Như vầy tôi nghe.
SC 1Một thời Thế Tôn ở Sāvatthi, Jetavana, tại tịnh xá ông Anāthapiṇḍika (Cấp cô độc).
SC 2Rồi Tôn giả Ānanda vào buổi sáng đắp y, cầm y bát, đi vào Sāvatthi để khất thực. Ði khất thực ở Sāvatthi xong, sau bữa ăn, trên con đường khất thực trở về, Tôn giả đi đến lâu đài Pubbārāma Migaramatu (Ðông Viên Lộc Mẫu giảng đường) để nghỉ trưa.
SC 3Lúc bấy giờ, vua Pasenadi nước Kosala cưỡi trên con voi Ekapundarika và đi ra khỏi thành Sāvatthi trong buổi sáng sớm. Vua Pasenadi nước Kosala thấy Tôn giả Ānanda từ xa đi đến, thấy vậy liền nói với vị đại thần Sirivaḍḍha
SC 4—Vị Tôn giả ấy, này Sirivaḍḍha, có phải là Ānanda không?
SC 5—Thưa phải, tâu Ðại vương, Tôn giả ấy là Ānanda.
SC 6Rồi vua Pasenadi nước Kosala nói với một người khác
SC 7—Này Người kia, hãy đi đến Tôn giả Ānanda, sau khi đến, nhân danh ta cúi đầu đảnh lễ chân Tôn giả Ānanda, rồi thưa như sau: “Thưa Tôn giả, nếu Tôn giả Ānanda không có công việc gì phải làm gấp, thưa Tôn giả, mong Tôn giả hãy vì lòng từ chờ đợi một lát”.
SC 8—Thưa vâng, tâu Ðại vương.
SC 9Người ấy vâng đáp vua Pasenadi xứ Kosala, đi đến Tôn giả Ānanda, sau khi đến, đảnh lễ Tôn giả Ānanda rồi đứng một bên. Ðứng một bên, người ấy thưa với Tôn giả Ānanda
SC 10—Thưa Tôn giả, vua Pasenadi nước Kosala cúi đầu đảnh lễ chân Tôn giả Ānanda, và thưa như sau: “Thưa Tôn giả, nếu Tôn giả Ānanda không có công việc gì phải làm gấp, thưa Tôn giả, mong Tôn giả hãy vì lòng từ chờ đợi một lát”.
SC 11Tôn giả Ānanda im lặng nhận lời. Rồi Tôn giả Ānanda đi đến bờ sông Aciravatī, sau khi đến, liền ngồi xuống trên chỗ đã đoạn sẵn, dưới một gốc cây. Rồi vua Pasenadi nước Kosala, cưỡi voi cho đến chỗ nào có thể đi voi được, rồi xuống voi đi bộ đến chỗ Tôn giả Ānanda, sau khi đến, đảnh lễ Tôn giả Ānanda rồi đứng một bên. Ðứng một bên, vua Pasenadi nước Kosala thưa với Tôn giả Ānanda
SC 12—Thưa Tôn giả, ở đây, mong Tôn giả Ānanda ngồi trên thảm ngựa.
SC 13—Thôi vừa rồi, Ðại vương, Ðại vương hãy ngồi. Tôi đã ngồi trên chỗ ngồi của tôi.
SC 14Vua Pasenadi nước Kosala ngồi trên chỗ đã soạn sẵn. Sau khi ngồi, vua Pasenadi nước Kosala thưa với Tôn giả Ānanda
SC 15—Thưa Tôn giả Ānanda, có phải Thế Tôn không làm các thân hành mà các bậc Sa-môn, Bà-la-môn có trí quở trách?
SC 16—Thưa Ðại vương, Thế Tôn không làm các thân hành mà các bậc Sa-môn, Bà-la-môn có trí quở trách.
SC 17—Thưa Tôn giả Ānanda, có phải Thế Tôn không làm các khẩu hành … không làm các ý hành mà các bậc Sa-môn, Bà-la-môn có trí quở trách?
SC 18—Thưa Ðại vương, Thế Tôn không làm các khẩu hành, ý hành mà các bậc Sa-môn, Bà-la-môn có trí quở trách.
SC 19—Thật vi diệu thay, thưa Tôn giả! Thật hy hữu thay, thưa Tôn giả! Thưa Tôn giả, điều mà tôi không thể nói lên một cách đầy đủ trong một câu hỏi, đã được Tôn giả Ānanda nói lên một cách đầy đủ trong câu trả lời câu hỏi. Thưa Tôn giả, khi người ngu si, thiếu kinh nghiệm tán thán hay hủy báng những người khác, mà không chứng nghiệm và suy xét, thì chúng tôi không y cứ vào đấy và xem như là lõi cây. Nhưng thưa Tôn giả, khi người có trí, có kinh nghiệm tán thán hay hủy báng những người khác, có chứng nghiệm và suy xét, thì chúng tôi y cứ vào đấy và xem như là lõi cây.
SC 20Nhưng thưa Tôn giả Ānanda, thế nào là thân hành mà các vị Sa-môn, Bà-la-môn có trí quở trách?
SC 21—Thưa Ðại vương, bất cứ thân hành gì bất thiện.
SC 22—Thưa Tôn giả, thế nào là thân hành bất thiện?
SC 23—Thưa Ðại vương, bất cứ thân hành gì có tội.
SC 24—Thưa Tôn giả, thế nào là thân hành có tội?
SC 25—Thưa Ðại vương, bất cứ thân hành gì có hại.
SC 26—Thưa Tôn giả, thế nào là thân hành có hại?
SC 27—Thưa Ðại vương, bất cứ thân hành nào có khổ báo.
SC 28—Thưa Tôn giả, thế nào là thân hành có khổ báo?
SC 29—Thưa Ðại vương, phàm thân hành gì đưa đến tự hại, đưa đến hại người, đưa đến hại cả hai, từ nơi thân hành ấy, các bất thiện pháp tăng trưởng, các thiện pháp thối giảm. Thưa Ðại vương, thân hành như vậy bị các Sa-môn, Bà-la-môn có trí quở trách.
SC 30—Thưa Tôn giả, thế nào là khẩu hành … thế nào là ý hành bị các Sa-môn, Bà-la-môn có trí quở trách?
SC 31—Thưa Ðại vương, bất cứ ý hành gì bất thiện.
SC 32—Thưa Tôn giả, thế nào là ý hành bất thiện?
SC 33—Thưa Ðại vương, phàm ý hành gì có tội.
SC 34—Thưa Tôn giả, thế nào là ý hành có tội?
SC 35—Thưa Ðại vương, phàm ý hành gì có hại.
SC 36—Thưa Tôn giả, thế nào là ý hành có hại?
SC 37—Thưa Ðại vương, phàm ý hành nào có khổ báo.
SC 38—Thưa Tôn giả, thế nào là ý hành có khổ báo?
SC 39—Thưa Ðại vương, phàm ý hành gì đưa đến tự hại, đưa đến hại người, đưa đến hại cả hai, từ nơi ý hành ấy các bất thiện pháp tăng trưởng, các thiện pháp thối giảm. Thưa Ðại vương, ý hành như vậy bị các Sa-môn, Bà-la-môn có trí quở trách.
SC 40—Thưa Tôn giả Ānanda, có phải Thế Tôn tán thán sự đoạn trừ tất cả bất thiện pháp?
SC 41—Thưa Ðại vương, Như Lai đã đoạn trừ tất cả bất thiện pháp và thành tựu các thiện pháp.
SC 42—Nhưng thưa Tôn giả Ānanda, thế nào là thân hành không bị các Sa-môn, Bà-la-môn có trí quở trách?
SC 43—Thưa Ðại vương, bất cứ thiện thân hành nào.
SC 44—Thưa Tôn giả, thế nào là thiện thân hành?
SC 45—Thưa Ðại vương, phàm thân hành nào không có tội.
SC 46—Thưa Tôn giả, thế nào là thân hành không có tội?
SC 47—Thưa Ðại vương, phàm thân hành nào không có hại.
SC 48—Thưa Tôn giả, thế nào là thân hành không có hại?
SC 49—Thưa Ðại vương, phàm thân hành nào có lạc báo.
SC 50—Thưa tôn giả, thế nào là thân hành có lạc báo?
SC 51—Thưa Ðại vương, phàm thân hành nào không đưa đến tự hại, không đưa đến hại người, không đưa đến hại cả hai, từ nơi thân hành ấy, các bất thiện pháp thối giảm, các thiện pháp tăng trưởng. Thưa Ðại vương, thân hành như vậy không bị các Sa-môn, Bà-la-môn có trí quở trách.
SC 52—Thưa Tôn giả Ānanda, thế nào là khẩu hành … thế nào là ý hành không bị các Sa-môn, Bà-la-môn có trí quở trách?
SC 53—Thưa Ðại vương, bất cứ thiện ý hành nào.
SC 54—Thưa Tôn giả, thế nào là thiện ý hành?
SC 55—Thưa Ðại vương, phàm ý hành nào không có tội.
SC 56—Thưa Tôn giả, thế nào là ý hành không có tội?
SC 57—Thưa Ðại vương, phàm ý hành nào không có hại.
SC 58—Thưa Tôn giả, thế nào là ý hành không có hại?
SC 59—Thưa Ðại vương, phàm ý hành nào có lạc báo.
SC 60—Thưa Tôn giả, thế nào là ý hành có lạc báo?
SC 61—Thưa Ðại vương, phàm ý hành nào không đưa đến tự hại, không đưa đến hại người, không đưa đến hại cả hai, từ nơi ý hành ấy, các bất thiện pháp thối giảm, các thiện pháp tăng trưởng. Thưa Ðại vương, ý hành như vậy không bị các Sa-môn, Bà-la-môn có trí quở trách.
SC 62—Thưa Tôn giả Ānanda, có phải Thế Tôn tán thán sự thành tựu tất cả thiện pháp?
SC 63—Thưa Ðại vương, Như Lai đã đoạn trừ tất cả bất thiện pháp, và thành tựu các thiện pháp.
SC 64—Thật vi diệu thay, thưa Tôn giả! Thật hy hữu thay, thưa Tôn giả! Thật khéo nói thay việc này, thưa Tôn giả. Do Tôn giả Ānanda mà chúng tôi, thưa Tôn giả, được hoan hỷ và thỏa mãn với những lời khéo nói của Tôn giả Ānanda. Ðược hoan hỷ và thỏa mãn, thưa Tôn giả, với những lời khéo nói của Tôn giả Ānanda, chúng tôi vui lòng tặng một con voi báu cho Tôn giả Ānanda, nếu Tôn giả Ānanda được phép nhận con voi báu. Chúng tôi vui lòng tặng con ngựa báu cho Tôn giả Ānanda, nếu Tôn giả Ānanda được phép nhận con ngựa báu. Chúng tôi vui lòng tặng một làng ân tứ cho Tôn giả Ānanda, nếu Tôn giả Ānanda được phép nhận một làng ân tứ. Nhưng thưa Tôn giả, chúng tôi được biết như sau: “Việc này Tôn giả Ānanda không được phép”. Thưa Tôn giả, có cuộn vải ngoại hóa này, được gắn vào trong một cán dù, do vua Ajātasattu, con bà Videhi nước Magadha gởi cho tôi, dài mười sáu khuỷu tay, rộng tám khuỷu tay. Thưa Toân giả, mong Tôn giả Ānanda vì lòng từ bi nạp thọ cho.
SC 65—Thôi vừa rồi, Ðại vương! Tôi đã đủ ba y.
SC 66—Thưa Tôn giả, sau cơn mưa lớn trên sườn núi, cả Tôn giả và tôi đã thấy lúc ấy sông Aciravatī chảy mạnh, tràn qua hai bên bờ như thế nào. Cũng vậy, thưa Tôn giả, Tôn giả Ānanda có thể làm cho mình ba y, từ nơi tấm vải ngoại hóa này. Còn ba y cũ, Tôn giả Ānanda có thể đem phân phát cho các đồng Phạm hạnh. Như vậy sự bố thí này của chúng tôi được trôi chảy, như nước lan tràn qua bờ. Thưa Tôn giả, mong Tôn giả nhận cho tấm vải ngoại hóa này.
SC 67Rồi Tôn giả Ānanda nhận lấy tấm vải ngoại hóa. Rồi vua Pasenadi nước Kosala thưa với Tôn giả Ānanda
SC 68—Thưa Tôn giả Ānanda, nay chúng tôi phải đi. Chúng tôi có nhiều công vụ, có nhiều trách nhiệm phải làm.
SC 69—Thưa Ðại vương, nay Ðại vương hãy làm gì Ðại vương nghĩ là hợp thời.
SC 70Rồi vua Pasenadi nước Kosala hoan hỷ, tín thọ lời Tôn giả Ānanda dạy, từ chỗ ngồi đứng dậy, thân bên hữu hướng về ngài, rồi ra đi.
SC 71Tôn giả Ānanda, sau khi vua Pasenadi nước Kosala ra đi không bao lâu, liền đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Ānanda tường thuật lên Thế Tôn tất cả cuộc đàm thoại với vua Pasenadi nước Kosala rồi dâng tấm vải ngoại hóa lên Thế Tôn.
SC 72Thế Tôn nói với các Tỷ-kheo
SC 73—Thật hạnh phúc thay cho vua Pasenadi nước Kosala! Thật tốt đẹp thay cho vua Pasenadi nước Kosala! Vua đã được yết kiến Tôn giả Ānanda và được cúng dường.
SC 74Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Các Tỷ-kheo ấy hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy.
Evaṁ me sutaṁ—
ekaṁ samayaṁ bhagavā sāvatthiyaṁ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme.
Atha kho āyasmā ānando pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya sāvatthiyaṁ piṇḍāya pāvisi.
Sāvatthiyaṁ piṇḍāya caritvā pacchābhattaṁ piṇḍapātapaṭikkanto yena pubbārāmo migāramātupāsādo tenupasaṅkami divāvihārāya.
Tena kho pana samayena rājā pasenadi kosalo ekapuṇḍarīkaṁ nāgaṁ abhiruhitvā sāvatthiyā niyyāti divā divassa.
Addasā kho rājā pasenadi kosalo āyasmantaṁ ānandaṁ dūratova āgacchantaṁ.
Disvāna sirivaḍḍhaṁ mahāmattaṁ āmantesi:
“āyasmā no eso, samma sirivaḍḍha, ānando”ti.
“Evaṁ, mahārāja, āyasmā eso ānando”ti.
Atha kho rājā pasenadi kosalo aññataraṁ purisaṁ āmantesi:
“ehi tvaṁ, ambho purisa, yenāyasmā ānando tenupasaṅkama; upasaṅkamitvā mama vacanena āyasmato ānandassa pāde sirasā vandāhi:
‘rājā, bhante, pasenadi kosalo āyasmato ānandassa pāde sirasā vandatī’ti;
evañca vadehi:
‘sace kira, bhante, āyasmato ānandassa na kiñci accāyikaṁ karaṇīyaṁ, āgametu kira, bhante, āyasmā ānando muhuttaṁ anukampaṁ upādāyā’”ti.
“Evaṁ, devā”ti kho so puriso rañño pasenadissa kosalassa paṭissutvā yenāyasmā ānando tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmantaṁ ānandaṁ abhivādetvā ekamantaṁ aṭṭhāsi. Ekamantaṁ ṭhito kho so puriso āyasmantaṁ ānandaṁ etadavoca:
“rājā, bhante, pasenadi kosalo āyasmato ānandassa pāde sirasā vandati;
evañca vadeti:
‘sace kira, bhante, āyasmato ānandassa na kiñci accāyikaṁ karaṇīyaṁ, āgametu kira, bhante, āyasmā ānando muhuttaṁ anukampaṁ upādāyā’”ti.
Adhivāsesi kho āyasmā ānando tuṇhībhāvena.
Atha kho rājā pasenadi kosalo yāvatikā nāgassa bhūmi nāgena gantvā nāgā paccorohitvā pattikova yenāyasmā ānando tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmantaṁ ānandaṁ abhivādetvā ekamantaṁ aṭṭhāsi. Ekamantaṁ ṭhito kho rājā pasenadi kosalo āyasmantaṁ ānandaṁ etadavoca:
“sace, bhante, āyasmato ānandassa na kiñci accāyikaṁ karaṇīyaṁ, sādhu, bhante, āyasmā ānando yena aciravatiyā nadiyā tīraṁ tenupasaṅkamatu anukampaṁ upādāyā”ti.
Adhivāsesi kho āyasmā ānando tuṇhībhāvena.
Atha kho āyasmā ānando yena aciravatiyā nadiyā tīraṁ tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā aññatarasmiṁ rukkhamūle paññatte āsane nisīdi.
Atha kho rājā pasenadi kosalo yāvatikā nāgassa bhūmi nāgena gantvā nāgā paccorohitvā pattikova yenāyasmā ānando tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmantaṁ ānandaṁ abhivādetvā ekamantaṁ aṭṭhāsi. Ekamantaṁ ṭhito kho rājā pasenadi kosalo āyasmantaṁ ānandaṁ etadavoca:
“idha, bhante, āyasmā ānando hatthatthare nisīdatū”ti.
“Alaṁ, mahārāja.
Nisīda tvaṁ;
nisinno ahaṁ sake āsane”ti.
Nisīdi kho rājā pasenadi kosalo paññatte āsane.
Nisajja kho rājā pasenadi kosalo āyasmantaṁ ānandaṁ etadavoca:
“kiṁ nu kho, bhante ānanda, so bhagavā tathārūpaṁ kāyasamācāraṁ samācareyya, yvāssa kāyasamācāro opārambho samaṇehi brāhmaṇehī”ti?
“Na kho, mahārāja, so bhagavā tathārūpaṁ kāyasamācāraṁ samācareyya, yvāssa kāyasamācāro opārambho samaṇehi brāhmaṇehi viññūhī”ti.
“Kiṁ pana, bhante ānanda, so bhagavā tathārūpaṁ vacīsamācāraṁ …pe…
manosamācāraṁ samācareyya, yvāssa manosamācāro opārambho samaṇehi brāhmaṇehī”ti?
“Na kho, mahārāja, so bhagavā tathārūpaṁ manosamācāraṁ samācareyya, yvāssa manosamācāro opārambho samaṇehi brāhmaṇehi viññūhī”ti.
“Acchariyaṁ, bhante, abbhutaṁ, bhante.
Yañhi mayaṁ, bhante, nāsakkhimhā pañhena paripūretuṁ taṁ, bhante, āyasmatā ānandena pañhassa veyyākaraṇena paripūritaṁ.
Ye te, bhante, bālā abyattā ananuvicca apariyogāhetvā paresaṁ vaṇṇaṁ vā avaṇṇaṁ vā bhāsanti, na mayaṁ taṁ sārato paccāgacchāma;
ye pana te, bhante, paṇḍitā viyattā medhāvino anuvicca pariyogāhetvā paresaṁ vaṇṇaṁ vā avaṇṇaṁ vā bhāsanti, mayaṁ taṁ sārato paccāgacchāma.
Katamo pana, bhante ānanda, kāyasamācāro opārambho samaṇehi brāhmaṇehi viññūhī”ti?
“Yo kho, mahārāja, kāyasamācāro akusalo”.
“Katamo pana, bhante, kāyasamācāro akusalo”?
“Yo kho, mahārāja, kāyasamācāro sāvajjo”.
“Katamo pana, bhante, kāyasamācāro sāvajjo”?
“Yo kho, mahārāja, kāyasamācāro sabyābajjho”.
“Katamo pana, bhante, kāyasamācāro sabyābajjho”?
“Yo kho, mahārāja, kāyasamācāro dukkhavipāko”.
“Katamo pana, bhante, kāyasamācāro dukkhavipāko”?
“Yo kho, mahārāja, kāyasamācāro attabyābādhāyapi saṁvattati, parabyābādhāyapi saṁvattati, ubhayabyābādhāyapi saṁvattati.
Tassa akusalā dhammā abhivaḍḍhanti, kusalā dhammā parihāyanti;
evarūpo kho, mahārāja, kāyasamācāro opārambho samaṇehi brāhmaṇehi viññūhī”ti.
“Katamo pana, bhante ānanda, vacīsamācāro …pe…
manosamācāro opārambho samaṇehi brāhmaṇehi viññūhī”ti?
“Yo kho, mahārāja, manosamācāro akusalo”.
“Katamo pana, bhante, manosamācāro akusalo”?
“Yo kho, mahārāja, manosamācāro sāvajjo”.
“Katamo pana, bhante, manosamācāro sāvajjo”?
“Yo kho, mahārāja, manosamācāro sabyābajjho”.
“Katamo pana, bhante, manosamācāro sabyābajjho”?
“Yo kho, mahārāja, manosamācāro dukkhavipāko”.
“Katamo pana, bhante, manosamācāro dukkhavipāko”?
“Yo kho, mahārāja, manosamācāro attabyābādhāyapi saṁvattati, parabyābādhāyapi saṁvattati, ubhayabyābādhāyapi saṁvattati.
Tassa akusalā dhammā abhivaḍḍhanti, kusalā dhammā parihāyanti;
evarūpo kho, mahārāja, manosamācāro opārambho samaṇehi brāhmaṇehi viññūhī”ti.
“Kiṁ nu kho, bhante ānanda, so bhagavā sabbesaṁyeva akusalānaṁ dhammānaṁ pahānaṁ vaṇṇetī”ti?
“Sabbākusaladhammapahīno kho, mahārāja, tathāgato kusaladhammasamannāgato”ti.
“Katamo pana, bhante ānanda, kāyasamācāro anopārambho samaṇehi brāhmaṇehi viññūhī”ti?
“Yo kho, mahārāja, kāyasamācāro kusalo”.
“Katamo pana, bhante, kāyasamācāro kusalo”?
“Yo kho, mahārāja, kāyasamācāro anavajjo”.
“Katamo pana, bhante, kāyasamācāro anavajjo”?
“Yo kho, mahārāja, kāyasamācāro abyābajjho”.
“Katamo pana, bhante, kāyasamācāro abyābajjho”?
“Yo kho, mahārāja, kāyasamācāro sukhavipāko”.
“Katamo pana, bhante, kāyasamācāro sukhavipāko”?
“Yo kho, mahārāja, kāyasamācāro nevattabyābādhāyapi saṁvattati, na parabyābādhāyapi saṁvattati, na ubhayabyābādhāyapi saṁvattati.
Tassa akusalā dhammā parihāyanti, kusalā dhammā abhivaḍḍhanti.
Evarūpo kho, mahārāja, kāyasamācāro anopārambho samaṇehi brāhmaṇehi viññūhī”ti.
“Katamo pana, bhante ānanda, vacīsamācāro …pe…
manosamācāro anopārambho samaṇehi brāhmaṇehi viññūhī”ti?
“Yo kho, mahārāja, manosamācāro kusalo”.
“Katamo pana, bhante, manosamācāro kusalo”?
“Yo kho, mahārāja, manosamācāro anavajjo”.
“Katamo pana, bhante, manosamācāro anavajjo”?
“Yo kho, mahārāja, manosamācāro abyābajjho”.
“Katamo pana, bhante, manosamācāro abyābajjho”?
“Yo kho, mahārāja, manosamācāro sukhavipāko”.
“Katamo pana, bhante, manosamācāro sukhavipāko”?
“Yo kho, mahārāja, manosamācāro nevattabyābādhāyapi saṁvattati, na parabyābādhāyapi saṁvattati, na ubhayabyābādhāyapi saṁvattati.
Tassa akusalā dhammā parihāyanti, kusalā dhammā abhivaḍḍhanti.
Evarūpo kho, mahārāja, manosamācāro anopārambho samaṇehi brāhmaṇehi viññūhī”ti.
“Kiṁ pana, bhante ānanda, so bhagavā sabbesaṁyeva kusalānaṁ dhammānaṁ upasampadaṁ vaṇṇetī”ti?
“Sabbākusaladhammapahīno kho, mahārāja, tathāgato kusaladhammasamannāgato”ti.
“Acchariyaṁ, bhante, abbhutaṁ, bhante.
Yāva subhāsitañcidaṁ, bhante, āyasmatā ānandena.
Iminā ca mayaṁ, bhante, āyasmato ānandassa subhāsitena attamanābhiraddhā.
Evaṁ attamanābhiraddhā ca mayaṁ, bhante, āyasmato ānandassa subhāsitena.
Sace, bhante, āyasmato ānandassa hatthiratanaṁ kappeyya, hatthiratanampi mayaṁ āyasmato ānandassa dadeyyāma.
Sace, bhante, āyasmato ānandassa assaratanaṁ kappeyya, assaratanampi mayaṁ āyasmato ānandassa dadeyyāma.
Sace, bhante, āyasmato ānandassa gāmavaraṁ kappeyya, gāmavarampi mayaṁ āyasmato ānandassa dadeyyāma.
Api ca, bhante, mayampetaṁ jānāma:
‘netaṁ āyasmato ānandassa kappatī’ti.
Ayaṁ me, bhante, bāhitikā raññā māgadhena ajātasattunā vedehiputtena vatthanāḷiyā pakkhipitvā pahitā soḷasasamā āyāmena, aṭṭhasamā vitthārena.
Taṁ, bhante, āyasmā ānando paṭiggaṇhātu anukampaṁ upādāyā”ti.
“Alaṁ, mahārāja, paripuṇṇaṁ me ticīvaran”ti.
“Ayaṁ, bhante, aciravatī nadī diṭṭhā āyasmatā ceva ānandena amhehi ca.
Yadā uparipabbate mahāmegho abhippavuṭṭho hoti, athāyaṁ aciravatī nadī ubhato kūlāni saṁvissandantī gacchati;
evameva kho, bhante, āyasmā ānando imāya bāhitikāya attano ticīvaraṁ karissati.
Yaṁ panāyasmato ānandassa purāṇaṁ ticīvaraṁ taṁ sabrahmacārīhi saṁvibhajissati.
Evāyaṁ amhākaṁ dakkhiṇā saṁvissandantī maññe gamissati.
Paṭiggaṇhātu, bhante, āyasmā ānando bāhitikan”ti.
Paṭiggahesi kho āyasmā ānando bāhitikaṁ.
Atha kho rājā pasenadi kosalo āyasmantaṁ ānandaṁ etadavoca:
“handa ca dāni mayaṁ, bhante ānanda, gacchāma;
bahukiccā mayaṁ bahukaraṇīyā”ti.
“Yassadāni tvaṁ, mahārāja, kālaṁ maññasī”ti.
Atha kho rājā pasenadi kosalo āyasmato ānandassa bhāsitaṁ abhinanditvā anumoditvā uṭṭhāyāsanā āyasmantaṁ ānandaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā pakkāmi.
Atha kho āyasmā ānando acirapakkantassa rañño pasenadissa kosalassa yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi.
Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā ānando yāvatako ahosi raññā pasenadinā kosalena saddhiṁ kathāsallāpo taṁ sabbaṁ bhagavato ārocesi.
Tañca bāhitikaṁ bhagavato pādāsi.
Atha kho bhagavā bhikkhū āmantesi:
“lābhā, bhikkhave, rañño pasenadissa kosalassa, suladdhalābhā, bhikkhave, rañño pasenadissa kosalassa;
yaṁ rājā pasenadi kosalo labhati ānandaṁ dassanāya, labhati payirupāsanāyā”ti.
Idamavoca bhagavā.
Attamanā te bhikkhū bhagavato bhāsitaṁ abhinandunti.
Bāhitikasuttaṁ niṭṭhitaṁ aṭṭhamaṁ.
SC 1Thus have I heard. On one occasion the Blessed One was dwelling at Sāvatthi, in Jeta‘s Grove, in Anāthapiṇḍika‘s park. Then in the morning, Venerable Ānanda dressed, took his bowl and robe, and entered Sāvatthi for alms. After going for alms in Sāvatthi, when he had finished his meal and returned from alms-round, he went to the Mansion of Migāra‘s Mother in the Eastern Park for the day‘s abiding.
SC 2On that occasion King Pasenadi of Kosala had mounted the elephant Ekapuṇḍarīka1 and set out from Sāvatthi for the day. King Pasenadi of Kosala saw Venerable Ānanda coming in the distance, and said to his minister Sirivaḍḍha, “Dear Sirivaḍḍha, that is Venerable Ānanda.”
SC 3“Yes, Great King, that is Venerable Ānanda.”
SC 4Then King Pasenadi of Kosala said to a certain man, “Good man, go to Venerable Ānanda, honor him with your head at his feet, and address him with my words: ‘Bhante, King Pasenadi of Kosala honors you with his head at your feet.’ Then say, ‘Bhante, if there is nothing that Venerable Ānanda urgently needs to do, then, Bhante, let Venerable Ānanda wait a moment, out of compassion.”
SC 5“Yes, Lord,” that man replied to King Pasenadi of Kosala. He approached Venerable Ānanda, paid respect to him, and stood to one side. While he was standing to one side, he said to Venerable Ānanda, “Bhante, King Pasenadi of Kosala honors you with his head at your feet, and says this : ‘Bhante, if there is nothing that Venerable Ānanda urgently needs to do, then, Bhante, let Venerable Ānanda wait a moment, out of compassion.’” Venerable Ānanda silently consented.
SC 6Then King Pasenadi of Kosala, having gone as far as he could by elephant, dismounted from the elephant and approached Venerable Ānanda on foot. He paid respects to Venerable Ānanda and stood to one side. While he was standing to one side, King Pasenadi of Kosala said to Venerable Ānanda, “Bhante, if there is nothing that Venerable Ānanda urgently needs to do, then, Bhante, it would be excellent if Venerable Ānanda would approach the bank of the river Aciravatī, out of compassion.” Venerable Ānanda silently consented.
SC 7Then Venerable Ānanda approached the bank of the river Aciravatī, and sat at a seat prepared at the base of a certain tree. Then King Pasenadi of Kosala, after going as far as he could by elephant, dismounted from the elephant and approached Venerable Ānanda on foot. He paid respects to Venerable Ānanda and stood to one side. While he was standing to one side, King Pasenadi of Kosala said to Venerable Ānanda, “Here, Bhante, let Venerable Ānanda sit on this elephant-hide rug.”
SC 8“Enough, Great King. You sit on it; I am already seated on my own sitting-cloth.”
SC 9Then King Pasenadi of Kosala sat on the prepared seat. When he was seated, he said to Venerable Ānanda, “Bhante Ānanda, would the Blessed One engage in any kind of physical activity… verbal activity… mental activity that would be criticized by contemplatives and Brahmins?”
SC 10“Great King, the Blessed One would not engage in any kind of physical activity… verbal activity… mental activity that would be criticized by wise contemplatives and Brahmins.”
SC 11“Wonderful, Bhante! Magnificent, Bhante! Bhante, we were not able to answer this question, Bhante, that has been completely explained by Venerable Ānanda. Bhante, those who are foolish and incompetent speak in praise or dispraise of others without investigating and considering, and we do not see that as valuable. However, Bhante, the wise, competent, and sagacious speak in praise or dispraise of others after investigating and considering, and we do see that as valuable. Bhante Ānanda, what kind of physical… verbal… mental activity is criticized by wise contemplatives and Brahmins?”
SC 12“Great King, any physical… verbal… mental activity that is unwholesome.”
SC 13“Bhante, what physical… verbal… mental activity is unwholesome?”
SC 14“Great King, any physical… verbal… mental activity that is blameworthy.”
SC 15“Bhante, what physical… verbal… mental activity is blameworthy?”
SC 16“Great King, any physical… verbal… mental activity that is afflictive.”
SC 17“Bhante, what physical… verbal… mental activity is afflictive?”
SC 18“Great King, any physical… verbal… mental activity that results in suffering.”
SC 19“Bhante, what physical… verbal… mental activity results in suffering?”
SC 20“Great King, any physical… verbal… mental activity that contributes to affliction for oneself, that contributes to affliction for others, that contributes to affliction for both, that causes unwholesome mindstates2 to increase, or that causes wholesome mindstates to decrease; Great King, this is the kind of physical… verbal… mental activity that is criticized by wise contemplatives and Brahmins.”
SC 21“Bhante Ānanda, does the Blessed One praise abandoning all unwholesome mindstates?”
SC 22“Great King, the Tathāgata has abandoned all unwholesome mindstates, and is endowed with all wholesome mindstates.”
SC 23“Bhante Ānanda, what physical… verbal… mental activity is not criticized by wise contemplatives and Brahmins?”
SC 24“Great King, any physical… verbal… mental activity that is wholesome.”
SC 25“Bhante, what physical… verbal… mental activity is wholesome?”
SC 26“Great King, any physical… verbal… mental activity that is blameless.”
SC 27“Bhante, what physical… verbal… mental activity is blameless?”
SC 28“Great King, any physical… verbal… mental activity that is non-afflictive.”
SC 29“Bhante, what physical… verbal… mental activity is non-afflictive?”
SC 30“Great King, any physical… verbal… mental activity that results in happiness.”
SC 31“Bhante, what physical… verbal… mental activity results in happiness?”
SC 32“Great King, any physical… verbal… mental activity that does not contribute to affliction for oneself, that does not contribute to affliction for others, that does not contribute to affliction for both, that causes unwholesome mindstates to decrease, and that causes wholesome mindstates to increase; Great King, this is the kind of physical… verbal… mental activity that is not criticized by wise contemplatives and Brahmins.”
SC 33“Bhante Ānanda, does the Blessed One praise commitment to all wholesome things?”
SC 34“Great King, the Tathāgata has abandoned all unwholesome mindstates, and is endowed with all wholesome mindstates.”
SC 35“Wonderful, Bhante! Magnificent, Bhante! Bhante, this has been well-said by Venerable Ānanda. Bhante, we are satisfied and pleased with Venerable Ānanda‘s well-spoken statement. Bhante, because we are satisfied and pleased with Venerable Ānanda‘s well-spoken statement, if it was proper for Venerable Ānanda to have a prize elephant, we would give him a prize elephant; if it was proper for Venerable Ānanda to have a prize horse, we would give him a prize horse; if it was proper for Venerable Ānanda to have control of a village, we would give him control of a village. However, Bhante, we know that these things are not proper for Venerable Ānanda. Bhante, I have this cloak, which was sent to me by King Ajātasattu Vedehiputta of Magadha wrapped in a roll of cloth; it is sixteen units long and eight units wide. Bhante, let Venerable Ānanda receive it out of compassion.”
SC 36“Enough, Great King. I already have a complete set of three robes.”
SC 37“Bhante, the river Aciravatī is seen by both Venerable Ānanda and by us. When a great rain-cloud pours rain high in the mountains, then the river Aciravatī overflows both its banks; in the same way, Bhante, with this cloak Venerable Ānanda can make a set of three robes for himself, and whatever cloth is leftover from making Venerable Ānanda‘s set of three robes can be shared with his spiritual companions. In this way, our donation will metaphorically overflow. Bhante, let Venerable Ānanda receive this cloak.” Venerable Ānanda received the cloak.
SC 38Then King Pasenadi of Kosala said to Venerable Ānanda, “Bhante Ānanda, now we will go; we have many duties and much to do.”
SC 39“Great King, do as you see fit.”
SC 40Then King Pasenadi of Kosala, having delighted in Venerable Ānanda‘s statement, rose from his seat, paid respects to Venerable Ānanda, and having done what was respectful, he left.
SC 41Then not long after King Pasenadi of Kosala had left, Venerable Ānanda approached the Blessed One, paid respects to him, and sat to one side. While he was seated to one side, Venerable Ānanda reported to the Blessed One the entire conversation that had occurred with King Pasenadi of Kosala, and gave the cloak to the Blessed One. Then the Blessed One announced to the monks, “Monks, it is a gain for King Pasenadi of Kosala, it is well-gained by King Pasenadi of Kosala, that he got to see Ānanda and attend to him.”
SC 42This is what the Blessed One said. Satisfied, those monks delighted in the Blessed One‘s statement.
Như vầy tôi nghe.
SC 1Một thời Thế Tôn ở Sāvatthi, Jetavana, tại tịnh xá ông Anāthapiṇḍika (Cấp cô độc).
SC 2Rồi Tôn giả Ānanda vào buổi sáng đắp y, cầm y bát, đi vào Sāvatthi để khất thực. Ði khất thực ở Sāvatthi xong, sau bữa ăn, trên con đường khất thực trở về, Tôn giả đi đến lâu đài Pubbārāma Migaramatu (Ðông Viên Lộc Mẫu giảng đường) để nghỉ trưa.
SC 3Lúc bấy giờ, vua Pasenadi nước Kosala cưỡi trên con voi Ekapundarika và đi ra khỏi thành Sāvatthi trong buổi sáng sớm. Vua Pasenadi nước Kosala thấy Tôn giả Ānanda từ xa đi đến, thấy vậy liền nói với vị đại thần Sirivaḍḍha
SC 4—Vị Tôn giả ấy, này Sirivaḍḍha, có phải là Ānanda không?
SC 5—Thưa phải, tâu Ðại vương, Tôn giả ấy là Ānanda.
SC 6Rồi vua Pasenadi nước Kosala nói với một người khác
SC 7—Này Người kia, hãy đi đến Tôn giả Ānanda, sau khi đến, nhân danh ta cúi đầu đảnh lễ chân Tôn giả Ānanda, rồi thưa như sau: “Thưa Tôn giả, nếu Tôn giả Ānanda không có công việc gì phải làm gấp, thưa Tôn giả, mong Tôn giả hãy vì lòng từ chờ đợi một lát”.
SC 8—Thưa vâng, tâu Ðại vương.
SC 9Người ấy vâng đáp vua Pasenadi xứ Kosala, đi đến Tôn giả Ānanda, sau khi đến, đảnh lễ Tôn giả Ānanda rồi đứng một bên. Ðứng một bên, người ấy thưa với Tôn giả Ānanda
SC 10—Thưa Tôn giả, vua Pasenadi nước Kosala cúi đầu đảnh lễ chân Tôn giả Ānanda, và thưa như sau: “Thưa Tôn giả, nếu Tôn giả Ānanda không có công việc gì phải làm gấp, thưa Tôn giả, mong Tôn giả hãy vì lòng từ chờ đợi một lát”.
SC 11Tôn giả Ānanda im lặng nhận lời. Rồi Tôn giả Ānanda đi đến bờ sông Aciravatī, sau khi đến, liền ngồi xuống trên chỗ đã đoạn sẵn, dưới một gốc cây. Rồi vua Pasenadi nước Kosala, cưỡi voi cho đến chỗ nào có thể đi voi được, rồi xuống voi đi bộ đến chỗ Tôn giả Ānanda, sau khi đến, đảnh lễ Tôn giả Ānanda rồi đứng một bên. Ðứng một bên, vua Pasenadi nước Kosala thưa với Tôn giả Ānanda
SC 12—Thưa Tôn giả, ở đây, mong Tôn giả Ānanda ngồi trên thảm ngựa.
SC 13—Thôi vừa rồi, Ðại vương, Ðại vương hãy ngồi. Tôi đã ngồi trên chỗ ngồi của tôi.
SC 14Vua Pasenadi nước Kosala ngồi trên chỗ đã soạn sẵn. Sau khi ngồi, vua Pasenadi nước Kosala thưa với Tôn giả Ānanda
SC 15—Thưa Tôn giả Ānanda, có phải Thế Tôn không làm các thân hành mà các bậc Sa-môn, Bà-la-môn có trí quở trách?
SC 16—Thưa Ðại vương, Thế Tôn không làm các thân hành mà các bậc Sa-môn, Bà-la-môn có trí quở trách.
SC 17—Thưa Tôn giả Ānanda, có phải Thế Tôn không làm các khẩu hành … không làm các ý hành mà các bậc Sa-môn, Bà-la-môn có trí quở trách?
SC 18—Thưa Ðại vương, Thế Tôn không làm các khẩu hành, ý hành mà các bậc Sa-môn, Bà-la-môn có trí quở trách.
SC 19—Thật vi diệu thay, thưa Tôn giả! Thật hy hữu thay, thưa Tôn giả! Thưa Tôn giả, điều mà tôi không thể nói lên một cách đầy đủ trong một câu hỏi, đã được Tôn giả Ānanda nói lên một cách đầy đủ trong câu trả lời câu hỏi. Thưa Tôn giả, khi người ngu si, thiếu kinh nghiệm tán thán hay hủy báng những người khác, mà không chứng nghiệm và suy xét, thì chúng tôi không y cứ vào đấy và xem như là lõi cây. Nhưng thưa Tôn giả, khi người có trí, có kinh nghiệm tán thán hay hủy báng những người khác, có chứng nghiệm và suy xét, thì chúng tôi y cứ vào đấy và xem như là lõi cây.
SC 20Nhưng thưa Tôn giả Ānanda, thế nào là thân hành mà các vị Sa-môn, Bà-la-môn có trí quở trách?
SC 21—Thưa Ðại vương, bất cứ thân hành gì bất thiện.
SC 22—Thưa Tôn giả, thế nào là thân hành bất thiện?
SC 23—Thưa Ðại vương, bất cứ thân hành gì có tội.
SC 24—Thưa Tôn giả, thế nào là thân hành có tội?
SC 25—Thưa Ðại vương, bất cứ thân hành gì có hại.
SC 26—Thưa Tôn giả, thế nào là thân hành có hại?
SC 27—Thưa Ðại vương, bất cứ thân hành nào có khổ báo.
SC 28—Thưa Tôn giả, thế nào là thân hành có khổ báo?
SC 29—Thưa Ðại vương, phàm thân hành gì đưa đến tự hại, đưa đến hại người, đưa đến hại cả hai, từ nơi thân hành ấy, các bất thiện pháp tăng trưởng, các thiện pháp thối giảm. Thưa Ðại vương, thân hành như vậy bị các Sa-môn, Bà-la-môn có trí quở trách.
SC 30—Thưa Tôn giả, thế nào là khẩu hành … thế nào là ý hành bị các Sa-môn, Bà-la-môn có trí quở trách?
SC 31—Thưa Ðại vương, bất cứ ý hành gì bất thiện.
SC 32—Thưa Tôn giả, thế nào là ý hành bất thiện?
SC 33—Thưa Ðại vương, phàm ý hành gì có tội.
SC 34—Thưa Tôn giả, thế nào là ý hành có tội?
SC 35—Thưa Ðại vương, phàm ý hành gì có hại.
SC 36—Thưa Tôn giả, thế nào là ý hành có hại?
SC 37—Thưa Ðại vương, phàm ý hành nào có khổ báo.
SC 38—Thưa Tôn giả, thế nào là ý hành có khổ báo?
SC 39—Thưa Ðại vương, phàm ý hành gì đưa đến tự hại, đưa đến hại người, đưa đến hại cả hai, từ nơi ý hành ấy các bất thiện pháp tăng trưởng, các thiện pháp thối giảm. Thưa Ðại vương, ý hành như vậy bị các Sa-môn, Bà-la-môn có trí quở trách.
SC 40—Thưa Tôn giả Ānanda, có phải Thế Tôn tán thán sự đoạn trừ tất cả bất thiện pháp?
SC 41—Thưa Ðại vương, Như Lai đã đoạn trừ tất cả bất thiện pháp và thành tựu các thiện pháp.
SC 42—Nhưng thưa Tôn giả Ānanda, thế nào là thân hành không bị các Sa-môn, Bà-la-môn có trí quở trách?
SC 43—Thưa Ðại vương, bất cứ thiện thân hành nào.
SC 44—Thưa Tôn giả, thế nào là thiện thân hành?
SC 45—Thưa Ðại vương, phàm thân hành nào không có tội.
SC 46—Thưa Tôn giả, thế nào là thân hành không có tội?
SC 47—Thưa Ðại vương, phàm thân hành nào không có hại.
SC 48—Thưa Tôn giả, thế nào là thân hành không có hại?
SC 49—Thưa Ðại vương, phàm thân hành nào có lạc báo.
SC 50—Thưa tôn giả, thế nào là thân hành có lạc báo?
SC 51—Thưa Ðại vương, phàm thân hành nào không đưa đến tự hại, không đưa đến hại người, không đưa đến hại cả hai, từ nơi thân hành ấy, các bất thiện pháp thối giảm, các thiện pháp tăng trưởng. Thưa Ðại vương, thân hành như vậy không bị các Sa-môn, Bà-la-môn có trí quở trách.
SC 52—Thưa Tôn giả Ānanda, thế nào là khẩu hành … thế nào là ý hành không bị các Sa-môn, Bà-la-môn có trí quở trách?
SC 53—Thưa Ðại vương, bất cứ thiện ý hành nào.
SC 54—Thưa Tôn giả, thế nào là thiện ý hành?
SC 55—Thưa Ðại vương, phàm ý hành nào không có tội.
SC 56—Thưa Tôn giả, thế nào là ý hành không có tội?
SC 57—Thưa Ðại vương, phàm ý hành nào không có hại.
SC 58—Thưa Tôn giả, thế nào là ý hành không có hại?
SC 59—Thưa Ðại vương, phàm ý hành nào có lạc báo.
SC 60—Thưa Tôn giả, thế nào là ý hành có lạc báo?
SC 61—Thưa Ðại vương, phàm ý hành nào không đưa đến tự hại, không đưa đến hại người, không đưa đến hại cả hai, từ nơi ý hành ấy, các bất thiện pháp thối giảm, các thiện pháp tăng trưởng. Thưa Ðại vương, ý hành như vậy không bị các Sa-môn, Bà-la-môn có trí quở trách.
SC 62—Thưa Tôn giả Ānanda, có phải Thế Tôn tán thán sự thành tựu tất cả thiện pháp?
SC 63—Thưa Ðại vương, Như Lai đã đoạn trừ tất cả bất thiện pháp, và thành tựu các thiện pháp.
SC 64—Thật vi diệu thay, thưa Tôn giả! Thật hy hữu thay, thưa Tôn giả! Thật khéo nói thay việc này, thưa Tôn giả. Do Tôn giả Ānanda mà chúng tôi, thưa Tôn giả, được hoan hỷ và thỏa mãn với những lời khéo nói của Tôn giả Ānanda. Ðược hoan hỷ và thỏa mãn, thưa Tôn giả, với những lời khéo nói của Tôn giả Ānanda, chúng tôi vui lòng tặng một con voi báu cho Tôn giả Ānanda, nếu Tôn giả Ānanda được phép nhận con voi báu. Chúng tôi vui lòng tặng con ngựa báu cho Tôn giả Ānanda, nếu Tôn giả Ānanda được phép nhận con ngựa báu. Chúng tôi vui lòng tặng một làng ân tứ cho Tôn giả Ānanda, nếu Tôn giả Ānanda được phép nhận một làng ân tứ. Nhưng thưa Tôn giả, chúng tôi được biết như sau: “Việc này Tôn giả Ānanda không được phép”. Thưa Tôn giả, có cuộn vải ngoại hóa này, được gắn vào trong một cán dù, do vua Ajātasattu, con bà Videhi nước Magadha gởi cho tôi, dài mười sáu khuỷu tay, rộng tám khuỷu tay. Thưa Toân giả, mong Tôn giả Ānanda vì lòng từ bi nạp thọ cho.
SC 65—Thôi vừa rồi, Ðại vương! Tôi đã đủ ba y.
SC 66—Thưa Tôn giả, sau cơn mưa lớn trên sườn núi, cả Tôn giả và tôi đã thấy lúc ấy sông Aciravatī chảy mạnh, tràn qua hai bên bờ như thế nào. Cũng vậy, thưa Tôn giả, Tôn giả Ānanda có thể làm cho mình ba y, từ nơi tấm vải ngoại hóa này. Còn ba y cũ, Tôn giả Ānanda có thể đem phân phát cho các đồng Phạm hạnh. Như vậy sự bố thí này của chúng tôi được trôi chảy, như nước lan tràn qua bờ. Thưa Tôn giả, mong Tôn giả nhận cho tấm vải ngoại hóa này.
SC 67Rồi Tôn giả Ānanda nhận lấy tấm vải ngoại hóa. Rồi vua Pasenadi nước Kosala thưa với Tôn giả Ānanda
SC 68—Thưa Tôn giả Ānanda, nay chúng tôi phải đi. Chúng tôi có nhiều công vụ, có nhiều trách nhiệm phải làm.
SC 69—Thưa Ðại vương, nay Ðại vương hãy làm gì Ðại vương nghĩ là hợp thời.
SC 70Rồi vua Pasenadi nước Kosala hoan hỷ, tín thọ lời Tôn giả Ānanda dạy, từ chỗ ngồi đứng dậy, thân bên hữu hướng về ngài, rồi ra đi.
SC 71Tôn giả Ānanda, sau khi vua Pasenadi nước Kosala ra đi không bao lâu, liền đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Ānanda tường thuật lên Thế Tôn tất cả cuộc đàm thoại với vua Pasenadi nước Kosala rồi dâng tấm vải ngoại hóa lên Thế Tôn.
SC 72Thế Tôn nói với các Tỷ-kheo
SC 73—Thật hạnh phúc thay cho vua Pasenadi nước Kosala! Thật tốt đẹp thay cho vua Pasenadi nước Kosala! Vua đã được yết kiến Tôn giả Ānanda và được cúng dường.
SC 74Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Các Tỷ-kheo ấy hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy.
Evaṁ me sutaṁ—
ekaṁ samayaṁ bhagavā sāvatthiyaṁ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme.
Atha kho āyasmā ānando pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya sāvatthiyaṁ piṇḍāya pāvisi.
Sāvatthiyaṁ piṇḍāya caritvā pacchābhattaṁ piṇḍapātapaṭikkanto yena pubbārāmo migāramātupāsādo tenupasaṅkami divāvihārāya.
Tena kho pana samayena rājā pasenadi kosalo ekapuṇḍarīkaṁ nāgaṁ abhiruhitvā sāvatthiyā niyyāti divā divassa.
Addasā kho rājā pasenadi kosalo āyasmantaṁ ānandaṁ dūratova āgacchantaṁ.
Disvāna sirivaḍḍhaṁ mahāmattaṁ āmantesi:
“āyasmā no eso, samma sirivaḍḍha, ānando”ti.
“Evaṁ, mahārāja, āyasmā eso ānando”ti.
Atha kho rājā pasenadi kosalo aññataraṁ purisaṁ āmantesi:
“ehi tvaṁ, ambho purisa, yenāyasmā ānando tenupasaṅkama; upasaṅkamitvā mama vacanena āyasmato ānandassa pāde sirasā vandāhi:
‘rājā, bhante, pasenadi kosalo āyasmato ānandassa pāde sirasā vandatī’ti;
evañca vadehi:
‘sace kira, bhante, āyasmato ānandassa na kiñci accāyikaṁ karaṇīyaṁ, āgametu kira, bhante, āyasmā ānando muhuttaṁ anukampaṁ upādāyā’”ti.
“Evaṁ, devā”ti kho so puriso rañño pasenadissa kosalassa paṭissutvā yenāyasmā ānando tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmantaṁ ānandaṁ abhivādetvā ekamantaṁ aṭṭhāsi. Ekamantaṁ ṭhito kho so puriso āyasmantaṁ ānandaṁ etadavoca:
“rājā, bhante, pasenadi kosalo āyasmato ānandassa pāde sirasā vandati;
evañca vadeti:
‘sace kira, bhante, āyasmato ānandassa na kiñci accāyikaṁ karaṇīyaṁ, āgametu kira, bhante, āyasmā ānando muhuttaṁ anukampaṁ upādāyā’”ti.
Adhivāsesi kho āyasmā ānando tuṇhībhāvena.
Atha kho rājā pasenadi kosalo yāvatikā nāgassa bhūmi nāgena gantvā nāgā paccorohitvā pattikova yenāyasmā ānando tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmantaṁ ānandaṁ abhivādetvā ekamantaṁ aṭṭhāsi. Ekamantaṁ ṭhito kho rājā pasenadi kosalo āyasmantaṁ ānandaṁ etadavoca:
“sace, bhante, āyasmato ānandassa na kiñci accāyikaṁ karaṇīyaṁ, sādhu, bhante, āyasmā ānando yena aciravatiyā nadiyā tīraṁ tenupasaṅkamatu anukampaṁ upādāyā”ti.
Adhivāsesi kho āyasmā ānando tuṇhībhāvena.
Atha kho āyasmā ānando yena aciravatiyā nadiyā tīraṁ tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā aññatarasmiṁ rukkhamūle paññatte āsane nisīdi.
Atha kho rājā pasenadi kosalo yāvatikā nāgassa bhūmi nāgena gantvā nāgā paccorohitvā pattikova yenāyasmā ānando tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmantaṁ ānandaṁ abhivādetvā ekamantaṁ aṭṭhāsi. Ekamantaṁ ṭhito kho rājā pasenadi kosalo āyasmantaṁ ānandaṁ etadavoca:
“idha, bhante, āyasmā ānando hatthatthare nisīdatū”ti.
“Alaṁ, mahārāja.
Nisīda tvaṁ;
nisinno ahaṁ sake āsane”ti.
Nisīdi kho rājā pasenadi kosalo paññatte āsane.
Nisajja kho rājā pasenadi kosalo āyasmantaṁ ānandaṁ etadavoca:
“kiṁ nu kho, bhante ānanda, so bhagavā tathārūpaṁ kāyasamācāraṁ samācareyya, yvāssa kāyasamācāro opārambho samaṇehi brāhmaṇehī”ti?
“Na kho, mahārāja, so bhagavā tathārūpaṁ kāyasamācāraṁ samācareyya, yvāssa kāyasamācāro opārambho samaṇehi brāhmaṇehi viññūhī”ti.
“Kiṁ pana, bhante ānanda, so bhagavā tathārūpaṁ vacīsamācāraṁ …pe…
manosamācāraṁ samācareyya, yvāssa manosamācāro opārambho samaṇehi brāhmaṇehī”ti?
“Na kho, mahārāja, so bhagavā tathārūpaṁ manosamācāraṁ samācareyya, yvāssa manosamācāro opārambho samaṇehi brāhmaṇehi viññūhī”ti.
“Acchariyaṁ, bhante, abbhutaṁ, bhante.
Yañhi mayaṁ, bhante, nāsakkhimhā pañhena paripūretuṁ taṁ, bhante, āyasmatā ānandena pañhassa veyyākaraṇena paripūritaṁ.
Ye te, bhante, bālā abyattā ananuvicca apariyogāhetvā paresaṁ vaṇṇaṁ vā avaṇṇaṁ vā bhāsanti, na mayaṁ taṁ sārato paccāgacchāma;
ye pana te, bhante, paṇḍitā viyattā medhāvino anuvicca pariyogāhetvā paresaṁ vaṇṇaṁ vā avaṇṇaṁ vā bhāsanti, mayaṁ taṁ sārato paccāgacchāma.
Katamo pana, bhante ānanda, kāyasamācāro opārambho samaṇehi brāhmaṇehi viññūhī”ti?
“Yo kho, mahārāja, kāyasamācāro akusalo”.
“Katamo pana, bhante, kāyasamācāro akusalo”?
“Yo kho, mahārāja, kāyasamācāro sāvajjo”.
“Katamo pana, bhante, kāyasamācāro sāvajjo”?
“Yo kho, mahārāja, kāyasamācāro sabyābajjho”.
“Katamo pana, bhante, kāyasamācāro sabyābajjho”?
“Yo kho, mahārāja, kāyasamācāro dukkhavipāko”.
“Katamo pana, bhante, kāyasamācāro dukkhavipāko”?
“Yo kho, mahārāja, kāyasamācāro attabyābādhāyapi saṁvattati, parabyābādhāyapi saṁvattati, ubhayabyābādhāyapi saṁvattati.
Tassa akusalā dhammā abhivaḍḍhanti, kusalā dhammā parihāyanti;
evarūpo kho, mahārāja, kāyasamācāro opārambho samaṇehi brāhmaṇehi viññūhī”ti.
“Katamo pana, bhante ānanda, vacīsamācāro …pe…
manosamācāro opārambho samaṇehi brāhmaṇehi viññūhī”ti?
“Yo kho, mahārāja, manosamācāro akusalo”.
“Katamo pana, bhante, manosamācāro akusalo”?
“Yo kho, mahārāja, manosamācāro sāvajjo”.
“Katamo pana, bhante, manosamācāro sāvajjo”?
“Yo kho, mahārāja, manosamācāro sabyābajjho”.
“Katamo pana, bhante, manosamācāro sabyābajjho”?
“Yo kho, mahārāja, manosamācāro dukkhavipāko”.
“Katamo pana, bhante, manosamācāro dukkhavipāko”?
“Yo kho, mahārāja, manosamācāro attabyābādhāyapi saṁvattati, parabyābādhāyapi saṁvattati, ubhayabyābādhāyapi saṁvattati.
Tassa akusalā dhammā abhivaḍḍhanti, kusalā dhammā parihāyanti;
evarūpo kho, mahārāja, manosamācāro opārambho samaṇehi brāhmaṇehi viññūhī”ti.
“Kiṁ nu kho, bhante ānanda, so bhagavā sabbesaṁyeva akusalānaṁ dhammānaṁ pahānaṁ vaṇṇetī”ti?
“Sabbākusaladhammapahīno kho, mahārāja, tathāgato kusaladhammasamannāgato”ti.
“Katamo pana, bhante ānanda, kāyasamācāro anopārambho samaṇehi brāhmaṇehi viññūhī”ti?
“Yo kho, mahārāja, kāyasamācāro kusalo”.
“Katamo pana, bhante, kāyasamācāro kusalo”?
“Yo kho, mahārāja, kāyasamācāro anavajjo”.
“Katamo pana, bhante, kāyasamācāro anavajjo”?
“Yo kho, mahārāja, kāyasamācāro abyābajjho”.
“Katamo pana, bhante, kāyasamācāro abyābajjho”?
“Yo kho, mahārāja, kāyasamācāro sukhavipāko”.
“Katamo pana, bhante, kāyasamācāro sukhavipāko”?
“Yo kho, mahārāja, kāyasamācāro nevattabyābādhāyapi saṁvattati, na parabyābādhāyapi saṁvattati, na ubhayabyābādhāyapi saṁvattati.
Tassa akusalā dhammā parihāyanti, kusalā dhammā abhivaḍḍhanti.
Evarūpo kho, mahārāja, kāyasamācāro anopārambho samaṇehi brāhmaṇehi viññūhī”ti.
“Katamo pana, bhante ānanda, vacīsamācāro …pe…
manosamācāro anopārambho samaṇehi brāhmaṇehi viññūhī”ti?
“Yo kho, mahārāja, manosamācāro kusalo”.
“Katamo pana, bhante, manosamācāro kusalo”?
“Yo kho, mahārāja, manosamācāro anavajjo”.
“Katamo pana, bhante, manosamācāro anavajjo”?
“Yo kho, mahārāja, manosamācāro abyābajjho”.
“Katamo pana, bhante, manosamācāro abyābajjho”?
“Yo kho, mahārāja, manosamācāro sukhavipāko”.
“Katamo pana, bhante, manosamācāro sukhavipāko”?
“Yo kho, mahārāja, manosamācāro nevattabyābādhāyapi saṁvattati, na parabyābādhāyapi saṁvattati, na ubhayabyābādhāyapi saṁvattati.
Tassa akusalā dhammā parihāyanti, kusalā dhammā abhivaḍḍhanti.
Evarūpo kho, mahārāja, manosamācāro anopārambho samaṇehi brāhmaṇehi viññūhī”ti.
“Kiṁ pana, bhante ānanda, so bhagavā sabbesaṁyeva kusalānaṁ dhammānaṁ upasampadaṁ vaṇṇetī”ti?
“Sabbākusaladhammapahīno kho, mahārāja, tathāgato kusaladhammasamannāgato”ti.
“Acchariyaṁ, bhante, abbhutaṁ, bhante.
Yāva subhāsitañcidaṁ, bhante, āyasmatā ānandena.
Iminā ca mayaṁ, bhante, āyasmato ānandassa subhāsitena attamanābhiraddhā.
Evaṁ attamanābhiraddhā ca mayaṁ, bhante, āyasmato ānandassa subhāsitena.
Sace, bhante, āyasmato ānandassa hatthiratanaṁ kappeyya, hatthiratanampi mayaṁ āyasmato ānandassa dadeyyāma.
Sace, bhante, āyasmato ānandassa assaratanaṁ kappeyya, assaratanampi mayaṁ āyasmato ānandassa dadeyyāma.
Sace, bhante, āyasmato ānandassa gāmavaraṁ kappeyya, gāmavarampi mayaṁ āyasmato ānandassa dadeyyāma.
Api ca, bhante, mayampetaṁ jānāma:
‘netaṁ āyasmato ānandassa kappatī’ti.
Ayaṁ me, bhante, bāhitikā raññā māgadhena ajātasattunā vedehiputtena vatthanāḷiyā pakkhipitvā pahitā soḷasasamā āyāmena, aṭṭhasamā vitthārena.
Taṁ, bhante, āyasmā ānando paṭiggaṇhātu anukampaṁ upādāyā”ti.
“Alaṁ, mahārāja, paripuṇṇaṁ me ticīvaran”ti.
“Ayaṁ, bhante, aciravatī nadī diṭṭhā āyasmatā ceva ānandena amhehi ca.
Yadā uparipabbate mahāmegho abhippavuṭṭho hoti, athāyaṁ aciravatī nadī ubhato kūlāni saṁvissandantī gacchati;
evameva kho, bhante, āyasmā ānando imāya bāhitikāya attano ticīvaraṁ karissati.
Yaṁ panāyasmato ānandassa purāṇaṁ ticīvaraṁ taṁ sabrahmacārīhi saṁvibhajissati.
Evāyaṁ amhākaṁ dakkhiṇā saṁvissandantī maññe gamissati.
Paṭiggaṇhātu, bhante, āyasmā ānando bāhitikan”ti.
Paṭiggahesi kho āyasmā ānando bāhitikaṁ.
Atha kho rājā pasenadi kosalo āyasmantaṁ ānandaṁ etadavoca:
“handa ca dāni mayaṁ, bhante ānanda, gacchāma;
bahukiccā mayaṁ bahukaraṇīyā”ti.
“Yassadāni tvaṁ, mahārāja, kālaṁ maññasī”ti.
Atha kho rājā pasenadi kosalo āyasmato ānandassa bhāsitaṁ abhinanditvā anumoditvā uṭṭhāyāsanā āyasmantaṁ ānandaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā pakkāmi.
Atha kho āyasmā ānando acirapakkantassa rañño pasenadissa kosalassa yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi.
Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā ānando yāvatako ahosi raññā pasenadinā kosalena saddhiṁ kathāsallāpo taṁ sabbaṁ bhagavato ārocesi.
Tañca bāhitikaṁ bhagavato pādāsi.
Atha kho bhagavā bhikkhū āmantesi:
“lābhā, bhikkhave, rañño pasenadissa kosalassa, suladdhalābhā, bhikkhave, rañño pasenadissa kosalassa;
yaṁ rājā pasenadi kosalo labhati ānandaṁ dassanāya, labhati payirupāsanāyā”ti.
Idamavoca bhagavā.
Attamanā te bhikkhū bhagavato bhāsitaṁ abhinandunti.
Bāhitikasuttaṁ niṭṭhitaṁ aṭṭhamaṁ.