Kính lễ đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, đấng Chánh Biến Tri!
BJT 1Các bậc A-la-hán ví như các cánh đồng, các thí chủ ví như các nông dân, vật dâng cúng ví như hạt giống, từ đây quả báo phát sanh.
BJT 2Hạt giống này, việc gieo trồng, cánh đồng là (yếu tố được mong mỏi) đối với các ngạ quỷ và người thí chủ; các ngạ quỷ thọ hưởng quả bố thí ấy, người thí chủ thịnh vượng nhờ phước báu.
BJT 3Ngay tại đây, sau khi làm việc thiện và cúng dường lại (phước báu) cho các ngạ quỷ, sau khi làm nghiệp tốt lành thì đi đến nơi chốn là cõi Trời.
Chuyện Ngạ Quỷ Ví Như Cánh Đồng là thứ nhất.
Namo tassa Bhagavato Arahato Sammāsambuddhassa.
“Khettūpamā arahanto,
dāyakā kassakūpamā;
Bījūpamaṁ deyyadhammaṁ,
etto nibbattate phalaṁ.
Etaṁ bījaṁ kasi khettaṁ,
petānaṁ dāyakassa ca;
Taṁ petā paribhuñjanti,
dātā puññena vaḍḍhati.
Idheva kusalaṁ katvā,
Pete ca paṭipūjiya;
Saggañca kamatiṭṭhānaṁ,
Kammaṁ katvāna bhaddakan”ti.
Khettūpamapetavatthu paṭhamaṁ.
Homage to the Blessed, Noble, and Perfectly Enlightened One.
Arahants are like fields,
Donors are like farmers,
A gift is like a seed,
And from this, the fruit grows.
The seed is sown in the field,
For the benefit of the departed and the donor.
The departed feed from it,
And the donor grows in merit.
Having done what's wholesome in this way,
You honor the departed.
Having made good karma,
One goes to the ground of heaven.
This is the first (Discourse), The Simile of the Field.
Kính lễ đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, đấng Chánh Biến Tri!
BJT 1Các bậc A-la-hán ví như các cánh đồng, các thí chủ ví như các nông dân, vật dâng cúng ví như hạt giống, từ đây quả báo phát sanh.
BJT 2Hạt giống này, việc gieo trồng, cánh đồng là (yếu tố được mong mỏi) đối với các ngạ quỷ và người thí chủ; các ngạ quỷ thọ hưởng quả bố thí ấy, người thí chủ thịnh vượng nhờ phước báu.
BJT 3Ngay tại đây, sau khi làm việc thiện và cúng dường lại (phước báu) cho các ngạ quỷ, sau khi làm nghiệp tốt lành thì đi đến nơi chốn là cõi Trời.
Chuyện Ngạ Quỷ Ví Như Cánh Đồng là thứ nhất.
Namo tassa Bhagavato Arahato Sammāsambuddhassa.
“Khettūpamā arahanto,
dāyakā kassakūpamā;
Bījūpamaṁ deyyadhammaṁ,
etto nibbattate phalaṁ.
Etaṁ bījaṁ kasi khettaṁ,
petānaṁ dāyakassa ca;
Taṁ petā paribhuñjanti,
dātā puññena vaḍḍhati.
Idheva kusalaṁ katvā,
Pete ca paṭipūjiya;
Saggañca kamatiṭṭhānaṁ,
Kammaṁ katvāna bhaddakan”ti.
Khettūpamapetavatthu paṭhamaṁ.