekaṁ samayaṁ bhagavā sāvatthiyaṁ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme.
Tatra kho bhagavā bhikkhū āmantesi:
“bhikkhavo”ti.
“Bhadante”ti te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ.
Bhagavā etadavoca:
“Seyyathāpi, bhikkhave, vatthaṁ saṅkiliṭṭhaṁ malaggahitaṁ;
tamenaṁ rajako yasmiṁ yasmiṁ raṅgajāte upasaṁhareyya—yadi nīlakāya yadi pītakāya yadi lohitakāya yadi mañjiṭṭhakāya durattavaṇṇamevassa aparisuddhavaṇṇamevassa.
Taṁ kissa hetu?
Aparisuddhattā, bhikkhave, vatthassa.
Evameva kho, bhikkhave, citte saṅkiliṭṭhe, duggati pāṭikaṅkhā.
Seyyathāpi, bhikkhave, vatthaṁ parisuddhaṁ pariyodātaṁ;
tamenaṁ rajako yasmiṁ yasmiṁ raṅgajāte upasaṁhareyya—yadi nīlakāya yadi pītakāya yadi lohitakāya yadi mañjiṭṭhakāya—surattavaṇṇamevassa parisuddhavaṇṇamevassa.
Taṁ kissa hetu?
Parisuddhattā, bhikkhave, vatthassa.
Evameva kho, bhikkhave, citte asaṅkiliṭṭhe, sugati pāṭikaṅkhā.
Katame ca, bhikkhave, cittassa upakkilesā?
Abhijjhāvisamalobho cittassa upakkileso, byāpādo cittassa upakkileso, kodho cittassa upakkileso, upanāho cittassa upakkileso, makkho cittassa upakkileso, paḷāso cittassa upakkileso, issā cittassa upakkileso, macchariyaṁ cittassa upakkileso, māyā cittassa upakkileso, sāṭheyyaṁ cittassa upakkileso, thambho cittassa upakkileso, sārambho cittassa upakkileso, māno cittassa upakkileso, atimāno cittassa upakkileso, mado cittassa upakkileso, pamādo cittassa upakkileso.
Sa kho so, bhikkhave, bhikkhu ‘abhijjhāvisamalobho cittassa upakkileso’ti—iti viditvā abhijjhāvisamalobhaṁ cittassa upakkilesaṁ pajahati;
‘byāpādo cittassa upakkileso’ti—
iti viditvā byāpādaṁ cittassa upakkilesaṁ pajahati;
‘kodho cittassa upakkileso’ti—
iti viditvā kodhaṁ cittassa upakkilesaṁ pajahati;
‘upanāho cittassa upakkileso’ti—
iti viditvā upanāhaṁ cittassa upakkilesaṁ pajahati;
‘makkho cittassa upakkileso’ti—
iti viditvā makkhaṁ cittassa upakkilesaṁ pajahati;
‘paḷāso cittassa upakkileso’ti—
iti viditvā paḷāsaṁ cittassa upakkilesaṁ pajahati;
‘issā cittassa upakkileso’ti—
iti viditvā issaṁ cittassa upakkilesaṁ pajahati;
‘macchariyaṁ cittassa upakkileso’ti—
iti viditvā macchariyaṁ cittassa upakkilesaṁ pajahati;
‘māyā cittassa upakkileso’ti—
iti viditvā māyaṁ cittassa upakkilesaṁ pajahati;
‘sāṭheyyaṁ cittassa upakkileso’ti—
iti viditvā sāṭheyyaṁ cittassa upakkilesaṁ pajahati;
‘thambho cittassa upakkileso’ti—
iti viditvā thambhaṁ cittassa upakkilesaṁ pajahati;
‘sārambho cittassa upakkileso’ti—
iti viditvā sārambhaṁ cittassa upakkilesaṁ pajahati;
‘māno cittassa upakkileso’ti—
iti viditvā mānaṁ cittassa upakkilesaṁ pajahati;
‘atimāno cittassa upakkileso’ti—
iti viditvā atimānaṁ cittassa upakkilesaṁ pajahati;
‘mado cittassa upakkileso’ti—
iti viditvā madaṁ cittassa upakkilesaṁ pajahati;
‘pamādo cittassa upakkileso’ti—
iti viditvā pamādaṁ cittassa upakkilesaṁ pajahati.
Yato kho, bhikkhave, bhikkhuno ‘abhijjhāvisamalobho cittassa upakkileso’ti—iti viditvā abhijjhāvisamalobho cittassa upakkileso pahīno hoti,
‘byāpādo cittassa upakkileso’ti—
iti viditvā byāpādo cittassa upakkileso pahīno hoti;
‘kodho cittassa upakkileso’ti—
iti viditvā kodho cittassa upakkileso pahīno hoti;
‘upanāho cittassa upakkileso’ti—
iti viditvā upanāho cittassa upakkileso pahīno hoti;
‘makkho cittassa upakkileso’ti—
iti viditvā makkho cittassa upakkileso pahīno hoti;
‘paḷāso cittassa upakkileso’ti—
iti viditvā paḷāso cittassa upakkileso pahīno hoti;
‘issā cittassa upakkileso’ti—
iti viditvā issā cittassa upakkileso pahīno hoti;
‘macchariyaṁ cittassa upakkileso’ti—
iti viditvā macchariyaṁ cittassa upakkileso pahīno hoti;
‘māyā cittassa upakkileso’ti—
iti viditvā māyā cittassa upakkileso pahīno hoti;
‘sāṭheyyaṁ cittassa upakkileso’ti—
iti viditvā sāṭheyyaṁ cittassa upakkileso pahīno hoti;
‘thambho cittassa upakkileso’ti—
iti viditvā thambho cittassa upakkileso pahīno hoti;
‘sārambho cittassa upakkileso’ti—
iti viditvā sārambho cittassa upakkileso pahīno hoti;
‘māno cittassa upakkileso’ti—
iti viditvā māno cittassa upakkileso pahīno hoti;
‘atimāno cittassa upakkileso’ti—
iti viditvā atimāno cittassa upakkileso pahīno hoti;
‘mado cittassa upakkileso’ti—
iti viditvā mado cittassa upakkileso pahīno hoti;
‘pamādo cittassa upakkileso’ti—
iti viditvā pamādo cittassa upakkileso pahīno hoti.
So buddhe aveccappasādena samannāgato hoti:
‘itipi so bhagavā arahaṁ sammāsambuddho vijjācaraṇasampanno sugato lokavidū anuttaro purisadammasārathi satthā devamanussānaṁ buddho bhagavā’ti;
dhamme aveccappasādena samannāgato hoti:
‘svākkhāto bhagavatā dhammo sandiṭṭhiko akāliko ehipassiko opaneyyiko paccattaṁ veditabbo viññūhī’ti;
saṅghe aveccappasādena samannāgato hoti:
‘suppaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho, ujuppaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho, ñāyappaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho, sāmīcippaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho, yadidaṁ cattāri purisayugāni, aṭṭha purisapuggalā. Esa bhagavato sāvakasaṅgho āhuneyyo pāhuneyyo dakkhiṇeyyo añjalikaraṇīyo, anuttaraṁ puññakkhettaṁ lokassā’ti.
Yathodhi kho panassa cattaṁ hoti vantaṁ muttaṁ pahīnaṁ paṭinissaṭṭhaṁ, so ‘buddhe aveccappasādena samannāgatomhī’ti labhati atthavedaṁ, labhati dhammavedaṁ, labhati dhammūpasaṁhitaṁ pāmojjaṁ.
Pamuditassa pīti jāyati, pītimanassa kāyo passambhati, passaddhakāyo sukhaṁ vedeti, sukhino cittaṁ samādhiyati;
‘dhamme …pe…
saṅghe aveccappasādena samannāgatomhī’ti labhati atthavedaṁ, labhati dhammavedaṁ, labhati dhammūpasaṁhitaṁ pāmojjaṁ;
pamuditassa pīti jāyati, pītimanassa kāyo passambhati, passaddhakāyo sukhaṁ vedeti, sukhino cittaṁ samādhiyati.
‘Yathodhi kho pana me cattaṁ vantaṁ muttaṁ pahīnaṁ paṭinissaṭṭhan’ti labhati atthavedaṁ, labhati dhammavedaṁ, labhati dhammūpasaṁhitaṁ pāmojjaṁ;
pamuditassa pīti jāyati, pītimanassa kāyo passambhati, passaddhakāyo sukhaṁ vedeti, sukhino cittaṁ samādhiyati.
Sa kho so, bhikkhave, bhikkhu evaṁsīlo evaṁdhammo evaṁpañño sālīnañcepi piṇḍapātaṁ bhuñjati vicitakāḷakaṁ anekasūpaṁ anekabyañjanaṁ, nevassa taṁ hoti antarāyāya.
Seyyathāpi, bhikkhave, vatthaṁ saṅkiliṭṭhaṁ malaggahitaṁ acchodakaṁ āgamma parisuddhaṁ hoti pariyodātaṁ, ukkāmukhaṁ vā panāgamma jātarūpaṁ parisuddhaṁ hoti pariyodātaṁ;
evameva kho, bhikkhave, bhikkhu evaṁsīlo evaṁdhammo evaṁpañño sālīnañcepi piṇḍapātaṁ bhuñjati vicitakāḷakaṁ anekasūpaṁ anekabyañjanaṁ, nevassa taṁ hoti antarāyāya.
So mettāsahagatena cetasā ekaṁ disaṁ pharitvā viharati, tathā dutiyaṁ, tathā tatiyaṁ, tathā catutthaṁ. Iti uddhamadho tiriyaṁ sabbadhi sabbattatāya sabbāvantaṁ lokaṁ mettāsahagatena cetasā vipulena mahaggatena appamāṇena averena abyāpajjena pharitvā viharati;
karuṇāsahagatena cetasā …pe…
muditāsahagatena cetasā …pe…
upekkhāsahagatena cetasā ekaṁ disaṁ pharitvā viharati, tathā dutiyaṁ, tathā tatiyaṁ, tathā catutthaṁ. Iti uddhamadho tiriyaṁ sabbadhi sabbattatāya sabbāvantaṁ lokaṁ upekkhāsahagatena cetasā vipulena mahaggatena appamāṇena averena abyāpajjena pharitvā viharati.
So ‘atthi idaṁ, atthi hīnaṁ, atthi paṇītaṁ, atthi imassa saññāgatassa uttari nissaraṇan’ti pajānāti.
Tassa evaṁ jānato evaṁ passato kāmāsavāpi cittaṁ vimuccati, bhavāsavāpi cittaṁ vimuccati, avijjāsavāpi cittaṁ vimuccati.
Vimuttasmiṁ vimuttamiti ñāṇaṁ hoti.
‘Khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyā’ti pajānāti.
Ayaṁ vuccati, bhikkhave:
‘bhikkhu sināto antarena sinānenā’”ti.
Tena kho pana samayena sundarikabhāradvājo brāhmaṇo bhagavato avidūre nisinno hoti.
Atha kho sundarikabhāradvājo brāhmaṇo bhagavantaṁ etadavoca:
“gacchati pana bhavaṁ gotamo bāhukaṁ nadiṁ sināyitun”ti?
“Kiṁ, brāhmaṇa, bāhukāya nadiyā?
Kiṁ bāhukā nadī karissatī”ti?
“Lokkhasammatā hi, bho gotama, bāhukā nadī bahujanassa, puññasammatā hi, bho gotama, bāhukā nadī bahujanassa, bāhukāya pana nadiyā bahujano pāpakammaṁ kataṁ pavāhetī”ti.
Atha kho bhagavā sundarikabhāradvājaṁ brāhmaṇaṁ gāthāhi ajjhabhāsi:
“Bāhukaṁ adhikakkañca,
gayaṁ sundarikaṁ mapi;
Sarassatiṁ payāgañca,
atho bāhumatiṁ nadiṁ;
Niccampi bālo pakkhando,
kaṇhakammo na sujjhati.
Kiṁ sundarikā karissati,
Kiṁ payāgā kiṁ bāhukā nadī;
Veriṁ katakibbisaṁ naraṁ,
Na hi naṁ sodhaye pāpakamminaṁ.
Suddhassa ve sadā phaggu,
Suddhassuposatho sadā;
Suddhassa sucikammassa,
Sadā sampajjate vataṁ;
Idheva sināhi brāhmaṇa,
Sabbabhūtesu karohi khemataṁ.
Sace musā na bhaṇasi,
sace pāṇaṁ na hiṁsasi;
Sace adinnaṁ nādiyasi,
saddahāno amaccharī;
Kiṁ kāhasi gayaṁ gantvā,
udapānopi te gayā”ti.
Evaṁ vutte, sundarikabhāradvājo brāhmaṇo bhagavantaṁ etadavoca:
“abhikkantaṁ, bho gotama, abhikkantaṁ, bho gotama.
Seyyathāpi, bho gotama, nikkujjitaṁ vā ukkujjeyya, paṭicchannaṁ vā vivareyya, mūḷhassa vā maggaṁ ācikkheyya, andhakāre vā telapajjotaṁ dhāreyya—cakkhumanto rūpāni dakkhantīti; evamevaṁ bhotā gotamena anekapariyāyena dhammo pakāsito.
Esāhaṁ bhavantaṁ gotamaṁ saraṇaṁ gacchāmi dhammañca bhikkhusaṅghañca.
Labheyyāhaṁ bhoto gotamassa santike pabbajjaṁ, labheyyaṁ upasampadan”ti.
Alattha kho sundarikabhāradvājo brāhmaṇo bhagavato santike pabbajjaṁ, alattha upasampadaṁ.
Acirūpasampanno kho panāyasmā bhāradvājo eko vūpakaṭṭho appamatto ātāpī pahitatto viharanto nacirasseva—yassatthāya kulaputtā sammadeva agārasmā anagāriyaṁ pabbajanti, tadanuttaraṁ—brahmacariyapariyosānaṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja vihāsi.
“Khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyā”ti abbhaññāsi.
Aññataro kho panāyasmā bhāradvājo arahataṁ ahosīti.
Vatthasuttaṁ niṭṭhitaṁ sattamaṁ.