Như vầy tôi nghe.
SC 1Một thời, Thế Tôn ở Rājagaha (Vương Xá), Veluvana (Trúc lâm), tại chỗ nuôi dưỡng sóc (Kalandakanivapa).
SC 2Rồi Tôn giả Sāriputta vào buổi chiều, từ Thiền tịnh độc cư đứng dậy, đi đến Thế Tôn, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với Tôn giả Sāriputta đang ngồi một bên
SC 3—Này Sāriputta, các căn của Ông rất sáng suốt, sắc da của Ông thanh tịnh trong sáng. Này Sāriputta, Ông nay đang phần lớn an trú với loại an trú nào?
SC 4—Bạch Thế Tôn, con nay đang phần lớn an trú với Không trú.
SC 5—Lành thay, lành thay! Này Sāriputta, Ông nay đang phần lớn an trú với sự an trú của bậc Ðại nhân. Này Sāriputta, sự an trú của bậc Ðại nhân tức là không tánh. Do vậy, này Sāriputta, nếu Tỷ-kheo ước mong rằng: “Mong rằng tôi nay phần lớn an trú với sự an trú không tánh”, thời này Sāriputta, Tỷ-kheo ấy cần phải suy tư như sau: “Trên con đường ta đã đi vào làng để khất thực, tại trú xứ ta đã đi khất thực, và trên con đường từ làng ta đi khất thực trở về, tại chỗ ấy, đối với các sắc do mắt nhận thức, có khởi lên ở nơi ta dục, tham, sân si, hay hận tâm không?”
SC 6Này Sāriputta, nếu Tỷ-kheo sau khi tư duy biết rằng: “Trên con đường ta đã đi vào làng để khất thực, tại trú xứ ta đã đi khất thực và trên con đường từ làng ta đi khất thực trở về, đối với các sắc do mắt nhận thức, có khởi lên nơi ta dục, tham, sân, si hay hận tâm”, thời này Sāriputta, Tỷ-kheo ấy phải tinh tấn đoạn tận các ác bất thiện pháp ấy. Nhưng này Sāriputta, nếu Tỷ-kheo trong khi suy tư được biết như sau: “Trên con đường ta đã đi … ta đi khất thực trở về, đối với các sắc do mắt nhận thức, không có khởi lên nơi dục, tham, sân, si hay hận tâm”, thời này Sāriputta, Tỷ-kheo ấy phải an trú với hỷ và hân hoan ngày đêm tu học trong các thiện pháp.
SC 7Lại nữa, này Sāriputta, Tỷ-kheo cần phải suy tư như sau: “Trên con đường ta đã đi …, ta đi khất thực trở về, đối với các tiếng do tai nhận thức, … đối với các hương do mũi nhận thức, … đối với cácvị do lưỡi nhận thức, … đối với các xúc do thân nhận thức, … đối với các pháp do ý nhận thức, có khởi lên dục, tham, sân, si hay hận tâm không?”
SC 8Này Sāriputta, nếu Tỷ-kheo trong khi suy tư được biết như sau: “Trên con đường ta đã đi …, ta đi khất thực trở về, đối với các tiếng do tai nhận thức, … đối với các hương do mũi nhận thức, … đối với các vị do lưỡi nhận thức, … đối với các xúc do thân nhận thức, … đối với các pháp do ý nhận thức, có khởi lên nơi ta dục, tham, sân, si, hay hận tâm”, thời này Sāriputta, Tỷ-kheo ấy phải tinh tấn đoạn tận các ác bất thiện pháp ấy. Nhưng này Sāriputta, nếu Tỷ-kheo trong khi suy tư được biết như sau: “Trên con đường ta đã đi…, ta đi khất thực trở về, đối với các tiếng do tai nhận thức, … đối với các hương do mũi nhận thức, … đối với các vị do lưỡi nhận thức, … đối với các xúc do thân nhận thức, … đối với các pháp do ý nhận thức, không có khởi lên nơi ta dục, tham, sân, si hay hận tâm”, thời này Sāriputta, Tỷ-kheo ấy phải an trú với hỷ và hân hoan ngày đêm tu học trong các thiện pháp.
SC 9Lại nữa, này Sāriputta, Tỷ-kheo cần phải suy tư như sau: “Ta đã đoạn tận năm dục trưởng dưỡng chưa? Này Sāriputta, nếu Tỷ-kheo, trong khi suy tư được biết như sau: “Ta chưa đoạn tận năm dục trưởng dưỡng”, thời này Sāriputta, Tỷ-kheo ấy phải tinh tấn đoạn tận năm dục trưởng dưỡng. Nhưng nếu, này Sāriputta, Tỷ-kheo trong khi suy tư được biết như sau: “Ta đã đoạn tận năm dục trưởng dưỡng”, thời này Sāriputta, Tỷ-kheo ấy phải an trú với hỷ và hân hoan ngày đêm tu học trong các thiện pháp.
SC 10Lại nữa, này Sāriputta, Tỷ-kheo cần phải suy tư như sau: “Ta đã đoạn tận năm triền cái chưa?” Nếu, này Sāriputta, trong khi suy tư, Tỷ-kheo được biết như sau: “Ta chưa đoạn tận năm triền cái”, thời này Sāriputta, Tỷ-kheo ấy phải tinh tấn đoạn tận năm triền cái. Nhưng nếu, này Sāriputta, Tỷ-kheo trong khi suy tư được biết như sau: “Ta đã đoạn tận năm triền cái ”, thời này Sāriputta, Tỷ-kheo ấy phải an trú với hỷ và hân hoan ngày đêm tu học trong các thiện pháp.
SC 11Lại nữa, này Sāriputta, Tỷ-kheo cần phải suy tư: “Ta có liễu tri năm thủ uẩn chưa?” Này Sāriputta, nếu trong khi suy tư, Tỷ-kheo được biết như sau: “Ta chưa có liễu tri năm thủ uẩn”, thời này Sāriputta, Tỷ-kheo ấy cần phải tinh tán liễu tri năm thủ uẩn. Nhưng nếu, này Sāriputta, trong khi suy tư, Tỷ-kheo ấy được biết như sau: “Ta đã liễu tri năm thủ uẩn”, thời này Sāriputta, vị Tỷ-kheo ấy phải an trú với hỷ và hân hoan ngày đêm tu học trong các thiện pháp.
SC 12Lại nữa, này Sāriputta, Tỷ-kheo cần phải suy tư như sau: “Ta đã tu tập bốn niệm xứ chưa?” Này Sāriputta, nếu trong khi suy tư, Tỷ-kheo được biết: “Ta chưa tu tập bốn niệm xứ”, thời này Sāriputta, vị Tỷ-kheo cần phải tinh tấn tu tập bốn niệm xứ. Nhưng nếu, này Sāriputta, trong khi suy tư, Tỷ-kheo được biết như sau: “Ta đã tu tập bốn niệm xứ ”, thời này Sāriputta, Tỷ-kheo ấy cần phải an trú với hỷ và hân hoan ngày đêm tu học trong các thiện pháp.
SC 13Lại nữa, này Sāriputta, Tỷ-kheo cần phải suy tư: “Ta đã tu tập bốn chánh cần chưa? ” … “Ta đã tu tập bốn như ý túc chưa?” … “Ta đã tu tập năm căn chưa?” … “Ta đã tu tập năm lực chưa?” … “Ta đã tu tập bảy giác chi chưa?” … Lại nữa, này Sāriputta, Tỷ-kheo cần phải suy tư như sau: “Ta đã tu tập Thánh đạo Tám ngành chưa?” Nếu Tỷ-kheo, này Sāriputta, trong khi suy tư được biết như sau: “Ta chưa tu tập Thánh đạo Tám ngành”, thời này Sāriputta, Tỷ-kheo ấy cần phải tinh tấn tu tập Thánh đạo Tám ngành. Nhưng nếu, này Sāriputta, Tỷ-kheo trong khi suy tư được biết như sau: “Ta đã tu tập Thánh đạo Tám ngành”, thời này Sāriputta, Tỷ-kheo ấy cần phải an trú trong hỷ và hân hoan ngày đêm tu học trong các thiện pháp.
SC 14Lại nữa, này Sāriputta, Tỷ-kheo cần phải suy tư: “Ta đã tu tập Chỉ và Quán chưa? ” Nếu Tỷ-kheo, này Sāriputta, trong khi suy tư được biết như sau: “Ta chưa tu tập Chỉ và Quán ”, thời này Sāriputta, Tỷ-kheo ấy cần phải tinh tấn tu tập Chỉ và Quán. Nhưng nếu, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo trong khi suy tư được biết như sau: “Ta đã tu tập Chỉ và Quán ”, thời này Sāriputta, Tỷ-kheo ấy cần phải an trú với hỷ và hân hoan ngày đêm tu học trong các thiện pháp.
SC 15Lại nữa, này Sāriputta, Tỷ-kheo cần phải suy tư như sau: “Ta đã chứng ngộ minh và giải thoát chưa? ” Nếu Tỷ-kheo, này Sāriputta, trong khi suy tư được biết như sau: “Ta chưa chứng ngộ minh và giải thoát”, thời này Sāriputta, Tỷ-kheo ấy cần phải tinh tấn tu tập minh và giải thoát. Nhưng nếu, này Sāriputta, Tỷ-kheo trong khi suy tư được biết như sau: “Ta đã chứng ngộ minh và giải thoát ”, thời này Sāriputta, Tỷ-kheo ấy cần phải an trú với hỷ và hân hoan ngày đêm tu học trong các thiện pháp.
SC 16Này Sāriputta, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào trong thời quá khứ đã làm cho khất thực được thanh tịnh, tất cả những vị ấy đã làm cho khất thực được thanh tịnh bằng cách suy tư, suy tư như vậy. Này Sāriputta, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào trong thời gian tương lai sẽ làm cho khất thực được thanh tịnh, tất cả những vị ấy sẽ làm cho khất thực được thanh tịnh, bằng cách suy tư, suy tư như vậy. Và này Sāriputta, những Sa-môn, Bà-la-môn nào trong thời hiện tại, làm cho khất thực được thanh tịnh, tất cả những vị ấy đã làm cho khất thực được thanh tịnh, bằng cách suy tư, suy tư như vậy. Vậy này Sāriputta, các Ông cần phải học tập như sau: “Sau khi suy tư, suy tư, chúng ta sẽ làm cho khất thực được thanh tịnh”. Này Sāriputta, các Ông phải tu tập như vậy.
SC 17Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Tôn giả Sāriputta hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy.
Evaṁ me sutaṁ—
ekaṁ samayaṁ bhagavā rājagahe viharati veḷuvane kalandakanivāpe.
Atha kho āyasmā sāriputto sāyanhasamayaṁ paṭisallānā vuṭṭhito yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnaṁ kho āyasmantaṁ sāriputtaṁ bhagavā etadavoca:
“Vippasannāni kho te, sāriputta, indriyāni, parisuddho chavivaṇṇo pariyodāto.
Katamena kho tvaṁ, sāriputta, vihārena etarahi bahulaṁ viharasī”ti?
“Suññatāvihārena kho ahaṁ, bhante, etarahi bahulaṁ viharāmī”ti.
“Sādhu sādhu, sāriputta.
Mahāpurisavihārena kira tvaṁ, sāriputta, etarahi bahulaṁ viharasi.
Mahāpurisavihāro eso, sāriputta, yadidaṁ—
suññatā.
Tasmātiha, sāriputta, bhikkhu sace ākaṅkheyya:
‘suññatāvihārena bahulaṁ vihareyyan’ti, tena, sāriputta, bhikkhunā iti paṭisañcikkhitabbaṁ:
‘yena cāhaṁ maggena gāmaṁ piṇḍāya pāvisiṁ, yasmiñca padese piṇḍāya acariṁ, yena ca maggena gāmato piṇḍāya paṭikkamiṁ, atthi nu kho me tattha cakkhuviññeyyesu rūpesu chando vā rāgo vā doso vā moho vā paṭighaṁ vāpi cetaso’ti?
Sace, sāriputta, bhikkhu paccavekkhamāno evaṁ jānāti:
‘yena cāhaṁ maggena gāmaṁ piṇḍāya pāvisiṁ, yasmiñca padese piṇḍāya acariṁ, yena ca maggena gāmato piṇḍāya paṭikkamiṁ, atthi me tattha cakkhuviññeyyesu rūpesu chando vā rāgo vā doso vā moho vā paṭighaṁ vāpi cetaso’ti, tena, sāriputta, bhikkhunā tesaṁyeva pāpakānaṁ akusalānaṁ dhammānaṁ pahānāya vāyamitabbaṁ.
Sace pana, sāriputta, bhikkhu paccavekkhamāno evaṁ jānāti:
‘yena cāhaṁ maggena gāmaṁ piṇḍāya pāvisiṁ, yasmiñca padese piṇḍāya acariṁ, yena ca maggena gāmato piṇḍāya paṭikkamiṁ, natthi me tattha cakkhuviññeyyesu rūpesu chando vā rāgo vā doso vā moho vā paṭighaṁ vāpi cetaso’ti, tena, sāriputta, bhikkhunā teneva pītipāmojjena vihātabbaṁ ahorattānusikkhinā kusalesu dhammesu.
Puna caparaṁ, sāriputta, bhikkhunā iti paṭisañcikkhitabbaṁ:
‘yena cāhaṁ maggena gāmaṁ piṇḍāya pāvisiṁ, yasmiñca padese piṇḍāya acariṁ, yena ca maggena gāmato piṇḍāya paṭikkamiṁ, atthi nu kho me tattha sotaviññeyyesu saddesu …pe…
ghānaviññeyyesu gandhesu …
jivhāviññeyyesu rasesu …
kāyaviññeyyesu phoṭṭhabbesu …
manoviññeyyesu dhammesu chando vā rāgo vā doso vā moho vā paṭighaṁ vāpi cetaso’ti?
Sace, sāriputta, bhikkhu paccavekkhamāno evaṁ jānāti:
‘yena cāhaṁ maggena gāmaṁ piṇḍāya pāvisiṁ, yasmiñca padese piṇḍāya acariṁ, yena ca maggena gāmato piṇḍāya paṭikkamiṁ, atthi me tattha manoviññeyyesu dhammesu chando vā rāgo vā doso vā moho vā paṭighaṁ vāpi cetaso’ti, tena, sāriputta, bhikkhunā tesaṁyeva pāpakānaṁ akusalānaṁ dhammānaṁ pahānāya vāyamitabbaṁ.
Sace pana, sāriputta, bhikkhu paccavekkhamāno evaṁ jānāti:
‘yena cāhaṁ maggena gāmaṁ piṇḍāya pāvisiṁ, yasmiñca padese piṇḍāya acariṁ, yena ca maggena gāmato piṇḍāya paṭikkamiṁ, natthi me tattha manoviññeyyesu dhammesu chando vā rāgo vā doso vā moho vā paṭighaṁ vāpi cetaso’ti, tena, sāriputta, bhikkhunā teneva pītipāmojjena vihātabbaṁ ahorattānusikkhinā kusalesu dhammesu.
Puna caparaṁ, sāriputta, bhikkhunā iti paṭisañcikkhitabbaṁ:
‘pahīnā nu kho me pañca kāmaguṇā’ti?
Sace, sāriputta, bhikkhu paccavekkhamāno evaṁ jānāti:
‘appahīnā kho me pañca kāmaguṇā’ti, tena, sāriputta, bhikkhunā pañcannaṁ kāmaguṇānaṁ pahānāya vāyamitabbaṁ.
Sace pana, sāriputta, bhikkhu paccavekkhamāno evaṁ jānāti:
‘pahīnā kho me pañca kāmaguṇā’ti, tena, sāriputta, bhikkhunā teneva pītipāmojjena vihātabbaṁ ahorattānusikkhinā kusalesu dhammesu.
Puna caparaṁ, sāriputta, bhikkhunā iti paṭisañcikkhitabbaṁ:
‘pahīnā nu kho me pañca nīvaraṇā’ti?
Sace, sāriputta, bhikkhu paccavekkhamāno evaṁ jānāti:
‘appahīnā kho me pañca nīvaraṇā’ti, tena, sāriputta, bhikkhunā pañcannaṁ nīvaraṇānaṁ pahānāya vāyamitabbaṁ.
Sace pana, sāriputta, bhikkhu paccavekkhamāno evaṁ jānāti:
‘pahīnā kho me pañca nīvaraṇā’ti, tena, sāriputta, bhikkhunā teneva pītipāmojjena vihātabbaṁ ahorattānusikkhinā kusalesu dhammesu.
Puna caparaṁ, sāriputta, bhikkhunā iti paṭisañcikkhitabbaṁ:
‘pariññātā nu kho me pañcupādānakkhandhā’ti?
Sace, sāriputta, bhikkhu paccavekkhamāno evaṁ jānāti:
‘apariññātā kho me pañcupādānakkhandhā’ti, tena, sāriputta, bhikkhunā pañcannaṁ upādānakkhandhānaṁ pariññāya vāyamitabbaṁ.
Sace pana, sāriputta, bhikkhu paccavekkhamāno evaṁ jānāti:
‘pariññātā kho me pañcupādānakkhandhā’ti, tena, sāriputta, bhikkhunā teneva pītipāmojjena vihātabbaṁ ahorattānusikkhinā kusalesu dhammesu.
Puna caparaṁ, sāriputta, bhikkhunā iti paṭisañcikkhitabbaṁ:
‘bhāvitā nu kho me cattāro satipaṭṭhānā’ti?
Sace, sāriputta, bhikkhu paccavekkhamāno evaṁ jānāti:
‘abhāvitā kho me cattāro satipaṭṭhānā’ti, tena, sāriputta, bhikkhunā catunnaṁ satipaṭṭhānānaṁ bhāvanāya vāyamitabbaṁ.
Sace pana, sāriputta, bhikkhu paccavekkhamāno evaṁ jānāti:
‘bhāvitā kho me cattāro satipaṭṭhānā’ti, tena, sāriputta, bhikkhunā teneva pītipāmojjena vihātabbaṁ ahorattānusikkhinā kusalesu dhammesu.
Puna caparaṁ, sāriputta, bhikkhunā iti paṭisañcikkhitabbaṁ:
‘bhāvitā nu kho me cattāro sammappadhānā’ti?
Sace, sāriputta, bhikkhu paccavekkhamāno evaṁ jānāti:
‘abhāvitā kho me cattāro sammappadhānā’ti, tena, sāriputta, bhikkhunā catunnaṁ sammappadhānānaṁ bhāvanāya vāyamitabbaṁ.
Sace pana, sāriputta, bhikkhu paccavekkhamāno evaṁ jānāti:
‘bhāvitā kho me cattāro sammappadhānā’ti, tena, sāriputta, bhikkhunā teneva pītipāmojjena vihātabbaṁ ahorattānusikkhinā kusalesu dhammesu.
Puna caparaṁ, sāriputta, bhikkhunā iti paṭisañcikkhitabbaṁ:
‘bhāvitā nu kho me cattāro iddhipādā’ti?
Sace, sāriputta, bhikkhu paccavekkhamāno evaṁ jānāti:
‘abhāvitā kho me cattāro iddhipādā’ti, tena, sāriputta, bhikkhunā catunnaṁ iddhipādānaṁ bhāvanāya vāyamitabbaṁ.
Sace pana, sāriputta, bhikkhu paccavekkhamāno evaṁ jānāti:
‘bhāvitā kho me cattāro iddhipādā’ti, tena, sāriputta, bhikkhunā teneva pītipāmojjena vihātabbaṁ ahorattānusikkhinā kusalesu dhammesu.
Puna caparaṁ, sāriputta, bhikkhunā iti paṭisañcikkhitabbaṁ:
‘bhāvitāni nu kho me pañcindriyānī’ti?
Sace, sāriputta, bhikkhu paccavekkhamāno evaṁ jānāti:
‘abhāvitāni kho me pañcindriyānī’ti, tena, sāriputta, bhikkhunā pañcannaṁ indriyānaṁ bhāvanāya vāyamitabbaṁ.
Sace pana, sāriputta, bhikkhu paccavekkhamāno evaṁ jānāti:
‘bhāvitāni kho me pañcindriyānī’ti, tena, sāriputta, bhikkhunā teneva pītipāmojjena vihātabbaṁ ahorattānusikkhinā kusalesu dhammesu.
Puna caparaṁ, sāriputta, bhikkhunā iti paṭisañcikkhitabbaṁ:
‘bhāvitāni nu kho me pañca balānī’ti?
Sace, sāriputta, bhikkhu paccavekkhamāno evaṁ jānāti:
‘abhāvitāni kho me pañca balānī’ti, tena, sāriputta, bhikkhunā pañcannaṁ balānaṁ bhāvanāya vāyamitabbaṁ.
Sace pana, sāriputta, bhikkhu paccavekkhamāno evaṁ jānāti:
‘bhāvitāni kho me pañca balānī’ti, tena, sāriputta, bhikkhunā teneva pītipāmojjena vihātabbaṁ ahorattānusikkhinā kusalesu dhammesu.
Puna caparaṁ, sāriputta, bhikkhunā iti paṭisañcikkhitabbaṁ:
‘bhāvitā nu kho me satta bojjhaṅgā’ti?
Sace, sāriputta, bhikkhu paccavekkhamāno evaṁ jānāti:
‘abhāvitā kho me satta bojjhaṅgā’ti, tena, sāriputta, bhikkhunā sattannaṁ bojjhaṅgānaṁ bhāvanāya vāyamitabbaṁ.
Sace pana, sāriputta, bhikkhu paccavekkhamāno evaṁ jānāti:
‘bhāvitā kho me satta bojjhaṅgā’ti, tena, sāriputta, bhikkhunā teneva pītipāmojjena vihātabbaṁ ahorattānusikkhinā kusalesu dhammesu.
Puna caparaṁ, sāriputta, bhikkhunā iti paṭisañcikkhitabbaṁ:
‘bhāvito nu kho me ariyo aṭṭhaṅgiko maggo’ti?
Sace, sāriputta, bhikkhu paccavekkhamāno evaṁ jānāti:
‘abhāvito kho me ariyo aṭṭhaṅgiko maggo’ti, tena, sāriputta, bhikkhunā ariyassa aṭṭhaṅgikassa maggassa bhāvanāya vāyamitabbaṁ.
Sace pana, sāriputta, bhikkhu paccavekkhamāno evaṁ jānāti:
‘bhāvito kho me ariyo aṭṭhaṅgiko maggo’ti, tena, sāriputta, bhikkhunā teneva pītipāmojjena vihātabbaṁ ahorattānusikkhinā kusalesu dhammesu.
Puna caparaṁ, sāriputta, bhikkhunā iti paṭisañcikkhitabbaṁ:
‘bhāvitā nu kho me samatho ca vipassanā cā’ti?
Sace, sāriputta, bhikkhu paccavekkhamāno evaṁ jānāti:
‘abhāvitā kho me samatho ca vipassanā cā’ti, tena, sāriputta, bhikkhunā samathavipassanānaṁ bhāvanāya vāyamitabbaṁ.
Sace pana, sāriputta, bhikkhu paccavekkhamāno evaṁ jānāti:
‘bhāvitā kho me samatho ca vipassanā cā’ti, tena, sāriputta, bhikkhunā teneva pītipāmojjena vihātabbaṁ ahorattānusikkhinā kusalesu dhammesu.
Puna caparaṁ, sāriputta, bhikkhunā iti paṭisañcikkhitabbaṁ:
‘sacchikatā nu kho me vijjā ca vimutti cā’ti?
Sace, sāriputta, bhikkhu paccavekkhamāno evaṁ jānāti:
‘asacchikatā kho me vijjā ca vimutti cā’ti, tena, sāriputta, bhikkhunā vijjāya vimuttiyā sacchikiriyāya vāyamitabbaṁ.
Sace pana, sāriputta, bhikkhu paccavekkhamāno evaṁ jānāti:
‘sacchikatā kho me vijjā ca vimutti cā’ti, tena, sāriputta, bhikkhunā teneva pītipāmojjena vihātabbaṁ ahorattānusikkhinā kusalesu dhammesu.
Ye hi keci, sāriputta, atītamaddhānaṁ samaṇā vā brāhmaṇā vā piṇḍapātaṁ parisodhesuṁ, sabbe te evameva paccavekkhitvā paccavekkhitvā piṇḍapātaṁ parisodhesuṁ.
Yepi hi keci, sāriputta, anāgatamaddhānaṁ samaṇā vā brāhmaṇā vā piṇḍapātaṁ parisodhessanti, sabbe te evameva paccavekkhitvā paccavekkhitvā piṇḍapātaṁ parisodhessanti.
Yepi hi keci, sāriputta, etarahi samaṇā vā brāhmaṇā vā piṇḍapātaṁ parisodhenti, sabbe te evameva paccavekkhitvā paccavekkhitvā piṇḍapātaṁ parisodhenti.
Tasmātiha, sāriputta, ‘paccavekkhitvā paccavekkhitvā piṇḍapātaṁ parisodhessāmā’ti—
evañhi vo, sāriputta, sikkhitabban”ti.
Idamavoca bhagavā.
Attamano āyasmā sāriputto bhagavato bhāsitaṁ abhinandīti.
Piṇḍapātapārisuddhisuttaṁ niṭṭhitaṁ navamaṁ.
So I have heard.
At one time the Buddha was staying near Rājagaha, in the Bamboo Grove, the squirrels’ feeding ground.
Then in the late afternoon, Sāriputta came out of retreat and went to the Buddha. He bowed and sat down to one side. The Buddha said to him,
“Sāriputta, your faculties are so very clear, and your complexion is pure and bright.
What kind of meditation are you usually practicing these days?”
“Sir, these days I usually practice the meditation on emptiness.”
“Good, good, Sāriputta!
It seems you usually practice the meditation of a great man.
For emptiness is the meditation of a great man.
Now, a mendicant might wish:
‘May I usually practice the meditation on emptiness.’ So they should reflect:
‘Along the path that I went for alms, or in the place I wandered for alms, or along the path that I returned from alms, was there any desire or greed or hate or delusion or repulsion in my heart for sights known by the eye?’
Suppose that, upon checking, a mendicant knows that
there was such desire or greed or hate or delusion or repulsion in their heart, they should make an effort to give up those unskillful qualities.
But suppose that, upon checking, a mendicant knows that
there was no such desire or greed or hate or delusion or repulsion in their heart, they should meditate with rapture and joy, training day and night in skillful qualities.
Furthermore, a mendicant should reflect:
‘Along the path that I went for alms, or in the place I wandered for alms, or along the path that I returned from alms, was there any desire or greed or hate or delusion or repulsion in my heart for sounds known by the ear …
smells known by the nose …
tastes known by the tongue …
touches known by the body …
ideas known by the mind?’
Suppose that, upon checking, a mendicant knows that
there was such desire or greed or hate or delusion or repulsion in their heart, they should make an effort to give up those unskillful qualities.
But suppose that, upon checking, a mendicant knows that
there was no such desire or greed or hate or delusion or repulsion in their heart, they should meditate with rapture and joy, training day and night in skillful qualities.
Furthermore, a mendicant should reflect:
‘Have I given up the five kinds of sensual stimulation?’
Suppose that, upon checking, a mendicant knows that
they have not given them up, they should make an effort to do so.
But suppose that, upon checking, a mendicant knows that
they have given them up, they should meditate with rapture and joy, training day and night in skillful qualities.
Furthermore, a mendicant should reflect:
‘Have I given up the five hindrances?’
Suppose that, upon checking, a mendicant knows that
they have not given them up, they should make an effort to do so.
But suppose that, upon checking, a mendicant knows that
they have given them up, they should meditate with rapture and joy, training day and night in skillful qualities.
Furthermore, a mendicant should reflect:
‘Have I completely understood the five grasping aggregates?’
Suppose that, upon checking, a mendicant knows that
they have not completely understood them, they should make an effort to do so.
But suppose that, upon checking, a mendicant knows that
they have completely understood them, they should meditate with rapture and joy, training day and night in skillful qualities.
Furthermore, a mendicant should reflect:
‘Have I developed the four kinds of mindfulness meditation?’
Suppose that, upon checking, a mendicant knows that
they haven’t developed them, they should make an effort to do so.
But suppose that, upon checking, a mendicant knows that
they have developed them, they should meditate with rapture and joy, training day and night in skillful qualities.
Furthermore, a mendicant should reflect:
‘Have I developed the four right efforts …
the four bases of psychic power …
the five faculties …
the five powers …
the seven awakening factors …
the noble eightfold path?’
Suppose that, upon checking, a mendicant knows that
they haven’t developed it, they should make an effort to do so.
But suppose that, upon checking, a mendicant knows that
they have developed it, they should meditate with rapture and joy, training day and night in skillful qualities.
Furthermore, a mendicant should reflect:
‘Have I developed serenity and discernment?’
Suppose that, upon checking, a mendicant knows that
they haven’t developed them, they should make an effort to do so.
But suppose that, upon checking, a mendicant knows that
they have developed them, they should meditate with rapture and joy, training day and night in skillful qualities.
Furthermore, a mendicant should reflect:
‘Have I realized knowledge and freedom?’
Suppose that, upon checking, a mendicant knows that
they haven’t realized them, they should make an effort to do so.
But suppose that, upon checking, a mendicant knows that
they have realized them, they should meditate with rapture and joy, training day and night in skillful qualities.
Whether in the past, future, or present, all those who purify their almsfood do so by continually checking in this way.
So, Sāriputta, you should all train like this: ‘We shall purify our almsfood by continually checking.’”
That is what the Buddha said.
Satisfied, Venerable Sāriputta approved what the Buddha said.
Như vầy tôi nghe.
SC 1Một thời, Thế Tôn ở Rājagaha (Vương Xá), Veluvana (Trúc lâm), tại chỗ nuôi dưỡng sóc (Kalandakanivapa).
SC 2Rồi Tôn giả Sāriputta vào buổi chiều, từ Thiền tịnh độc cư đứng dậy, đi đến Thế Tôn, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với Tôn giả Sāriputta đang ngồi một bên
SC 3—Này Sāriputta, các căn của Ông rất sáng suốt, sắc da của Ông thanh tịnh trong sáng. Này Sāriputta, Ông nay đang phần lớn an trú với loại an trú nào?
SC 4—Bạch Thế Tôn, con nay đang phần lớn an trú với Không trú.
SC 5—Lành thay, lành thay! Này Sāriputta, Ông nay đang phần lớn an trú với sự an trú của bậc Ðại nhân. Này Sāriputta, sự an trú của bậc Ðại nhân tức là không tánh. Do vậy, này Sāriputta, nếu Tỷ-kheo ước mong rằng: “Mong rằng tôi nay phần lớn an trú với sự an trú không tánh”, thời này Sāriputta, Tỷ-kheo ấy cần phải suy tư như sau: “Trên con đường ta đã đi vào làng để khất thực, tại trú xứ ta đã đi khất thực, và trên con đường từ làng ta đi khất thực trở về, tại chỗ ấy, đối với các sắc do mắt nhận thức, có khởi lên ở nơi ta dục, tham, sân si, hay hận tâm không?”
SC 6Này Sāriputta, nếu Tỷ-kheo sau khi tư duy biết rằng: “Trên con đường ta đã đi vào làng để khất thực, tại trú xứ ta đã đi khất thực và trên con đường từ làng ta đi khất thực trở về, đối với các sắc do mắt nhận thức, có khởi lên nơi ta dục, tham, sân, si hay hận tâm”, thời này Sāriputta, Tỷ-kheo ấy phải tinh tấn đoạn tận các ác bất thiện pháp ấy. Nhưng này Sāriputta, nếu Tỷ-kheo trong khi suy tư được biết như sau: “Trên con đường ta đã đi … ta đi khất thực trở về, đối với các sắc do mắt nhận thức, không có khởi lên nơi dục, tham, sân, si hay hận tâm”, thời này Sāriputta, Tỷ-kheo ấy phải an trú với hỷ và hân hoan ngày đêm tu học trong các thiện pháp.
SC 7Lại nữa, này Sāriputta, Tỷ-kheo cần phải suy tư như sau: “Trên con đường ta đã đi …, ta đi khất thực trở về, đối với các tiếng do tai nhận thức, … đối với các hương do mũi nhận thức, … đối với cácvị do lưỡi nhận thức, … đối với các xúc do thân nhận thức, … đối với các pháp do ý nhận thức, có khởi lên dục, tham, sân, si hay hận tâm không?”
SC 8Này Sāriputta, nếu Tỷ-kheo trong khi suy tư được biết như sau: “Trên con đường ta đã đi …, ta đi khất thực trở về, đối với các tiếng do tai nhận thức, … đối với các hương do mũi nhận thức, … đối với các vị do lưỡi nhận thức, … đối với các xúc do thân nhận thức, … đối với các pháp do ý nhận thức, có khởi lên nơi ta dục, tham, sân, si, hay hận tâm”, thời này Sāriputta, Tỷ-kheo ấy phải tinh tấn đoạn tận các ác bất thiện pháp ấy. Nhưng này Sāriputta, nếu Tỷ-kheo trong khi suy tư được biết như sau: “Trên con đường ta đã đi…, ta đi khất thực trở về, đối với các tiếng do tai nhận thức, … đối với các hương do mũi nhận thức, … đối với các vị do lưỡi nhận thức, … đối với các xúc do thân nhận thức, … đối với các pháp do ý nhận thức, không có khởi lên nơi ta dục, tham, sân, si hay hận tâm”, thời này Sāriputta, Tỷ-kheo ấy phải an trú với hỷ và hân hoan ngày đêm tu học trong các thiện pháp.
SC 9Lại nữa, này Sāriputta, Tỷ-kheo cần phải suy tư như sau: “Ta đã đoạn tận năm dục trưởng dưỡng chưa? Này Sāriputta, nếu Tỷ-kheo, trong khi suy tư được biết như sau: “Ta chưa đoạn tận năm dục trưởng dưỡng”, thời này Sāriputta, Tỷ-kheo ấy phải tinh tấn đoạn tận năm dục trưởng dưỡng. Nhưng nếu, này Sāriputta, Tỷ-kheo trong khi suy tư được biết như sau: “Ta đã đoạn tận năm dục trưởng dưỡng”, thời này Sāriputta, Tỷ-kheo ấy phải an trú với hỷ và hân hoan ngày đêm tu học trong các thiện pháp.
SC 10Lại nữa, này Sāriputta, Tỷ-kheo cần phải suy tư như sau: “Ta đã đoạn tận năm triền cái chưa?” Nếu, này Sāriputta, trong khi suy tư, Tỷ-kheo được biết như sau: “Ta chưa đoạn tận năm triền cái”, thời này Sāriputta, Tỷ-kheo ấy phải tinh tấn đoạn tận năm triền cái. Nhưng nếu, này Sāriputta, Tỷ-kheo trong khi suy tư được biết như sau: “Ta đã đoạn tận năm triền cái ”, thời này Sāriputta, Tỷ-kheo ấy phải an trú với hỷ và hân hoan ngày đêm tu học trong các thiện pháp.
SC 11Lại nữa, này Sāriputta, Tỷ-kheo cần phải suy tư: “Ta có liễu tri năm thủ uẩn chưa?” Này Sāriputta, nếu trong khi suy tư, Tỷ-kheo được biết như sau: “Ta chưa có liễu tri năm thủ uẩn”, thời này Sāriputta, Tỷ-kheo ấy cần phải tinh tán liễu tri năm thủ uẩn. Nhưng nếu, này Sāriputta, trong khi suy tư, Tỷ-kheo ấy được biết như sau: “Ta đã liễu tri năm thủ uẩn”, thời này Sāriputta, vị Tỷ-kheo ấy phải an trú với hỷ và hân hoan ngày đêm tu học trong các thiện pháp.
SC 12Lại nữa, này Sāriputta, Tỷ-kheo cần phải suy tư như sau: “Ta đã tu tập bốn niệm xứ chưa?” Này Sāriputta, nếu trong khi suy tư, Tỷ-kheo được biết: “Ta chưa tu tập bốn niệm xứ”, thời này Sāriputta, vị Tỷ-kheo cần phải tinh tấn tu tập bốn niệm xứ. Nhưng nếu, này Sāriputta, trong khi suy tư, Tỷ-kheo được biết như sau: “Ta đã tu tập bốn niệm xứ ”, thời này Sāriputta, Tỷ-kheo ấy cần phải an trú với hỷ và hân hoan ngày đêm tu học trong các thiện pháp.
SC 13Lại nữa, này Sāriputta, Tỷ-kheo cần phải suy tư: “Ta đã tu tập bốn chánh cần chưa? ” … “Ta đã tu tập bốn như ý túc chưa?” … “Ta đã tu tập năm căn chưa?” … “Ta đã tu tập năm lực chưa?” … “Ta đã tu tập bảy giác chi chưa?” … Lại nữa, này Sāriputta, Tỷ-kheo cần phải suy tư như sau: “Ta đã tu tập Thánh đạo Tám ngành chưa?” Nếu Tỷ-kheo, này Sāriputta, trong khi suy tư được biết như sau: “Ta chưa tu tập Thánh đạo Tám ngành”, thời này Sāriputta, Tỷ-kheo ấy cần phải tinh tấn tu tập Thánh đạo Tám ngành. Nhưng nếu, này Sāriputta, Tỷ-kheo trong khi suy tư được biết như sau: “Ta đã tu tập Thánh đạo Tám ngành”, thời này Sāriputta, Tỷ-kheo ấy cần phải an trú trong hỷ và hân hoan ngày đêm tu học trong các thiện pháp.
SC 14Lại nữa, này Sāriputta, Tỷ-kheo cần phải suy tư: “Ta đã tu tập Chỉ và Quán chưa? ” Nếu Tỷ-kheo, này Sāriputta, trong khi suy tư được biết như sau: “Ta chưa tu tập Chỉ và Quán ”, thời này Sāriputta, Tỷ-kheo ấy cần phải tinh tấn tu tập Chỉ và Quán. Nhưng nếu, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo trong khi suy tư được biết như sau: “Ta đã tu tập Chỉ và Quán ”, thời này Sāriputta, Tỷ-kheo ấy cần phải an trú với hỷ và hân hoan ngày đêm tu học trong các thiện pháp.
SC 15Lại nữa, này Sāriputta, Tỷ-kheo cần phải suy tư như sau: “Ta đã chứng ngộ minh và giải thoát chưa? ” Nếu Tỷ-kheo, này Sāriputta, trong khi suy tư được biết như sau: “Ta chưa chứng ngộ minh và giải thoát”, thời này Sāriputta, Tỷ-kheo ấy cần phải tinh tấn tu tập minh và giải thoát. Nhưng nếu, này Sāriputta, Tỷ-kheo trong khi suy tư được biết như sau: “Ta đã chứng ngộ minh và giải thoát ”, thời này Sāriputta, Tỷ-kheo ấy cần phải an trú với hỷ và hân hoan ngày đêm tu học trong các thiện pháp.
SC 16Này Sāriputta, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào trong thời quá khứ đã làm cho khất thực được thanh tịnh, tất cả những vị ấy đã làm cho khất thực được thanh tịnh bằng cách suy tư, suy tư như vậy. Này Sāriputta, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào trong thời gian tương lai sẽ làm cho khất thực được thanh tịnh, tất cả những vị ấy sẽ làm cho khất thực được thanh tịnh, bằng cách suy tư, suy tư như vậy. Và này Sāriputta, những Sa-môn, Bà-la-môn nào trong thời hiện tại, làm cho khất thực được thanh tịnh, tất cả những vị ấy đã làm cho khất thực được thanh tịnh, bằng cách suy tư, suy tư như vậy. Vậy này Sāriputta, các Ông cần phải học tập như sau: “Sau khi suy tư, suy tư, chúng ta sẽ làm cho khất thực được thanh tịnh”. Này Sāriputta, các Ông phải tu tập như vậy.
SC 17Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Tôn giả Sāriputta hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy.
Evaṁ me sutaṁ—
ekaṁ samayaṁ bhagavā rājagahe viharati veḷuvane kalandakanivāpe.
Atha kho āyasmā sāriputto sāyanhasamayaṁ paṭisallānā vuṭṭhito yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnaṁ kho āyasmantaṁ sāriputtaṁ bhagavā etadavoca:
“Vippasannāni kho te, sāriputta, indriyāni, parisuddho chavivaṇṇo pariyodāto.
Katamena kho tvaṁ, sāriputta, vihārena etarahi bahulaṁ viharasī”ti?
“Suññatāvihārena kho ahaṁ, bhante, etarahi bahulaṁ viharāmī”ti.
“Sādhu sādhu, sāriputta.
Mahāpurisavihārena kira tvaṁ, sāriputta, etarahi bahulaṁ viharasi.
Mahāpurisavihāro eso, sāriputta, yadidaṁ—
suññatā.
Tasmātiha, sāriputta, bhikkhu sace ākaṅkheyya:
‘suññatāvihārena bahulaṁ vihareyyan’ti, tena, sāriputta, bhikkhunā iti paṭisañcikkhitabbaṁ:
‘yena cāhaṁ maggena gāmaṁ piṇḍāya pāvisiṁ, yasmiñca padese piṇḍāya acariṁ, yena ca maggena gāmato piṇḍāya paṭikkamiṁ, atthi nu kho me tattha cakkhuviññeyyesu rūpesu chando vā rāgo vā doso vā moho vā paṭighaṁ vāpi cetaso’ti?
Sace, sāriputta, bhikkhu paccavekkhamāno evaṁ jānāti:
‘yena cāhaṁ maggena gāmaṁ piṇḍāya pāvisiṁ, yasmiñca padese piṇḍāya acariṁ, yena ca maggena gāmato piṇḍāya paṭikkamiṁ, atthi me tattha cakkhuviññeyyesu rūpesu chando vā rāgo vā doso vā moho vā paṭighaṁ vāpi cetaso’ti, tena, sāriputta, bhikkhunā tesaṁyeva pāpakānaṁ akusalānaṁ dhammānaṁ pahānāya vāyamitabbaṁ.
Sace pana, sāriputta, bhikkhu paccavekkhamāno evaṁ jānāti:
‘yena cāhaṁ maggena gāmaṁ piṇḍāya pāvisiṁ, yasmiñca padese piṇḍāya acariṁ, yena ca maggena gāmato piṇḍāya paṭikkamiṁ, natthi me tattha cakkhuviññeyyesu rūpesu chando vā rāgo vā doso vā moho vā paṭighaṁ vāpi cetaso’ti, tena, sāriputta, bhikkhunā teneva pītipāmojjena vihātabbaṁ ahorattānusikkhinā kusalesu dhammesu.
Puna caparaṁ, sāriputta, bhikkhunā iti paṭisañcikkhitabbaṁ:
‘yena cāhaṁ maggena gāmaṁ piṇḍāya pāvisiṁ, yasmiñca padese piṇḍāya acariṁ, yena ca maggena gāmato piṇḍāya paṭikkamiṁ, atthi nu kho me tattha sotaviññeyyesu saddesu …pe…
ghānaviññeyyesu gandhesu …
jivhāviññeyyesu rasesu …
kāyaviññeyyesu phoṭṭhabbesu …
manoviññeyyesu dhammesu chando vā rāgo vā doso vā moho vā paṭighaṁ vāpi cetaso’ti?
Sace, sāriputta, bhikkhu paccavekkhamāno evaṁ jānāti:
‘yena cāhaṁ maggena gāmaṁ piṇḍāya pāvisiṁ, yasmiñca padese piṇḍāya acariṁ, yena ca maggena gāmato piṇḍāya paṭikkamiṁ, atthi me tattha manoviññeyyesu dhammesu chando vā rāgo vā doso vā moho vā paṭighaṁ vāpi cetaso’ti, tena, sāriputta, bhikkhunā tesaṁyeva pāpakānaṁ akusalānaṁ dhammānaṁ pahānāya vāyamitabbaṁ.
Sace pana, sāriputta, bhikkhu paccavekkhamāno evaṁ jānāti:
‘yena cāhaṁ maggena gāmaṁ piṇḍāya pāvisiṁ, yasmiñca padese piṇḍāya acariṁ, yena ca maggena gāmato piṇḍāya paṭikkamiṁ, natthi me tattha manoviññeyyesu dhammesu chando vā rāgo vā doso vā moho vā paṭighaṁ vāpi cetaso’ti, tena, sāriputta, bhikkhunā teneva pītipāmojjena vihātabbaṁ ahorattānusikkhinā kusalesu dhammesu.
Puna caparaṁ, sāriputta, bhikkhunā iti paṭisañcikkhitabbaṁ:
‘pahīnā nu kho me pañca kāmaguṇā’ti?
Sace, sāriputta, bhikkhu paccavekkhamāno evaṁ jānāti:
‘appahīnā kho me pañca kāmaguṇā’ti, tena, sāriputta, bhikkhunā pañcannaṁ kāmaguṇānaṁ pahānāya vāyamitabbaṁ.
Sace pana, sāriputta, bhikkhu paccavekkhamāno evaṁ jānāti:
‘pahīnā kho me pañca kāmaguṇā’ti, tena, sāriputta, bhikkhunā teneva pītipāmojjena vihātabbaṁ ahorattānusikkhinā kusalesu dhammesu.
Puna caparaṁ, sāriputta, bhikkhunā iti paṭisañcikkhitabbaṁ:
‘pahīnā nu kho me pañca nīvaraṇā’ti?
Sace, sāriputta, bhikkhu paccavekkhamāno evaṁ jānāti:
‘appahīnā kho me pañca nīvaraṇā’ti, tena, sāriputta, bhikkhunā pañcannaṁ nīvaraṇānaṁ pahānāya vāyamitabbaṁ.
Sace pana, sāriputta, bhikkhu paccavekkhamāno evaṁ jānāti:
‘pahīnā kho me pañca nīvaraṇā’ti, tena, sāriputta, bhikkhunā teneva pītipāmojjena vihātabbaṁ ahorattānusikkhinā kusalesu dhammesu.
Puna caparaṁ, sāriputta, bhikkhunā iti paṭisañcikkhitabbaṁ:
‘pariññātā nu kho me pañcupādānakkhandhā’ti?
Sace, sāriputta, bhikkhu paccavekkhamāno evaṁ jānāti:
‘apariññātā kho me pañcupādānakkhandhā’ti, tena, sāriputta, bhikkhunā pañcannaṁ upādānakkhandhānaṁ pariññāya vāyamitabbaṁ.
Sace pana, sāriputta, bhikkhu paccavekkhamāno evaṁ jānāti:
‘pariññātā kho me pañcupādānakkhandhā’ti, tena, sāriputta, bhikkhunā teneva pītipāmojjena vihātabbaṁ ahorattānusikkhinā kusalesu dhammesu.
Puna caparaṁ, sāriputta, bhikkhunā iti paṭisañcikkhitabbaṁ:
‘bhāvitā nu kho me cattāro satipaṭṭhānā’ti?
Sace, sāriputta, bhikkhu paccavekkhamāno evaṁ jānāti:
‘abhāvitā kho me cattāro satipaṭṭhānā’ti, tena, sāriputta, bhikkhunā catunnaṁ satipaṭṭhānānaṁ bhāvanāya vāyamitabbaṁ.
Sace pana, sāriputta, bhikkhu paccavekkhamāno evaṁ jānāti:
‘bhāvitā kho me cattāro satipaṭṭhānā’ti, tena, sāriputta, bhikkhunā teneva pītipāmojjena vihātabbaṁ ahorattānusikkhinā kusalesu dhammesu.
Puna caparaṁ, sāriputta, bhikkhunā iti paṭisañcikkhitabbaṁ:
‘bhāvitā nu kho me cattāro sammappadhānā’ti?
Sace, sāriputta, bhikkhu paccavekkhamāno evaṁ jānāti:
‘abhāvitā kho me cattāro sammappadhānā’ti, tena, sāriputta, bhikkhunā catunnaṁ sammappadhānānaṁ bhāvanāya vāyamitabbaṁ.
Sace pana, sāriputta, bhikkhu paccavekkhamāno evaṁ jānāti:
‘bhāvitā kho me cattāro sammappadhānā’ti, tena, sāriputta, bhikkhunā teneva pītipāmojjena vihātabbaṁ ahorattānusikkhinā kusalesu dhammesu.
Puna caparaṁ, sāriputta, bhikkhunā iti paṭisañcikkhitabbaṁ:
‘bhāvitā nu kho me cattāro iddhipādā’ti?
Sace, sāriputta, bhikkhu paccavekkhamāno evaṁ jānāti:
‘abhāvitā kho me cattāro iddhipādā’ti, tena, sāriputta, bhikkhunā catunnaṁ iddhipādānaṁ bhāvanāya vāyamitabbaṁ.
Sace pana, sāriputta, bhikkhu paccavekkhamāno evaṁ jānāti:
‘bhāvitā kho me cattāro iddhipādā’ti, tena, sāriputta, bhikkhunā teneva pītipāmojjena vihātabbaṁ ahorattānusikkhinā kusalesu dhammesu.
Puna caparaṁ, sāriputta, bhikkhunā iti paṭisañcikkhitabbaṁ:
‘bhāvitāni nu kho me pañcindriyānī’ti?
Sace, sāriputta, bhikkhu paccavekkhamāno evaṁ jānāti:
‘abhāvitāni kho me pañcindriyānī’ti, tena, sāriputta, bhikkhunā pañcannaṁ indriyānaṁ bhāvanāya vāyamitabbaṁ.
Sace pana, sāriputta, bhikkhu paccavekkhamāno evaṁ jānāti:
‘bhāvitāni kho me pañcindriyānī’ti, tena, sāriputta, bhikkhunā teneva pītipāmojjena vihātabbaṁ ahorattānusikkhinā kusalesu dhammesu.
Puna caparaṁ, sāriputta, bhikkhunā iti paṭisañcikkhitabbaṁ:
‘bhāvitāni nu kho me pañca balānī’ti?
Sace, sāriputta, bhikkhu paccavekkhamāno evaṁ jānāti:
‘abhāvitāni kho me pañca balānī’ti, tena, sāriputta, bhikkhunā pañcannaṁ balānaṁ bhāvanāya vāyamitabbaṁ.
Sace pana, sāriputta, bhikkhu paccavekkhamāno evaṁ jānāti:
‘bhāvitāni kho me pañca balānī’ti, tena, sāriputta, bhikkhunā teneva pītipāmojjena vihātabbaṁ ahorattānusikkhinā kusalesu dhammesu.
Puna caparaṁ, sāriputta, bhikkhunā iti paṭisañcikkhitabbaṁ:
‘bhāvitā nu kho me satta bojjhaṅgā’ti?
Sace, sāriputta, bhikkhu paccavekkhamāno evaṁ jānāti:
‘abhāvitā kho me satta bojjhaṅgā’ti, tena, sāriputta, bhikkhunā sattannaṁ bojjhaṅgānaṁ bhāvanāya vāyamitabbaṁ.
Sace pana, sāriputta, bhikkhu paccavekkhamāno evaṁ jānāti:
‘bhāvitā kho me satta bojjhaṅgā’ti, tena, sāriputta, bhikkhunā teneva pītipāmojjena vihātabbaṁ ahorattānusikkhinā kusalesu dhammesu.
Puna caparaṁ, sāriputta, bhikkhunā iti paṭisañcikkhitabbaṁ:
‘bhāvito nu kho me ariyo aṭṭhaṅgiko maggo’ti?
Sace, sāriputta, bhikkhu paccavekkhamāno evaṁ jānāti:
‘abhāvito kho me ariyo aṭṭhaṅgiko maggo’ti, tena, sāriputta, bhikkhunā ariyassa aṭṭhaṅgikassa maggassa bhāvanāya vāyamitabbaṁ.
Sace pana, sāriputta, bhikkhu paccavekkhamāno evaṁ jānāti:
‘bhāvito kho me ariyo aṭṭhaṅgiko maggo’ti, tena, sāriputta, bhikkhunā teneva pītipāmojjena vihātabbaṁ ahorattānusikkhinā kusalesu dhammesu.
Puna caparaṁ, sāriputta, bhikkhunā iti paṭisañcikkhitabbaṁ:
‘bhāvitā nu kho me samatho ca vipassanā cā’ti?
Sace, sāriputta, bhikkhu paccavekkhamāno evaṁ jānāti:
‘abhāvitā kho me samatho ca vipassanā cā’ti, tena, sāriputta, bhikkhunā samathavipassanānaṁ bhāvanāya vāyamitabbaṁ.
Sace pana, sāriputta, bhikkhu paccavekkhamāno evaṁ jānāti:
‘bhāvitā kho me samatho ca vipassanā cā’ti, tena, sāriputta, bhikkhunā teneva pītipāmojjena vihātabbaṁ ahorattānusikkhinā kusalesu dhammesu.
Puna caparaṁ, sāriputta, bhikkhunā iti paṭisañcikkhitabbaṁ:
‘sacchikatā nu kho me vijjā ca vimutti cā’ti?
Sace, sāriputta, bhikkhu paccavekkhamāno evaṁ jānāti:
‘asacchikatā kho me vijjā ca vimutti cā’ti, tena, sāriputta, bhikkhunā vijjāya vimuttiyā sacchikiriyāya vāyamitabbaṁ.
Sace pana, sāriputta, bhikkhu paccavekkhamāno evaṁ jānāti:
‘sacchikatā kho me vijjā ca vimutti cā’ti, tena, sāriputta, bhikkhunā teneva pītipāmojjena vihātabbaṁ ahorattānusikkhinā kusalesu dhammesu.
Ye hi keci, sāriputta, atītamaddhānaṁ samaṇā vā brāhmaṇā vā piṇḍapātaṁ parisodhesuṁ, sabbe te evameva paccavekkhitvā paccavekkhitvā piṇḍapātaṁ parisodhesuṁ.
Yepi hi keci, sāriputta, anāgatamaddhānaṁ samaṇā vā brāhmaṇā vā piṇḍapātaṁ parisodhessanti, sabbe te evameva paccavekkhitvā paccavekkhitvā piṇḍapātaṁ parisodhessanti.
Yepi hi keci, sāriputta, etarahi samaṇā vā brāhmaṇā vā piṇḍapātaṁ parisodhenti, sabbe te evameva paccavekkhitvā paccavekkhitvā piṇḍapātaṁ parisodhenti.
Tasmātiha, sāriputta, ‘paccavekkhitvā paccavekkhitvā piṇḍapātaṁ parisodhessāmā’ti—
evañhi vo, sāriputta, sikkhitabban”ti.
Idamavoca bhagavā.
Attamano āyasmā sāriputto bhagavato bhāsitaṁ abhinandīti.
Piṇḍapātapārisuddhisuttaṁ niṭṭhitaṁ navamaṁ.