BJT 168“Nàng đen đủi, có vóc dáng xấu xí, thô kệch, có dáng vẻ ghê rợn, có mắt đỏ ngầu, có răng hô, tôi nghĩ rằng nàng không phải loài người?”
BJT 169“Này Nandasena, tôi là Nandā, trước đây tôi đã là vợ của ông. Sau khi làm nghiệp ác, từ nơi đây tôi đã đi đến thế giới ngạ quỷ.”
BJT 170“Vậy ác hạnh gì đã được làm, bởi thân bởi khẩu bởi ý? Do quả thành tựu của nghiệp gì mà từ nơi đây nàng đã đi đến thế giới ngạ quỷ?”
BJT 171Tôi đã là người nhẫn tâm, có lời nói thô lỗ, không tôn trọng ông. Sau khi nói lời tồi tệ với ông, tôi đã đi đến thế giới ngạ quỷ.”
BJT 172“Này, tôi cho nàng tấm choàng. Nàng hãy quấn mảnh vải này vào. Sau khi quấn vào mảnh vải này, hãy đi đến, ta sẽ đưa nàng về nhà.
BJT 173Khi nàng đã đi đến nhà, nàng sẽ nhận được y phục, cơm ăn và nước uống. Nàng sẽ trông thấy những đứa con trai của nàng, và nhìn xem những cô con dâu.”
BJT 174-175“Vật thí của ông dầu tay trao tay vẫn không lợi ích cho tôi. Ông hãy làm toại ý các vị tỳ khưu đầy đủ giới hạnh, đã lìa luyến ái, có sự nghe nhiều (học rộng), với cơm ăn và nước uống, rồi chỉ định sự cúng dường là dành cho tôi. Khi ấy, tôi sẽ được hạnh phúc, có sự thành tựu tất cả các dục lạc.”
BJT 176-177“Tốt lắm!” Sau khi thỏa thuận, vị ấy đã thực hiện dồi dào vật thí: cơm ăn, nước uống, vật thực cứng, vải vóc, chỗ trú ngụ, lọng che, vật thơm, tràng hoa, và nhiều loại giày dép. Sau khi làm toại ý các vị tỳ khưu đầy đủ giới hạnh, đã lìa luyến ái, có sự nghe nhiều (học rộng), với cơm ăn và nước uống, rồi đã chỉ định sự cúng dường là dành cho nữ ngạ quỷ ấy.
BJT 178Khi được chỉ định thì quả thành tựu đã được sanh lên ngay lập tức: vật thực, y phục, nước uống; quả báo này là do sự cúng dường.
BJT 179Do đó, nàng ấy (nữ ngạ quỷ) trở nên sạch sẽ, có y phục tinh khiết, có sự trang phục bằng vải hạng nhất của xứ Kāsī, có các đồ trang sức và các tấm vải nhiều màu sắc, đã đi đến gặp người chồng.
BJT 180“Hỡi nàng tiên, nàng đứng, với màu da nổi bật, khiến cho khắp các phương sáng rực lên, ví như ngôi sao osadhī.
BJT 181Do điều gì nàng có được màu da như thế ấy? Do điều gì mà (sự việc) được thành tựu cho nàng ở nơi đây? Và (do điều gì mà) các sự hưởng thụ thích ý sanh lên cho nàng?
BJT 182Hỡi nàng tiên có đại oai lực, tôi hỏi nàng: ‘Khi là con người, nàng đã làm việc phước thiện gì? Do điều gì mà nàng có oai lực được rực sáng như vầy, và màu da của nàng chiếu sáng khắp các phương?’”
BJT 183“Này Nandasena, tôi là Nandā, trước đây tôi đã là vợ của chàng. Sau khi làm nghiệp ác, từ nơi đây tôi đã đi đến thế giới ngạ quỷ.
BJT 184Nhờ vào vật thí đã được chàng dâng cúng, tôi vui sướng, không có sự sợ hãi từ bất cứ đâu. Này gia chủ, mong rằng chàng sống thọ cùng với tất cả thân quyến.
BJT 185Nơi chốn không sầu muộn, xa lìa luyến ái, là chỗ trú ngụ của các vị có quyền lực. Này gia chủ, ở đây sau khi thực hành Giáo Pháp, sau khi dâng cúng vật thí, sau khi loại trừ ô nhiễm của sự bỏn xẻn luôn cả gốc rễ, không bị chê trách, mong rằng chàng đi đến nơi chốn cõi Trời.”
Chuyện Ngạ Quỷ Nandā là thứ tư.
“Kāḷī dubbaṇṇarūpāsi,
pharusā bhīrudassanā;
Piṅgalāsi kaḷārāsi,
na taṁ maññāmi mānusin”ti.
“Ahaṁ nandā nandisena,
bhariyā te pure ahuṁ;
Pāpakammaṁ karitvāna,
petalokaṁ ito gatā”ti.
“Kiṁ nu kāyena vācāya,
manasā dukkaṭaṁ kataṁ;
Kissa kammavipākena,
petalokaṁ ito gatā”ti.
“Caṇḍī ca pharusā cāsiṁ,
tayi cāpi agāravā;
Tāhaṁ duruttaṁ vatvāna,
petalokaṁ ito gatā”ti.
“Handuttarīyaṁ dadāmi te,
imaṁ dussaṁ nivāsaya;
Imaṁ dussaṁ nivāsetvā,
ehi nessāmi taṁ gharaṁ.
Vatthañca annapānañca,
lacchasi tvaṁ gharaṁ gatā;
Putte ca te passissasi,
suṇisāyo ca dakkhasī”ti.
“Hatthena hatthe te dinnaṁ,
na mayhaṁ upakappati;
Bhikkhū ca sīlasampanne,
vītarāge bahussute.
Tappehi annapānena,
mama dakkhiṇamādisa;
Tadāhaṁ sukhitā hessaṁ,
sabbakāmasamiddhinī”ti.
Sādhūti so paṭissutvā,
dānaṁ vipulamākiri;
Annaṁ pānaṁ khādanīyaṁ,
vatthasenāsanāni ca;
Chattaṁ gandhañca mālañca,
vividhā ca upāhanā.
Bhikkhū ca sīlasampanne,
vītarāge bahussute;
Tappetvā annapānena,
tassā dakkhiṇamādisī.
Samanantarānuddiṭṭhe,
vipāko udapajjatha;
Bhojanacchādanapānīyaṁ,
dakkhiṇāya idaṁ phalaṁ.
Tato suddhā sucivasanā,
kāsikuttamadhārinī;
Vicittavatthābharaṇā,
sāmikaṁ upasaṅkami.
“Abhikkantena vaṇṇena,
yā tvaṁ tiṭṭhasi devate;
Obhāsentī disā sabbā,
osadhī viya tārakā.
Kena tetādiso vaṇṇo,
kena te idha mijjhati;
Uppajjanti ca te bhogā,
ye keci manaso piyā.
Pucchāmi taṁ devi mahānubhāve,
Manussabhūtā kimakāsi puññaṁ;
Kenāsi evaṁ jalitānubhāvā,
Vaṇṇo ca te sabbadisā pabhāsatī”ti.
“Ahaṁ nandā nandisena,
bhariyā te pure ahuṁ;
Pāpakammaṁ karitvāna,
petalokaṁ ito gatā.
Tava dinnena dānena,
modāmi akutobhayā;
Ciraṁ jīva gahapati,
saha sabbehi ñātibhi;
Asokaṁ virajaṁ khemaṁ,
āvāsaṁ vasavattinaṁ.
Idha dhammaṁ caritvāna,
Dānaṁ datvā gahapati;
Vineyya maccheramalaṁ samūlaṁ,
Anindito saggamupehi ṭhānan”ti.
Nandāpetivatthu catutthaṁ.
Nandasena sees a ghost and questions,
Nandasena:
You are very dark and ugly with red eyes and black teeth. You look very nasty. I don’t think that you are a human.
Nanda (ghost):
Oh Nandasena, I am Nanda. I was your wife in the human world. Since I did lots of evil things, I was reborn in the ghost world.
Nandasena:
What bad things did you do by body, speech, or mind in order to be reborn in the ghost world?
Nanda:
When I lived with you in the human world, I was very cruel to you by speaking harshly. I did not respect you at all. That is why I was reborn in the ghost world.
Nandasena:
Here, I will give you my cloak to wear and then we can go back home. You can have beautiful clothes, food, and drink there. Also, you can see your sons and daughters-in-law.
Nanda:
Sadly, I cannot receive anything that is given directly by your hands. But you can help me by giving alms to virtuous monks who know the Dhamma well and are free from passion. Share the merit that you gain with me, and then I will be happy with all the comforts in the world.
Nandasena agreed and offered food, drink, shelter, robes, umbrellas, flowers, and incense to virtuous monks and shared the merit he collected with the ghost Nanda. The result of this donation immediately took effect in the form of food, drink, and clothing for the ghost. She became pure, wearing the cleanest and finest clothes with jewelry and then approached Nandasena.
Nandasena:
Who are you, with heavenly beauty, shining in all directions like a star? Why are you so beautiful? What merit have you collected when you were a human?
Nanda:
Oh Nandasena, I am Nanda. I was your wife in the human world. Since I did lots of evil things, I was reborn in the ghost world. But now through the gift given by you, I am very happy and do not fear anything.
I bless you. May you live long and happily with your relatives.
Nandasena:
Yes my dear, one should practice the Dhamma and be generous by giving alms. The person who does this will be reborn in heaven where there is no sorrow.
BJT 168“Nàng đen đủi, có vóc dáng xấu xí, thô kệch, có dáng vẻ ghê rợn, có mắt đỏ ngầu, có răng hô, tôi nghĩ rằng nàng không phải loài người?”
BJT 169“Này Nandasena, tôi là Nandā, trước đây tôi đã là vợ của ông. Sau khi làm nghiệp ác, từ nơi đây tôi đã đi đến thế giới ngạ quỷ.”
BJT 170“Vậy ác hạnh gì đã được làm, bởi thân bởi khẩu bởi ý? Do quả thành tựu của nghiệp gì mà từ nơi đây nàng đã đi đến thế giới ngạ quỷ?”
BJT 171Tôi đã là người nhẫn tâm, có lời nói thô lỗ, không tôn trọng ông. Sau khi nói lời tồi tệ với ông, tôi đã đi đến thế giới ngạ quỷ.”
BJT 172“Này, tôi cho nàng tấm choàng. Nàng hãy quấn mảnh vải này vào. Sau khi quấn vào mảnh vải này, hãy đi đến, ta sẽ đưa nàng về nhà.
BJT 173Khi nàng đã đi đến nhà, nàng sẽ nhận được y phục, cơm ăn và nước uống. Nàng sẽ trông thấy những đứa con trai của nàng, và nhìn xem những cô con dâu.”
BJT 174-175“Vật thí của ông dầu tay trao tay vẫn không lợi ích cho tôi. Ông hãy làm toại ý các vị tỳ khưu đầy đủ giới hạnh, đã lìa luyến ái, có sự nghe nhiều (học rộng), với cơm ăn và nước uống, rồi chỉ định sự cúng dường là dành cho tôi. Khi ấy, tôi sẽ được hạnh phúc, có sự thành tựu tất cả các dục lạc.”
BJT 176-177“Tốt lắm!” Sau khi thỏa thuận, vị ấy đã thực hiện dồi dào vật thí: cơm ăn, nước uống, vật thực cứng, vải vóc, chỗ trú ngụ, lọng che, vật thơm, tràng hoa, và nhiều loại giày dép. Sau khi làm toại ý các vị tỳ khưu đầy đủ giới hạnh, đã lìa luyến ái, có sự nghe nhiều (học rộng), với cơm ăn và nước uống, rồi đã chỉ định sự cúng dường là dành cho nữ ngạ quỷ ấy.
BJT 178Khi được chỉ định thì quả thành tựu đã được sanh lên ngay lập tức: vật thực, y phục, nước uống; quả báo này là do sự cúng dường.
BJT 179Do đó, nàng ấy (nữ ngạ quỷ) trở nên sạch sẽ, có y phục tinh khiết, có sự trang phục bằng vải hạng nhất của xứ Kāsī, có các đồ trang sức và các tấm vải nhiều màu sắc, đã đi đến gặp người chồng.
BJT 180“Hỡi nàng tiên, nàng đứng, với màu da nổi bật, khiến cho khắp các phương sáng rực lên, ví như ngôi sao osadhī.
BJT 181Do điều gì nàng có được màu da như thế ấy? Do điều gì mà (sự việc) được thành tựu cho nàng ở nơi đây? Và (do điều gì mà) các sự hưởng thụ thích ý sanh lên cho nàng?
BJT 182Hỡi nàng tiên có đại oai lực, tôi hỏi nàng: ‘Khi là con người, nàng đã làm việc phước thiện gì? Do điều gì mà nàng có oai lực được rực sáng như vầy, và màu da của nàng chiếu sáng khắp các phương?’”
BJT 183“Này Nandasena, tôi là Nandā, trước đây tôi đã là vợ của chàng. Sau khi làm nghiệp ác, từ nơi đây tôi đã đi đến thế giới ngạ quỷ.
BJT 184Nhờ vào vật thí đã được chàng dâng cúng, tôi vui sướng, không có sự sợ hãi từ bất cứ đâu. Này gia chủ, mong rằng chàng sống thọ cùng với tất cả thân quyến.
BJT 185Nơi chốn không sầu muộn, xa lìa luyến ái, là chỗ trú ngụ của các vị có quyền lực. Này gia chủ, ở đây sau khi thực hành Giáo Pháp, sau khi dâng cúng vật thí, sau khi loại trừ ô nhiễm của sự bỏn xẻn luôn cả gốc rễ, không bị chê trách, mong rằng chàng đi đến nơi chốn cõi Trời.”
Chuyện Ngạ Quỷ Nandā là thứ tư.
“Kāḷī dubbaṇṇarūpāsi,
pharusā bhīrudassanā;
Piṅgalāsi kaḷārāsi,
na taṁ maññāmi mānusin”ti.
“Ahaṁ nandā nandisena,
bhariyā te pure ahuṁ;
Pāpakammaṁ karitvāna,
petalokaṁ ito gatā”ti.
“Kiṁ nu kāyena vācāya,
manasā dukkaṭaṁ kataṁ;
Kissa kammavipākena,
petalokaṁ ito gatā”ti.
“Caṇḍī ca pharusā cāsiṁ,
tayi cāpi agāravā;
Tāhaṁ duruttaṁ vatvāna,
petalokaṁ ito gatā”ti.
“Handuttarīyaṁ dadāmi te,
imaṁ dussaṁ nivāsaya;
Imaṁ dussaṁ nivāsetvā,
ehi nessāmi taṁ gharaṁ.
Vatthañca annapānañca,
lacchasi tvaṁ gharaṁ gatā;
Putte ca te passissasi,
suṇisāyo ca dakkhasī”ti.
“Hatthena hatthe te dinnaṁ,
na mayhaṁ upakappati;
Bhikkhū ca sīlasampanne,
vītarāge bahussute.
Tappehi annapānena,
mama dakkhiṇamādisa;
Tadāhaṁ sukhitā hessaṁ,
sabbakāmasamiddhinī”ti.
Sādhūti so paṭissutvā,
dānaṁ vipulamākiri;
Annaṁ pānaṁ khādanīyaṁ,
vatthasenāsanāni ca;
Chattaṁ gandhañca mālañca,
vividhā ca upāhanā.
Bhikkhū ca sīlasampanne,
vītarāge bahussute;
Tappetvā annapānena,
tassā dakkhiṇamādisī.
Samanantarānuddiṭṭhe,
vipāko udapajjatha;
Bhojanacchādanapānīyaṁ,
dakkhiṇāya idaṁ phalaṁ.
Tato suddhā sucivasanā,
kāsikuttamadhārinī;
Vicittavatthābharaṇā,
sāmikaṁ upasaṅkami.
“Abhikkantena vaṇṇena,
yā tvaṁ tiṭṭhasi devate;
Obhāsentī disā sabbā,
osadhī viya tārakā.
Kena tetādiso vaṇṇo,
kena te idha mijjhati;
Uppajjanti ca te bhogā,
ye keci manaso piyā.
Pucchāmi taṁ devi mahānubhāve,
Manussabhūtā kimakāsi puññaṁ;
Kenāsi evaṁ jalitānubhāvā,
Vaṇṇo ca te sabbadisā pabhāsatī”ti.
“Ahaṁ nandā nandisena,
bhariyā te pure ahuṁ;
Pāpakammaṁ karitvāna,
petalokaṁ ito gatā.
Tava dinnena dānena,
modāmi akutobhayā;
Ciraṁ jīva gahapati,
saha sabbehi ñātibhi;
Asokaṁ virajaṁ khemaṁ,
āvāsaṁ vasavattinaṁ.
Idha dhammaṁ caritvāna,
Dānaṁ datvā gahapati;
Vineyya maccheramalaṁ samūlaṁ,
Anindito saggamupehi ṭhānan”ti.
Nandāpetivatthu catutthaṁ.