BJT 413Vị trưởng lão của thành phố Kuṇḍi có sự cư ngụ ở núi Sānuvāsī, có tên là Poṭṭhapāda, là vị Sa-môn có giác quan đã được tu tập.
BJT 414Mẹ, cha, em trai của vị ấy bị đọa đày, thuộc cõi Dạ-ma. Sau khi làm nghiệp ác, từ nơi đây họ đã đi đến thế giới ngạ quỷ.
BJT 415Họ bị đọa đày, bị khổ sở như kim chích, lõa lồ, gầy guộc. Trong khi sợ hãi, có nỗi sợ hãi lớn lao, có nghiệp ghê rợn, họ không hiện hình cho thấy.
BJT 416Người em trai của vị ấy, lõa lồ, một mình trên lối đi bộ, quỳ chống hai tay, đã vội vã tiến đến và hiện hình ra cho vị trưởng lão nhìn thấy.
BJT 417Và vị trưởng lão không để ý đến, có trạng thái im lặng, đã bước đi. Và người ấy đã cho vị trưởng lão biết rằng: ‘Tôi là em trai, đã trở thành ngạ quỷ.
BJT 418Thưa ngài, mẹ và cha của ngài bị đọa đày, thuộc cõi Dạ-ma. Sau khi làm nghiệp ác, từ nơi đây họ đã đi đến thế giới ngạ quỷ.
BJT 419Họ bị đọa đày, bị khổ sở như kim chích, lõa lồ, gầy guộc. Trong khi sợ sệt, có nỗi sợ hãi lớn lao, có nghiệp ghê rợn, họ không hiện hình cho thấy.
BJT 420Là người có lòng bi mẫn, xin ngài hãy thương xót. Xin ngài hãy bố thí rồi chỉ định (việc ấy là) dành cho chúng tôi. Nhờ vào vật thí đã được ngài bố thí, những kẻ có nghiệp ghê rợn sẽ được nuôi sống.’
BJT 421Sau khi đi khất thực, vị trưởng lão và mười hai vị tỳ khưu khác nữa đã tụ tập tại một chỗ với lý do phân chia vật thực.
BJT 422Vị trưởng lão đã nói với toàn bộ tất cả các vị ấy rằng: ‘Xin các vị hãy cho tôi phần đã nhận được, tôi sẽ thực hiện bữa ăn dâng đến Hội Chúng, vì lòng thương xót các thân quyến.’
BJT 423Các vị đã trao cho vị trưởng lão. Vị trưởng lão đã thỉnh mời hội chúng. Sau khi dâng cúng, vị trưởng lão đã chỉ định đến mẹ, cha, và em trai:
BJT 424‘(Phước báu) này là thuộc về các thân quyến của tôi; mong rằng các thân quyến được an vui.’ Khi được chỉ định thì vật thực đã được sanh lên ngay lập tức.
BJT 425(Vật thực) là sạch sẽ, hảo hạng, được đầy đủ, có nước xúp với nhiều gia vị. Kế đó, người em trai đã hiện ra, có sắc vóc, có sức mạnh, có sự an lạc.
BJT 426‘Thưa ngài, có nhiều thức ăn rồi. Xin ngài hãy nhìn xem chúng tôi bị lõa lồ. Thưa ngài, xin ngài hãy nỗ lực như thế nào đó cho chúng tôi có thể đạt được vải vóc.’
BJT 427Sau khi góp nhặt những mảnh vải rách từ nơi đống rác, vị trưởng lão đã chế biến vải vụn thành y phục rồi dâng đến Hội Chúng bốn phương.
BJT 428Sau khi dâng cúng, vị trưởng lão đã chỉ định đến mẹ, cha, và em trai: ‘(Phước báu) này là thuộc về các thân quyến của tôi; mong rằng các thân quyến được an vui.’
BJT 429Khi được chỉ định thì các vải mặc đã được sanh lên ngay lập tức. Kế đó, được mặc vải đẹp, (người em trai) đã hiện thân ra cho vị trưởng lão nhìn thấy.
BJT 430‘Thưa ngài, các vải vóc ở lãnh thổ của đức vua Nanda nhiều chừng nào, thì các vải vóc và các y phục của chúng tôi còn nhiều hơn thế ấy.
BJT 431Chúng bằng tơ lụa, sợi len, sợi lanh, và bông vải. Chúng dư thừa và có trị giá cao, hơn nữa chúng treo lủng lẳng ở không trung.
BJT 432Chúng tôi đây chỉ khoác vào cái nào thích ý. Thưa ngài, xin ngài hãy nỗ lực như thế nào đó cho chúng tôi có thể đạt được nhà ở.’
BJT 433Sau khi làm cái cốc bằng lá, vị trưởng lão đã dâng đến Hội Chúng bốn phương. Sau khi dâng cúng, vị trưởng lão đã chỉ định đến mẹ, cha, và em trai:
BJT 434‘(Phước báu) này là thuộc về các thân quyến của tôi; mong rằng các thân quyến được an vui.’ Khi được chỉ định thì các ngôi nhà đã được sanh lên ngay lập tức.
BJT 435Những ngôi nhà mái nhọn và các chỗ ngụ là được phân chia thành từng phần cân xứng. Các ngôi nhà của chúng tôi ở nơi đây như thế nào thì ở loài người không giống như thế này.
BJT 436Ở các cõi Trời như thế nào thì các ngôi nhà của chúng tôi ở nơi đây giống như thế ấy. Trong lúc tỏa sáng rực rỡ, chúng chiếu sáng bốn phương ở xung quanh.
BJT 437‘Thưa ngài, xin ngài hãy nỗ lực như thế nào đó cho chúng tôi có thể đạt được nước uống.’ Sau khi làm đầy bình đựng nước, vị trưởng lão đã dâng đến Hội Chúng bốn phương.
BJT 438Sau khi dâng cúng, vị trưởng lão đã chỉ định đến mẹ, cha, và em trai: ‘(Phước báu) này là thuộc về các thân quyến của tôi; mong rằng các thân quyến được an vui.’
BJT 439Khi được chỉ định thì nước uống đã được sanh lên ngay lập tức. Có các hồ sen sâu thẳm, hình chữ nhật, đã khéo được hóa hiện ra.
BJT 440Có nước trong, có những bến bãi xinh đẹp, mát mẻ, có mùi thơm, được che phủ bởi nhiều loại sen hồng và sen xanh, tràn ngập nước và phấn hoa.
BJT 441Sau khi tắm và uống nước ở nơi ấy, họ đã xuất hiện cho vị trưởng lão thấy (nói rằng): ‘Thưa ngài, có nhiều nước uống rồi. Các bàn chân của chúng tôi bị nứt nẻ đau đớn.
BJT 442Trong khi lang thang, chúng tôi đi khập khiễng ở nơi sỏi đá, ở gai nhọn của cỏ kusa. Thưa ngài, xin ngài hãy nỗ lực như thế nào đó cho chúng tôi có thể đạt được phương tiện di chuyển.’
BJT 443Sau khi nhận được chiếc giày, vị trưởng lão đã dâng đến Hội Chúng bốn phương. Sau khi dâng cúng, vị trưởng lão đã chỉ định đến mẹ, cha, và em trai:
BJT 444‘(Phước báu) này là thuộc về các thân quyến của tôi; mong rằng các thân quyến được an vui.’ Khi được chỉ định thì ngay lập tức các ngạ quỷ đã đi đến bằng cỗ xe.
BJT 445‘Thưa ngài đại đức, chúng tôi đã được thương xót với vật thực, với y phục, với ngôi nhà, với sự bố thí nước uống, với sự bố thí phương tiện di chuyển, và cả hai. Thưa ngài, chúng tôi đi đến để đảnh lễ bậc hiền trí, đấng bi mẫn ở thế gian.’
Chuyện Ngạ Quỷ ở Núi Sānuvāsī là thứ nhì.
Kuṇḍināgariyo thero,
sāṇavāsinivāsiko;
Poṭṭhapādoti nāmena,
samaṇo bhāvitindriyo.
Tassa mātā pitā bhātā,
duggatā yamalokikā;
Pāpakammaṁ karitvāna,
petalokaṁ ito gatā.
Te duggatā sūcikaṭṭā,
kilantā naggino kisā;
Uttasantā mahattāsā,
na dassenti kurūrino.
Tassa bhātā vitaritvā,
naggo ekapathekako;
Catukuṇḍiko bhavitvāna,
therassa dassayītumaṁ.
Thero cāmanasikatvā,
tuṇhībhūto atikkami;
So ca viññāpayī theraṁ,
“bhātā petagato ahaṁ.
Mātā pitā ca te bhante,
duggatā yamalokikā;
Pāpakammaṁ karitvāna,
petalokaṁ ito gatā.
Te duggatā sūcikaṭṭā,
kilantā naggino kisā;
Uttasantā mahattāsā,
na dassenti kurūrino.
Anukampassu kāruṇiko,
datvā anvādisāhi no;
Tava dinnena dānena,
yāpessanti kurūrino”ti.
Thero caritvā piṇḍāya,
bhikkhū aññe ca dvādasa;
Ekajjhaṁ sannipatiṁsu,
bhattavissaggakāraṇā.
Thero sabbeva te āha,
“yathāladdhaṁ dadātha me;
Saṅghabhattaṁ karissāmi,
anukampāya ñātinaṁ”.
Niyyādayiṁsu therassa,
thero saṅghaṁ nimantayi;
Datvā anvādisi thero,
mātu pitu ca bhātuno;
“Idaṁ me ñātīnaṁ hotu,
sukhitā hontu ñātayo”.
Samanantarānuddiṭṭhe,
bhojanaṁ udapajjatha;
Suciṁ paṇītaṁ sampannaṁ,
anekarasabyañjanaṁ.
Tato uddassayī bhātā,
vaṇṇavā balavā sukhī;
“Pahūtaṁ bhojanaṁ bhante,
passa naggāmhase mayaṁ;
Tathā bhante parakkama,
yathā vatthaṁ labhāmase”ti.
Thero saṅkārakūṭamhā,
uccinitvāna nantake;
Pilotikaṁ paṭaṁ katvā,
saṅghe cātuddise adā.
Datvā anvādisī thero,
mātu pitu ca bhātuno;
“Idaṁ me ñātīnaṁ hotu,
sukhitā hontu ñātayo”.
Samanantarānuddiṭṭhe,
vatthāni udapajjisuṁ;
Tato suvatthavasano,
therassa dassayītumaṁ.
“Yāvatā nandarājassa,
vijitasmiṁ paṭicchadā;
Tato bahutarā bhante,
vatthānacchādanāni no.
Koseyyakambalīyāni,
khoma kappāsikāni ca;
Vipulā ca mahagghā ca,
tepākāsevalambare.
Te mayaṁ paridahāma,
yaṁ yaṁ hi manaso piyaṁ;
Tathā bhante parakkama,
yathā gehaṁ labhāmase”ti.
Thero paṇṇakuṭiṁ katvā,
saṅghe cātuddise adā;
Datvā anvādisī thero,
mātu pitu ca bhātuno;
“Idaṁ me ñātīnaṁ hotu,
sukhitā hontu ñātayo”.
Samanantarānuddiṭṭhe,
gharāni udapajjisuṁ;
Kūṭāgāranivesanā,
vibhattā bhāgaso mitā.
“Na manussesu īdisā,
yādisā no gharā idha;
Api dibbesu yādisā,
tādisā no gharā idha.
Daddallamānā ābhenti,
Samantā caturo disā;
Tathā bhante parakkama,
Yathā pānīyaṁ labhāmase”ti.
Thero karaṇaṁ pūretvā,
saṅghe cātuddise adā;
Datvā anvādisī thero,
mātu pitu ca bhātuno;
“Idaṁ me ñātīnaṁ hotu,
sukhitā hontu ñātayo”.
Samanantarānuddiṭṭhe,
pānīyaṁ udapajjatha;
Gambhīrā caturassā ca,
pokkharañño sunimmitā.
Sītodikā suppatitthā,
sītā appaṭigandhiyā;
Padumuppalasañchannā,
vārikiñjakkhapūritā.
Tattha nhatvā pivitvā ca,
therassa paṭidassayuṁ;
“Pahūtaṁ pānīyaṁ bhante,
pādā dukkhā phalanti no”.
“Āhiṇḍamānā khañjāma,
sakkhare kusakaṇṭake;
‘Tathā bhante parakkama,
yathā yānaṁ labhāmase’”ti.
Thero sipāṭikaṁ laddhā,
saṅghe cātuddise adā;
Datvā anvādisī thero,
mātu pitu ca bhātuno;
“Idaṁ me ñātīnaṁ hotu,
sukhitā hontu ñātayo”.
Samanantarānuddiṭṭhe,
petā rathena māgamuṁ;
“Anukampitamha bhadante,
bhattenacchādanena ca.
Gharena pānīyadānena,
yānadānena cūbhayaṁ;
Muniṁ kāruṇikaṁ loke,
bhante vanditumāgatā”ti.
Sāṇavāsītherapetavatthu dutiyaṁ.
There was once an arahant named Potthapada living in the city of Kundi, on Mount Sanuvasi. He possessed many good qualities.
His mother, father, and brother passed away and were reborn in the ghost world because of the bad deeds they committed in the human world. They were very tired, thin, and naked. They experienced pain as if they were being pierced by needles. They were always scared and would not show themselves.
However, one day the brother revealed himself to Potthapada Bhante while standing on his hands and feet like an animal. But Potthapada Bhante just walked past the ghost without saying anything. The ghost spoke to him saying,
Ghost:
I am your brother who was reborn in the ghost world. Your mother and father are also there right now. Having done evil deeds, now we have to suffer there. They are pierced with needles and are very tired, thin, and naked. They are always scared and do not show themselves.
You are very compassionate, Bhante. Please have pity on us. Please offer alms and dedicate that merit to us. That is the only way we will be happy.
Potthapada Bhante and twelve other monks searched for alms and soon gathered at the same place with the purpose of sharing their meals.
Potthapada Bhante:
Give me the food that you have collected. I want to offer it to the community of monks out of compassion for my departed relatives.
The monks gave their food to Potthapada Bhante. The Bhante offered the food to the Sangha and dedicated the merit to his mother, father, and brother by saying, “Let this merit go to my departed relatives. May my relatives be happy.”
The merit he dedicated instantly became a well prepared, good quality curry and other food for the monk’s departed relatives. The brother then appeared in front of the monk looking healthy, fresh, and happy, saying,
Brother:
Bhante, there is lots of food for us to eat. But we are still naked. Please do something so we can have some clothes.
Potthapada Bhante then collected some scraps of cloth. Once he had collected enough, he made a robe and offered it to the Sangha by saying, “Let this merit be for my departed relatives. May my relatives be happy.”
The fruit of his donation immediately turned to clothing for his relatives. The brother appeared again in front of the monk dressed in fine clothes and said,
Brother:
There are more clothes here than there are in King Nanda’s realm, made from silk and wool, linen and cotton. There are so many that they hang down from the sky. We can wear as many clothes as we want. But we are still homeless, please find a way for us to have a home now.
Potthapada Bhante built a hut from leaves and donated it to the Sangha. When he had offered it, he dedicated the merit by saying, “Let this merit be for my departed relatives. May my relatives be happy.” Immediately the merit that he shared came into the form of a large multi-story house.
The brother appeared in front of him once again saying,
Brother:
The house that we have right now cannot be found anywhere in the human world, but it is like the houses where devas live. The house shines in all directions. But Bhante, we are still thirsty. Please find a way to get us some water to drink.
Potthapada Bhante filled a water pot and offered it to the Sangha saying, “Let this merit be for my relatives. May my relatives be happy.”
The merit he shared immediately became lotus ponds for the family. These ponds had clear water, beautiful banks, and were filled with sweet fragrance. The water was cool and covered with lotuses, water lilies, and lotus petals.
The relatives of the monk bathed, drank, and enjoyed the water. They then appeared once again in front of Potthapada Bhante saying,
Relatives:
Bhante, we have plenty of water now, but our feet are dried and cracked. We have to walk around on gravel and other sharp objects in our bare feet. Please find a way so we can get something so to ride on.
The elder monk found some sandals and offered them to the Sangha saying, “Let this merit be for my departed relatives. May my relatives be happy.” The merit immediately went to the relatives in the form of a carriage. The relatives approached the monk in their carriage and said,
Relatives:
You have shown us compassion, Bhante. You helped us to get food to eat, clothing, houses, water to drink, and vehicles to ride in. We are here now to pay homage to the compassionate Potthapada Bhante.
BJT 413Vị trưởng lão của thành phố Kuṇḍi có sự cư ngụ ở núi Sānuvāsī, có tên là Poṭṭhapāda, là vị Sa-môn có giác quan đã được tu tập.
BJT 414Mẹ, cha, em trai của vị ấy bị đọa đày, thuộc cõi Dạ-ma. Sau khi làm nghiệp ác, từ nơi đây họ đã đi đến thế giới ngạ quỷ.
BJT 415Họ bị đọa đày, bị khổ sở như kim chích, lõa lồ, gầy guộc. Trong khi sợ hãi, có nỗi sợ hãi lớn lao, có nghiệp ghê rợn, họ không hiện hình cho thấy.
BJT 416Người em trai của vị ấy, lõa lồ, một mình trên lối đi bộ, quỳ chống hai tay, đã vội vã tiến đến và hiện hình ra cho vị trưởng lão nhìn thấy.
BJT 417Và vị trưởng lão không để ý đến, có trạng thái im lặng, đã bước đi. Và người ấy đã cho vị trưởng lão biết rằng: ‘Tôi là em trai, đã trở thành ngạ quỷ.
BJT 418Thưa ngài, mẹ và cha của ngài bị đọa đày, thuộc cõi Dạ-ma. Sau khi làm nghiệp ác, từ nơi đây họ đã đi đến thế giới ngạ quỷ.
BJT 419Họ bị đọa đày, bị khổ sở như kim chích, lõa lồ, gầy guộc. Trong khi sợ sệt, có nỗi sợ hãi lớn lao, có nghiệp ghê rợn, họ không hiện hình cho thấy.
BJT 420Là người có lòng bi mẫn, xin ngài hãy thương xót. Xin ngài hãy bố thí rồi chỉ định (việc ấy là) dành cho chúng tôi. Nhờ vào vật thí đã được ngài bố thí, những kẻ có nghiệp ghê rợn sẽ được nuôi sống.’
BJT 421Sau khi đi khất thực, vị trưởng lão và mười hai vị tỳ khưu khác nữa đã tụ tập tại một chỗ với lý do phân chia vật thực.
BJT 422Vị trưởng lão đã nói với toàn bộ tất cả các vị ấy rằng: ‘Xin các vị hãy cho tôi phần đã nhận được, tôi sẽ thực hiện bữa ăn dâng đến Hội Chúng, vì lòng thương xót các thân quyến.’
BJT 423Các vị đã trao cho vị trưởng lão. Vị trưởng lão đã thỉnh mời hội chúng. Sau khi dâng cúng, vị trưởng lão đã chỉ định đến mẹ, cha, và em trai:
BJT 424‘(Phước báu) này là thuộc về các thân quyến của tôi; mong rằng các thân quyến được an vui.’ Khi được chỉ định thì vật thực đã được sanh lên ngay lập tức.
BJT 425(Vật thực) là sạch sẽ, hảo hạng, được đầy đủ, có nước xúp với nhiều gia vị. Kế đó, người em trai đã hiện ra, có sắc vóc, có sức mạnh, có sự an lạc.
BJT 426‘Thưa ngài, có nhiều thức ăn rồi. Xin ngài hãy nhìn xem chúng tôi bị lõa lồ. Thưa ngài, xin ngài hãy nỗ lực như thế nào đó cho chúng tôi có thể đạt được vải vóc.’
BJT 427Sau khi góp nhặt những mảnh vải rách từ nơi đống rác, vị trưởng lão đã chế biến vải vụn thành y phục rồi dâng đến Hội Chúng bốn phương.
BJT 428Sau khi dâng cúng, vị trưởng lão đã chỉ định đến mẹ, cha, và em trai: ‘(Phước báu) này là thuộc về các thân quyến của tôi; mong rằng các thân quyến được an vui.’
BJT 429Khi được chỉ định thì các vải mặc đã được sanh lên ngay lập tức. Kế đó, được mặc vải đẹp, (người em trai) đã hiện thân ra cho vị trưởng lão nhìn thấy.
BJT 430‘Thưa ngài, các vải vóc ở lãnh thổ của đức vua Nanda nhiều chừng nào, thì các vải vóc và các y phục của chúng tôi còn nhiều hơn thế ấy.
BJT 431Chúng bằng tơ lụa, sợi len, sợi lanh, và bông vải. Chúng dư thừa và có trị giá cao, hơn nữa chúng treo lủng lẳng ở không trung.
BJT 432Chúng tôi đây chỉ khoác vào cái nào thích ý. Thưa ngài, xin ngài hãy nỗ lực như thế nào đó cho chúng tôi có thể đạt được nhà ở.’
BJT 433Sau khi làm cái cốc bằng lá, vị trưởng lão đã dâng đến Hội Chúng bốn phương. Sau khi dâng cúng, vị trưởng lão đã chỉ định đến mẹ, cha, và em trai:
BJT 434‘(Phước báu) này là thuộc về các thân quyến của tôi; mong rằng các thân quyến được an vui.’ Khi được chỉ định thì các ngôi nhà đã được sanh lên ngay lập tức.
BJT 435Những ngôi nhà mái nhọn và các chỗ ngụ là được phân chia thành từng phần cân xứng. Các ngôi nhà của chúng tôi ở nơi đây như thế nào thì ở loài người không giống như thế này.
BJT 436Ở các cõi Trời như thế nào thì các ngôi nhà của chúng tôi ở nơi đây giống như thế ấy. Trong lúc tỏa sáng rực rỡ, chúng chiếu sáng bốn phương ở xung quanh.
BJT 437‘Thưa ngài, xin ngài hãy nỗ lực như thế nào đó cho chúng tôi có thể đạt được nước uống.’ Sau khi làm đầy bình đựng nước, vị trưởng lão đã dâng đến Hội Chúng bốn phương.
BJT 438Sau khi dâng cúng, vị trưởng lão đã chỉ định đến mẹ, cha, và em trai: ‘(Phước báu) này là thuộc về các thân quyến của tôi; mong rằng các thân quyến được an vui.’
BJT 439Khi được chỉ định thì nước uống đã được sanh lên ngay lập tức. Có các hồ sen sâu thẳm, hình chữ nhật, đã khéo được hóa hiện ra.
BJT 440Có nước trong, có những bến bãi xinh đẹp, mát mẻ, có mùi thơm, được che phủ bởi nhiều loại sen hồng và sen xanh, tràn ngập nước và phấn hoa.
BJT 441Sau khi tắm và uống nước ở nơi ấy, họ đã xuất hiện cho vị trưởng lão thấy (nói rằng): ‘Thưa ngài, có nhiều nước uống rồi. Các bàn chân của chúng tôi bị nứt nẻ đau đớn.
BJT 442Trong khi lang thang, chúng tôi đi khập khiễng ở nơi sỏi đá, ở gai nhọn của cỏ kusa. Thưa ngài, xin ngài hãy nỗ lực như thế nào đó cho chúng tôi có thể đạt được phương tiện di chuyển.’
BJT 443Sau khi nhận được chiếc giày, vị trưởng lão đã dâng đến Hội Chúng bốn phương. Sau khi dâng cúng, vị trưởng lão đã chỉ định đến mẹ, cha, và em trai:
BJT 444‘(Phước báu) này là thuộc về các thân quyến của tôi; mong rằng các thân quyến được an vui.’ Khi được chỉ định thì ngay lập tức các ngạ quỷ đã đi đến bằng cỗ xe.
BJT 445‘Thưa ngài đại đức, chúng tôi đã được thương xót với vật thực, với y phục, với ngôi nhà, với sự bố thí nước uống, với sự bố thí phương tiện di chuyển, và cả hai. Thưa ngài, chúng tôi đi đến để đảnh lễ bậc hiền trí, đấng bi mẫn ở thế gian.’
Chuyện Ngạ Quỷ ở Núi Sānuvāsī là thứ nhì.
Kuṇḍināgariyo thero,
sāṇavāsinivāsiko;
Poṭṭhapādoti nāmena,
samaṇo bhāvitindriyo.
Tassa mātā pitā bhātā,
duggatā yamalokikā;
Pāpakammaṁ karitvāna,
petalokaṁ ito gatā.
Te duggatā sūcikaṭṭā,
kilantā naggino kisā;
Uttasantā mahattāsā,
na dassenti kurūrino.
Tassa bhātā vitaritvā,
naggo ekapathekako;
Catukuṇḍiko bhavitvāna,
therassa dassayītumaṁ.
Thero cāmanasikatvā,
tuṇhībhūto atikkami;
So ca viññāpayī theraṁ,
“bhātā petagato ahaṁ.
Mātā pitā ca te bhante,
duggatā yamalokikā;
Pāpakammaṁ karitvāna,
petalokaṁ ito gatā.
Te duggatā sūcikaṭṭā,
kilantā naggino kisā;
Uttasantā mahattāsā,
na dassenti kurūrino.
Anukampassu kāruṇiko,
datvā anvādisāhi no;
Tava dinnena dānena,
yāpessanti kurūrino”ti.
Thero caritvā piṇḍāya,
bhikkhū aññe ca dvādasa;
Ekajjhaṁ sannipatiṁsu,
bhattavissaggakāraṇā.
Thero sabbeva te āha,
“yathāladdhaṁ dadātha me;
Saṅghabhattaṁ karissāmi,
anukampāya ñātinaṁ”.
Niyyādayiṁsu therassa,
thero saṅghaṁ nimantayi;
Datvā anvādisi thero,
mātu pitu ca bhātuno;
“Idaṁ me ñātīnaṁ hotu,
sukhitā hontu ñātayo”.
Samanantarānuddiṭṭhe,
bhojanaṁ udapajjatha;
Suciṁ paṇītaṁ sampannaṁ,
anekarasabyañjanaṁ.
Tato uddassayī bhātā,
vaṇṇavā balavā sukhī;
“Pahūtaṁ bhojanaṁ bhante,
passa naggāmhase mayaṁ;
Tathā bhante parakkama,
yathā vatthaṁ labhāmase”ti.
Thero saṅkārakūṭamhā,
uccinitvāna nantake;
Pilotikaṁ paṭaṁ katvā,
saṅghe cātuddise adā.
Datvā anvādisī thero,
mātu pitu ca bhātuno;
“Idaṁ me ñātīnaṁ hotu,
sukhitā hontu ñātayo”.
Samanantarānuddiṭṭhe,
vatthāni udapajjisuṁ;
Tato suvatthavasano,
therassa dassayītumaṁ.
“Yāvatā nandarājassa,
vijitasmiṁ paṭicchadā;
Tato bahutarā bhante,
vatthānacchādanāni no.
Koseyyakambalīyāni,
khoma kappāsikāni ca;
Vipulā ca mahagghā ca,
tepākāsevalambare.
Te mayaṁ paridahāma,
yaṁ yaṁ hi manaso piyaṁ;
Tathā bhante parakkama,
yathā gehaṁ labhāmase”ti.
Thero paṇṇakuṭiṁ katvā,
saṅghe cātuddise adā;
Datvā anvādisī thero,
mātu pitu ca bhātuno;
“Idaṁ me ñātīnaṁ hotu,
sukhitā hontu ñātayo”.
Samanantarānuddiṭṭhe,
gharāni udapajjisuṁ;
Kūṭāgāranivesanā,
vibhattā bhāgaso mitā.
“Na manussesu īdisā,
yādisā no gharā idha;
Api dibbesu yādisā,
tādisā no gharā idha.
Daddallamānā ābhenti,
Samantā caturo disā;
Tathā bhante parakkama,
Yathā pānīyaṁ labhāmase”ti.
Thero karaṇaṁ pūretvā,
saṅghe cātuddise adā;
Datvā anvādisī thero,
mātu pitu ca bhātuno;
“Idaṁ me ñātīnaṁ hotu,
sukhitā hontu ñātayo”.
Samanantarānuddiṭṭhe,
pānīyaṁ udapajjatha;
Gambhīrā caturassā ca,
pokkharañño sunimmitā.
Sītodikā suppatitthā,
sītā appaṭigandhiyā;
Padumuppalasañchannā,
vārikiñjakkhapūritā.
Tattha nhatvā pivitvā ca,
therassa paṭidassayuṁ;
“Pahūtaṁ pānīyaṁ bhante,
pādā dukkhā phalanti no”.
“Āhiṇḍamānā khañjāma,
sakkhare kusakaṇṭake;
‘Tathā bhante parakkama,
yathā yānaṁ labhāmase’”ti.
Thero sipāṭikaṁ laddhā,
saṅghe cātuddise adā;
Datvā anvādisī thero,
mātu pitu ca bhātuno;
“Idaṁ me ñātīnaṁ hotu,
sukhitā hontu ñātayo”.
Samanantarānuddiṭṭhe,
petā rathena māgamuṁ;
“Anukampitamha bhadante,
bhattenacchādanena ca.
Gharena pānīyadānena,
yānadānena cūbhayaṁ;
Muniṁ kāruṇikaṁ loke,
bhante vanditumāgatā”ti.
Sāṇavāsītherapetavatthu dutiyaṁ.