BJT 762Quả thành tựu của các nghiệp đã được làm trong thời quá khứ có thể khuấy động tâm ý do duyên cảnh sắc, thinh, vị, hương, và xúc làm thích ý.
BJT 763Sau khi hưởng thụ điệu vũ, lời ca, sự khoái lạc, sự vui thích không phải là ít, sau khi đi lang thang ở vườn hoa, (vị Sát-đế-lỵ) đi vào Giribbaja.
BJT 764Vị Sát-đế-lỵ đã nhìn thấy bậc ẩn sĩ Sunetta, vị đã chế ngự bản thân, được định tĩnh, có ít ham muốn, thành tựu sự khiêm tốn, thích thú với vật được bỏ vào bình bát do sự khất thực.
BJT 765Sau khi leo xuống từ lưng voi, vị Sát-đế-lỵ đã nói rằng: ‘Thưa ngài, đã được nhận lãnh (vật thực) chưa ạ?’ rồi đã cầm lấy bình bát của vị ấy đưa lên cao.
BJT 766Trong lúc cười giỡn, vị Sát-đế-lỵ đã đập vỡ bình bát ở nền đất cứng, rồi đã bỏ đi (nói rằng): ‘Tôi là con trai của đức vua Kitava. Này ông tỳ khưu, ông sẽ làm gì tôi?’
BJT 767Quả thành tựu của hành động thô lỗ của vị (Sát-đế-lỵ) ấy đã là dữ dội, là việc người con trai của đức vua đã cảm thọ, đã bị gánh chịu ở địa ngục.
BJT 768Kẻ đã làm điều tội lỗi đã trải nghiệm sự khổ sở vô cùng ở địa ngục đến sáu lần của thời gian tám mươi bốn ngàn năm.
BJT 769Kẻ ấy đã bị nung nấu ở tư thế nằm ngửa, nằm sấp, nằm nghiêng bên trái, nằm nghiêng bên phải, chân ở phía trên (chổng ngược), và luôn cả tư thế đứng; kẻ ngu si đã bị nung nấu dài lâu.
BJT 770Trong nhiều ngàn năm và nhiều lần mười ngàn (năm), kẻ đã làm điều tội lỗi đã trải nghiệm sự khổ sở vô cùng ở địa ngục.
BJT 771Thật vậy, sau khi công kích bậc ẩn sĩ có sự hành trì tốt đẹp, không tồi bại, không tội lỗi, những kẻ có hành động ác xấu bị nung nấu dữ dội như thế ấy.
BJT 772Sau khi cảm thọ nhiều khổ đau ở tại nơi ấy nhiều năm, sau khi chết đi từ nơi ấy đã trở thành ngạ quỷ, đương nhiên bị hành hạ bởi sự đói khát.
BJT 773Sau khi biết được điều bất lợi ấy có nguồn sanh khởi là sự say đắm quyền lực, sau khi dứt bỏ sự say đắm quyền lực, nên hành xử theo lối nhún nhường.
BJT 774Người nào có sự tôn kính đối với chư Phật được sự ngợi khen ngay trong hiện tại; do sự tan rã của thân xác, người có trí tuệ ấy được sanh lên cõi Trời.
Chuyện Ngạ Quỷ Con Trai của Đức Vua là thứ bảy.
Pubbe katānaṁ kammānaṁ,
vipāko mathaye manaṁ;
Rūpe sadde rase gandhe,
phoṭṭhabbe ca manorame.
Naccaṁ gītaṁ ratiṁ khiḍḍaṁ,
anubhutvā anappakaṁ;
Uyyāne paricaritvā,
pavisanto giribbajaṁ.
Isiṁ sunetta maddakkhi,
attadantaṁ samāhitaṁ;
Appicchaṁ hirisampannaṁ,
uñche pattagate rataṁ.
Hatthikkhandhato oruyha,
laddhā bhanteti cābravi;
Tassa pattaṁ gahetvāna,
uccaṁ paggayha khattiyo.
Thaṇḍile pattaṁ bhinditvā,
hasamāno apakkami;
“Rañño kitavassāhaṁ putto,
kiṁ maṁ bhikkhu karissasi”.
Tassa kammassa pharusassa,
vipāko kaṭuko ahu;
Yaṁ rājaputto vedesi,
nirayamhi samappito.
Chaḷeva caturāsīti,
vassāni navutāni ca;
Bhusaṁ dukkhaṁ nigacchittho,
niraye katakibbiso.
Uttānopi ca paccittha,
nikujjo vāmadakkhiṇo;
Uddhampādo ṭhito ceva,
ciraṁ bālo apaccatha.
Bahūni vassasahassāni,
pūgāni nahutāni ca;
Bhusaṁ dukkhaṁ nigacchittho,
niraye katakibbiso.
Etādisaṁ kho kaṭukaṁ,
appaduṭṭhappadosinaṁ;
Paccanti pāpakammantā,
isimāsajja subbataṁ.
So tattha bahuvassāni,
vedayitvā bahuṁ dukhaṁ;
Khuppipāsahato nāma,
peto āsi tato cuto.
Etamādīnavaṁ ñatvā,
issaramadasambhavaṁ;
Pahāya issaramadaṁ,
nivātamanuvattaye.
Diṭṭheva dhamme pāsaṁso,
yo buddhesu sagāravo;
Kāyassa bhedā sappañño,
saggaṁ so upapajjatīti.
Rājaputtapetavatthu sattamaṁ.
Supreme Buddha:
That prince experiences all these wonderful things as a result of his previous good karma, but he is obsessed by delightful forms, sounds, smells, tastes, and touches. One day he went to a park and enjoyed dancing, singing, and playing sports. Upon returning, he entered the city of Rajagaha. There, he saw a Pacceka Buddha named Sunetta who was very calm, concentrated, and virtuous. He led a very simple life. He was on his alms round begging for food.
The prince was riding an elephant, so he climbed down and asked the Buddha mockingly, “Bhante, did you get food?” The prince forcefully snatched the Buddha’s bowl from his hands and smashed it on the ground. Laughing at the Buddha he said, “Hey monk, I am the son of King Kitava. You cannot do anything to me.”
The result of that evil deed was very painful. After death, he fell directly into hell. He suffered for a long time. Exactly how long? Six times eighty-four thousand years. That many years he had to suffer in the miserable hell. One time he was boiled legs first, and another time he was boiled head first. One time boiled from the left side, another time boiled from the right side. Thus he experienced immense pain.
Having gotten angry at that Buddha who never got angry, the foolish prince suffered many hundreds and thousands of years in hell. After a very long time, he died there and was reborn in the ghost world as a ghost suffering from hunger and thirst.
Arrogance caused this misfortune. Having understood the danger of too much enjoyment, wise people should be very humble. If one respects the Buddhas, that person is praised in this very life. After death, that wise person will be reborn in heaven.
BJT 762Quả thành tựu của các nghiệp đã được làm trong thời quá khứ có thể khuấy động tâm ý do duyên cảnh sắc, thinh, vị, hương, và xúc làm thích ý.
BJT 763Sau khi hưởng thụ điệu vũ, lời ca, sự khoái lạc, sự vui thích không phải là ít, sau khi đi lang thang ở vườn hoa, (vị Sát-đế-lỵ) đi vào Giribbaja.
BJT 764Vị Sát-đế-lỵ đã nhìn thấy bậc ẩn sĩ Sunetta, vị đã chế ngự bản thân, được định tĩnh, có ít ham muốn, thành tựu sự khiêm tốn, thích thú với vật được bỏ vào bình bát do sự khất thực.
BJT 765Sau khi leo xuống từ lưng voi, vị Sát-đế-lỵ đã nói rằng: ‘Thưa ngài, đã được nhận lãnh (vật thực) chưa ạ?’ rồi đã cầm lấy bình bát của vị ấy đưa lên cao.
BJT 766Trong lúc cười giỡn, vị Sát-đế-lỵ đã đập vỡ bình bát ở nền đất cứng, rồi đã bỏ đi (nói rằng): ‘Tôi là con trai của đức vua Kitava. Này ông tỳ khưu, ông sẽ làm gì tôi?’
BJT 767Quả thành tựu của hành động thô lỗ của vị (Sát-đế-lỵ) ấy đã là dữ dội, là việc người con trai của đức vua đã cảm thọ, đã bị gánh chịu ở địa ngục.
BJT 768Kẻ đã làm điều tội lỗi đã trải nghiệm sự khổ sở vô cùng ở địa ngục đến sáu lần của thời gian tám mươi bốn ngàn năm.
BJT 769Kẻ ấy đã bị nung nấu ở tư thế nằm ngửa, nằm sấp, nằm nghiêng bên trái, nằm nghiêng bên phải, chân ở phía trên (chổng ngược), và luôn cả tư thế đứng; kẻ ngu si đã bị nung nấu dài lâu.
BJT 770Trong nhiều ngàn năm và nhiều lần mười ngàn (năm), kẻ đã làm điều tội lỗi đã trải nghiệm sự khổ sở vô cùng ở địa ngục.
BJT 771Thật vậy, sau khi công kích bậc ẩn sĩ có sự hành trì tốt đẹp, không tồi bại, không tội lỗi, những kẻ có hành động ác xấu bị nung nấu dữ dội như thế ấy.
BJT 772Sau khi cảm thọ nhiều khổ đau ở tại nơi ấy nhiều năm, sau khi chết đi từ nơi ấy đã trở thành ngạ quỷ, đương nhiên bị hành hạ bởi sự đói khát.
BJT 773Sau khi biết được điều bất lợi ấy có nguồn sanh khởi là sự say đắm quyền lực, sau khi dứt bỏ sự say đắm quyền lực, nên hành xử theo lối nhún nhường.
BJT 774Người nào có sự tôn kính đối với chư Phật được sự ngợi khen ngay trong hiện tại; do sự tan rã của thân xác, người có trí tuệ ấy được sanh lên cõi Trời.
Chuyện Ngạ Quỷ Con Trai của Đức Vua là thứ bảy.
Pubbe katānaṁ kammānaṁ,
vipāko mathaye manaṁ;
Rūpe sadde rase gandhe,
phoṭṭhabbe ca manorame.
Naccaṁ gītaṁ ratiṁ khiḍḍaṁ,
anubhutvā anappakaṁ;
Uyyāne paricaritvā,
pavisanto giribbajaṁ.
Isiṁ sunetta maddakkhi,
attadantaṁ samāhitaṁ;
Appicchaṁ hirisampannaṁ,
uñche pattagate rataṁ.
Hatthikkhandhato oruyha,
laddhā bhanteti cābravi;
Tassa pattaṁ gahetvāna,
uccaṁ paggayha khattiyo.
Thaṇḍile pattaṁ bhinditvā,
hasamāno apakkami;
“Rañño kitavassāhaṁ putto,
kiṁ maṁ bhikkhu karissasi”.
Tassa kammassa pharusassa,
vipāko kaṭuko ahu;
Yaṁ rājaputto vedesi,
nirayamhi samappito.
Chaḷeva caturāsīti,
vassāni navutāni ca;
Bhusaṁ dukkhaṁ nigacchittho,
niraye katakibbiso.
Uttānopi ca paccittha,
nikujjo vāmadakkhiṇo;
Uddhampādo ṭhito ceva,
ciraṁ bālo apaccatha.
Bahūni vassasahassāni,
pūgāni nahutāni ca;
Bhusaṁ dukkhaṁ nigacchittho,
niraye katakibbiso.
Etādisaṁ kho kaṭukaṁ,
appaduṭṭhappadosinaṁ;
Paccanti pāpakammantā,
isimāsajja subbataṁ.
So tattha bahuvassāni,
vedayitvā bahuṁ dukhaṁ;
Khuppipāsahato nāma,
peto āsi tato cuto.
Etamādīnavaṁ ñatvā,
issaramadasambhavaṁ;
Pahāya issaramadaṁ,
nivātamanuvattaye.
Diṭṭheva dhamme pāsaṁso,
yo buddhesu sagāravo;
Kāyassa bhedā sappañño,
saggaṁ so upapajjatīti.
Rājaputtapetavatthu sattamaṁ.