BJT 26“Nàng là ai mà đứng ở nơi đây, lõa lồ, có vóc dáng xấu xí, có mùi hôi, toát ra mùi thối tha, còn bị bu quanh bởi những con ruồi?”
BJT 27“Thưa ngài đại đức, con là nữ ngạ quỷ bị đọa đày, thuộc cõi Dạ-ma. Sau khi làm nghiệp ác, từ nơi đây con đã đi đến thế giới ngạ quỷ.
BJT 28Sau khi hạ sanh năm người con trai vào buổi tối, và năm đứa khác nữa vào buổi sáng, con ăn (thịt) chúng, nhưng chúng vẫn là không đủ đối với con.
BJT 29Tim con bị thiêu đốt và bốc khói vì cơn đói, con không thể đạt được nước để uống. Ngài hãy nhìn xem con bị lâm vào cảnh bất hạnh.”
BJT 30“Vậy ác hạnh gì đã được làm, bởi thân bởi khẩu bởi ý? Do quả thành tựu của nghiệp gì mà ngươi lại ăn thịt những đứa con trai?”
BJT 31“Người đàn bà có chung chồng với con đã đậu thai, con đã suy tính việc độc ác dành cho cô ấy. Với tâm ý xấu xa, con đây đã làm cho cô ấy bị sẩy thai.
BJT 32Bào thai hai tháng của cô ấy đã tuôn ra toàn là máu. Khi đó, mẹ của cô ấy, giận dữ đối với con, đã tụ tập thân quyến lại.
BJT 33Bà đã bắt con thề thốt và cho người mắng nhiếc con. Con đây đã nói lời thề khủng khiếp và là lời nói dối trá: ‘Nếu việc ấy do tôi gây ra, tôi sẽ ăn thịt những đứa con trai.’
BJT 34Do quả thành tựu của cả hai, của nghiệp ấy và của việc nói dối, con ăn thịt những đứa con trai, con bị lấm lem bởi máu mủ.”
Chuyện Ngạ Quỷ Ăn Năm Đứa Con Trai là thứ sáu.
“Naggā dubbaṇṇarūpāsi,
duggandhā pūti vāyasi;
Makkhikāhi parikiṇṇā,
kā nu tvaṁ idha tiṭṭhasī”ti.
“Ahaṁ bhadante petīmhi,
duggatā yamalokikā;
Pāpakammaṁ karitvāna,
petalokaṁ ito gatā.
Kālena pañca puttāni,
sāyaṁ pañca punāpare;
Vijāyitvāna khādāmi,
tepi nā honti me alaṁ.
Pariḍayhati dhūmāyati,
khudāya hadayaṁ mama;
Pānīyaṁ na labhe pātuṁ,
passa maṁ byasanaṁ gatan”ti.
“Kiṁ nu kāyena vācāya,
manasā dukkaṭaṁ kataṁ;
Kissa kammavipākena,
puttamaṁsāni khādasī”ti.
“Sapatī me gabbhinī āsi,
tassā pāpaṁ acetayiṁ;
Sāhaṁ paduṭṭhamanasā,
akariṁ gabbhapātanaṁ.
Tassā dvemāsiko gabbho,
lohitaññeva pagghari;
Tadassā mātā kupitā,
mayhaṁ ñātī samānayi;
Sapathañca maṁ kāresi,
paribhāsāpayī ca maṁ.
Sāhaṁ ghorañca sapathaṁ,
musāvādaṁ abhāsisaṁ;
Puttamaṁsāni khādāmi,
sace taṁ pakataṁ mayā.
Tassa kammassa vipākena,
musāvādassa cūbhayaṁ;
Puttamaṁsāni khādāmi,
pubbalohitamakkhitā”ti.
Pañcaputtakhādapetivatthu chaṭṭhaṁ.
Upon seeing a ghost, a monk asks,
Monk:
You are naked and very ugly. Your body is very smelly. You are surrounded by flies. You, standing there, who are you?
Ghost:
I am a ghost, sir. I am suffering in the world of Yama. I have done an evil deed as a human and have been reborn in the world of ghosts. Every morning, I give birth to five sons and in the evening another five are born. I eat them all that night. But I will still be hungry. My heart is burning with hunger so much that it is smoking. I get no water to drink. See the disaster that has happened to me.
Monk:
Now what evil deed have you done by body, speech, or mind? What have you done so that you have to eat your own sons?
Ghost:
My husband’s other wife was about to give birth. I was extremely jealous of her. With that evil mind, I gave her some medicine that would kill the unborn baby. The two month old embryo flowed out just like blood. The baby’s grandmother became very angry with me and called her relatives. She frightened me and made me swear an oath. I told a terrible lie by saying, “If I was the one who killed the baby, I will eat my own sons!”
As a result of that evil deed and the lie I told, I have to eat my sons and be covered by their blood.
BJT 26“Nàng là ai mà đứng ở nơi đây, lõa lồ, có vóc dáng xấu xí, có mùi hôi, toát ra mùi thối tha, còn bị bu quanh bởi những con ruồi?”
BJT 27“Thưa ngài đại đức, con là nữ ngạ quỷ bị đọa đày, thuộc cõi Dạ-ma. Sau khi làm nghiệp ác, từ nơi đây con đã đi đến thế giới ngạ quỷ.
BJT 28Sau khi hạ sanh năm người con trai vào buổi tối, và năm đứa khác nữa vào buổi sáng, con ăn (thịt) chúng, nhưng chúng vẫn là không đủ đối với con.
BJT 29Tim con bị thiêu đốt và bốc khói vì cơn đói, con không thể đạt được nước để uống. Ngài hãy nhìn xem con bị lâm vào cảnh bất hạnh.”
BJT 30“Vậy ác hạnh gì đã được làm, bởi thân bởi khẩu bởi ý? Do quả thành tựu của nghiệp gì mà ngươi lại ăn thịt những đứa con trai?”
BJT 31“Người đàn bà có chung chồng với con đã đậu thai, con đã suy tính việc độc ác dành cho cô ấy. Với tâm ý xấu xa, con đây đã làm cho cô ấy bị sẩy thai.
BJT 32Bào thai hai tháng của cô ấy đã tuôn ra toàn là máu. Khi đó, mẹ của cô ấy, giận dữ đối với con, đã tụ tập thân quyến lại.
BJT 33Bà đã bắt con thề thốt và cho người mắng nhiếc con. Con đây đã nói lời thề khủng khiếp và là lời nói dối trá: ‘Nếu việc ấy do tôi gây ra, tôi sẽ ăn thịt những đứa con trai.’
BJT 34Do quả thành tựu của cả hai, của nghiệp ấy và của việc nói dối, con ăn thịt những đứa con trai, con bị lấm lem bởi máu mủ.”
Chuyện Ngạ Quỷ Ăn Năm Đứa Con Trai là thứ sáu.
“Naggā dubbaṇṇarūpāsi,
duggandhā pūti vāyasi;
Makkhikāhi parikiṇṇā,
kā nu tvaṁ idha tiṭṭhasī”ti.
“Ahaṁ bhadante petīmhi,
duggatā yamalokikā;
Pāpakammaṁ karitvāna,
petalokaṁ ito gatā.
Kālena pañca puttāni,
sāyaṁ pañca punāpare;
Vijāyitvāna khādāmi,
tepi nā honti me alaṁ.
Pariḍayhati dhūmāyati,
khudāya hadayaṁ mama;
Pānīyaṁ na labhe pātuṁ,
passa maṁ byasanaṁ gatan”ti.
“Kiṁ nu kāyena vācāya,
manasā dukkaṭaṁ kataṁ;
Kissa kammavipākena,
puttamaṁsāni khādasī”ti.
“Sapatī me gabbhinī āsi,
tassā pāpaṁ acetayiṁ;
Sāhaṁ paduṭṭhamanasā,
akariṁ gabbhapātanaṁ.
Tassā dvemāsiko gabbho,
lohitaññeva pagghari;
Tadassā mātā kupitā,
mayhaṁ ñātī samānayi;
Sapathañca maṁ kāresi,
paribhāsāpayī ca maṁ.
Sāhaṁ ghorañca sapathaṁ,
musāvādaṁ abhāsisaṁ;
Puttamaṁsāni khādāmi,
sace taṁ pakataṁ mayā.
Tassa kammassa vipākena,
musāvādassa cūbhayaṁ;
Puttamaṁsāni khādāmi,
pubbalohitamakkhitā”ti.
Pañcaputtakhādapetivatthu chaṭṭhaṁ.