BJT 454“Một người ăn các vỏ trấu của hạt lúa sāli, thêm một người khác nữa, và người đàn bà này ăn thịt và máu của mình, còn ngươi ăn phân dơ bẩn, ghê tởm; đây là quả thành tựu của việc gì?”
BJT 455“Người này trước đây đã hãm hại mẹ, còn người này lại là thương buôn gian xảo, người này sau khi ăn (vụng) các miếng thịt đã lừa gạt bằng lời nói dối.
BJT 456Tôi, khi là con người ở cõi nhân loại, đã là nữ gia chủ, có quyền cai quản toàn bộ gia đình. Trong khi có của cải, tôi đã cất giấu và chẳng bố thí bất cứ vật gì trong số đó.
BJT 457Tôi đã che đậy bằng cách nói dối rằng: ‘Không có vật ấy trong nhà của tôi. Nếu vật ấy có và tôi thu giấu nó, thì phân hãy là thức ăn của tôi.’
BJT 458Do quả thành tựu của cả hai, của nghiệp ấy và của việc nói dối, bữa ăn gồm gạo sāli có mùi thơm biến đổi thành phân cho tôi.
BJT 459Các nghiệp không phải là không kết quả, bởi vì nghiệp không bị tiêu hoại; tôi ăn và uống phân có mùi thối tha đã sanh dòi.”
Chuyện Ngạ Quỷ Vỏ Trấu là thứ tư.
“Bhusāni eko sāliṁ punāparo,
Ayañca nārī sakamaṁsalohitaṁ;
Tuvañca gūthaṁ asuciṁ akantaṁ,
Paribhuñjasi kissa ayaṁ vipāko”ti.
“Ayaṁ pure mātaraṁ hiṁsati,
Ayaṁ pana kūṭavāṇijo;
Ayaṁ maṁsāni khāditvā,
Musāvādena vañceti.
Ahaṁ manussesu manussabhūtā,
Agārinī sabbakulassa issarā;
Santesu pariguhāmi,
Mā ca kiñci ito adaṁ.
Musāvādena chādemi,
‘natthi etaṁ mama gehe;
Sace santaṁ niguhāmi,
gūtho me hotu bhojanaṁ’.
Tassa kammassa vipākena,
musāvādassa cūbhayaṁ;
Sugandhaṁ sālino bhattaṁ,
gūthaṁ me parivattati.
Avañjhāni ca kammāni,
Na hi kammaṁ vinassati;
Duggandhaṁ kiminaṁ mīḷaṁ,
Bhuñjāmi ca pivāmi cā”ti.
Bhusapetavatthu catutthaṁ.
Monk:
One ghost spreads burning hay on his head while another hits himself on the head with an iron rod. And a third ghost eats his own flesh and blood.
You are eating filthy and disgusting excrement. Why is this happening? Of what evil deeds are these the results?
Ghost:
The ghost putting burning hay on his head injured his mother in the human world, while the one hitting himself on the head with an iron rod was a dishonest and cunning trader. The ghost eating his own flesh and blood stole meat and lied about it to the seller.
For my case, in the human world I was a very bossy housewife who ordered others around in the family. Even though I was capable of giving gifts to others, I was greedy and never gave anything. When people came to my house begging for food, I hid the food and lied by swearing an oath, saying, “There is no food in my house, believe me. If there is any that I have hidden, then let it turn to excrement and I will eat it!”
It is the result of both greed and the fact that I lied. Now good rice turns into excrement when I am about to eat it.
All actions have a result; the results of bad deeds will not simply go away without ripening. Therefore because of my bad deeds I must eat and drink this filthy and disgusting excrement full of worms.
BJT 454“Một người ăn các vỏ trấu của hạt lúa sāli, thêm một người khác nữa, và người đàn bà này ăn thịt và máu của mình, còn ngươi ăn phân dơ bẩn, ghê tởm; đây là quả thành tựu của việc gì?”
BJT 455“Người này trước đây đã hãm hại mẹ, còn người này lại là thương buôn gian xảo, người này sau khi ăn (vụng) các miếng thịt đã lừa gạt bằng lời nói dối.
BJT 456Tôi, khi là con người ở cõi nhân loại, đã là nữ gia chủ, có quyền cai quản toàn bộ gia đình. Trong khi có của cải, tôi đã cất giấu và chẳng bố thí bất cứ vật gì trong số đó.
BJT 457Tôi đã che đậy bằng cách nói dối rằng: ‘Không có vật ấy trong nhà của tôi. Nếu vật ấy có và tôi thu giấu nó, thì phân hãy là thức ăn của tôi.’
BJT 458Do quả thành tựu của cả hai, của nghiệp ấy và của việc nói dối, bữa ăn gồm gạo sāli có mùi thơm biến đổi thành phân cho tôi.
BJT 459Các nghiệp không phải là không kết quả, bởi vì nghiệp không bị tiêu hoại; tôi ăn và uống phân có mùi thối tha đã sanh dòi.”
Chuyện Ngạ Quỷ Vỏ Trấu là thứ tư.
“Bhusāni eko sāliṁ punāparo,
Ayañca nārī sakamaṁsalohitaṁ;
Tuvañca gūthaṁ asuciṁ akantaṁ,
Paribhuñjasi kissa ayaṁ vipāko”ti.
“Ayaṁ pure mātaraṁ hiṁsati,
Ayaṁ pana kūṭavāṇijo;
Ayaṁ maṁsāni khāditvā,
Musāvādena vañceti.
Ahaṁ manussesu manussabhūtā,
Agārinī sabbakulassa issarā;
Santesu pariguhāmi,
Mā ca kiñci ito adaṁ.
Musāvādena chādemi,
‘natthi etaṁ mama gehe;
Sace santaṁ niguhāmi,
gūtho me hotu bhojanaṁ’.
Tassa kammassa vipākena,
musāvādassa cūbhayaṁ;
Sugandhaṁ sālino bhattaṁ,
gūthaṁ me parivattati.
Avañjhāni ca kammāni,
Na hi kammaṁ vinassati;
Duggandhaṁ kiminaṁ mīḷaṁ,
Bhuñjāmi ca pivāmi cā”ti.
Bhusapetavatthu catutthaṁ.