BJT 14“(Những ngạ quỷ) đứng bên ngoài các vách tường và ở các ngã tư ngã ba đường, chúng trở về căn nhà của mình rồi đứng ở các trụ cửa ra vào.
BJT 15Khi nhiều thức ăn nước uống vật thực cứng mềm được bày ra, bởi vì duyên nghiệp của các chúng sanh nên không ai nhớ đến họ.
BJT 16Những người nào có lòng thương tưởng, (những người ấy thường) ban phát thức ăn nước uống tinh khiết, hảo hạng, phù hợp, đúng thời đến các quyến thuộc như vầy: ‘Vật thí này hãy thuộc về các quyến thuộc, mong rằng các quyến thuộc được an vui.’
BJT 17Và các ngạ quỷ quyến thuộc ấy đã đi đến tụ hội lại ở chỗ ấy, rồi tùy hỷ một cách trân trọng về các thức ăn nước uống dồi dào rằng:
BJT 18‘Mong rằng các quyến thuộc của chúng tôi được sống lâu. Nhờ vào các thân quyến mà chúng tôi được thọ hưởng. Việc cúng dường đến chúng tôi đã được thực hiện, các thí chủ không phải là không có quả báo.’
BJT 19Bởi vì nơi ấy không có trồng trọt, việc chăn nuôi bò ở nơi này không được biết đến, việc thương mại ví như việc buôn bán bằng vàng là không có; các ngạ quỷ ở nơi ấy, những người đã chết, duy trì sự sống với vật đã được bố thí từ nơi đây.
BJT 20Giống như nước mưa rơi xuống ở nơi cao chảy xuống chỗ thấp, tương tự y như thế, vật được bố thí từ nơi đây đem lại lợi ích cho các ngạ quỷ.
BJT 21Giống như các dòng sông được tràn ngập thì làm đầy biển cả, tương tự y như thế, vật được bố thí từ nơi đây đem lại lợi ích cho các ngạ quỷ.
BJT 22‘Họ đã cho ta, họ đã làm cho ta, họ là các quyến thuộc, thân hữu, bạn bè của ta,’ trong khi nhớ lại việc đã làm trước đây, nên ban phát sự cúng dường đến các ngạ quỷ.
BJT 23Sự khóc lóc, và sầu muộn, hay sự than vãn khác là không nên, bởi vì điều ấy không đem lại lợi ích cho hàng ngạ quỷ, (cho dầu) các thân quyến duy trì (hành động) như vậy.
BJT 24Và thêm nữa, việc cúng dường này được dâng cúng, được khéo thiết lập ở Hội Chúng, thì lập tức thành tựu lợi ích dài lâu cho ngạ quỷ ấy.
BJT 25Việc ấy là bổn phận đối với thân quyến, và điều này đã được chỉ bảo. Việc cúng dường cao quý đến các ngạ quỷ đã được làm. Và sức lực đã được trao đến các vị tỳ khưu. Phước báu được tạo ra bởi quý vị không phải là ít.”
Chuyện Ngạ Quỷ Ở Bên Kia Vách Tường là thứ năm.
“Tirokuṭṭesu tiṭṭhanti,
sandhisiṅghāṭakesu ca;
Dvārabāhāsu tiṭṭhanti,
āgantvāna sakaṁ gharaṁ.
Pahūte annapānamhi,
khajjabhojje upaṭṭhite;
Na tesaṁ koci sarati,
sattānaṁ kammapaccayā.
Evaṁ dadanti ñātīnaṁ,
ye honti anukampakā;
Suciṁ paṇītaṁ kālena,
kappiyaṁ pānabhojanaṁ;
‘Idaṁ vo ñātīnaṁ hotu,
sukhitā hontu ñātayo’.
Te ca tattha samāgantvā,
ñātipetā samāgatā;
Pahūte annapānamhi,
sakkaccaṁ anumodare.
‘Ciraṁ jīvantu no ñātī,
yesaṁ hetu labhāmase;
Amhākañca katā pūjā,
dāyakā ca anipphalā’.
Na hi tattha kasī atthi,
gorakkhettha na vijjati;
Vaṇijjā tādisī natthi,
hiraññena kayākayaṁ;
Ito dinnena yāpenti,
petā kālagatā tahiṁ.
Unname udakaṁ vuṭṭhaṁ,
yathā ninnaṁ pavattati;
Evamevaṁ ito dinnaṁ,
petānaṁ upakappati.
Yathā vārivahā pūrā,
paripūrenti sāgaraṁ;
Evamevaṁ ito dinnaṁ,
petānaṁ upakappati.
‘Adāsi me akāsi me,
ñāti mittā sakhā ca me’;
Petānaṁ dakkhiṇaṁ dajjā,
pubbe katamanussaraṁ.
Na hi ruṇṇaṁ vā soko vā,
yā caññā paridevanā;
Na taṁ petānamatthāya,
evaṁ tiṭṭhanti ñātayo.
Ayañca kho dakkhiṇā dinnā,
saṅghamhi suppatiṭṭhitā;
Dīgharattaṁ hitāyassa,
ṭhānaso upakappati.
So ñātidhammo ca ayaṁ nidassito,
Petāna pūjā ca katā uḷārā;
Balañca bhikkhūnamanuppadinnaṁ,
Tumhehi puññaṁ pasutaṁ anappakan”ti.
Tirokuṭṭapetavatthu pañcamaṁ.
The Supreme Buddha gave this sermon to King Bimbisara after an alms offering to the Sangha.
After they have been born in the ghost world, departed relatives will come back to their own houses and stand by the doors. They also stand outside walls and at intersections.
Some people in the family will enjoy delicious food without remembering their departed relatives. Departed relatives are forgotten because of their own bad karma.
Some compassionate people offer delicious food and drink to virtuous people and share merits with their departed relatives saying, “Let this be for our relatives! May our relatives be happy!” Departed relatives gather to these places and highly appreciate the offering. They bless their relatives saying, “May our relatives who compassionately offered us these gifts have long, happy, and healthy lives.” The givers also gain good results.
Beings in the ghost world do not farm, herd cattle, trade, buy, sell, or use gold and money. They survive on merits shared by humans. As water that rains on a mountain-top flows down to the bottom, so will the merits shared from the human world reach the beings in the ghost world. Just as streams of water fill the ocean, so will the merits shared from the human world reach the beings in the ghost world. One should share merits with departed relatives recalling, “He gave to me, he worked for me, he was a relative, friend, and companion.”
Weeping, sorrow, and lamentation will not benefit departed relatives in any way. They will remain in the ghost world no matter how much we cry.
Great King, the merits shared from the donations given to the noble disciples of the Buddha will be received by the departed relatives right away. They will enjoy happiness for a long time. Sharing merits with departed relatives is a very good habit to develop. You have respected departed relatives and supported the monks. By doing this you have collected much merit which will result in extraordinary happiness for a long time, great King.
BJT 14“(Những ngạ quỷ) đứng bên ngoài các vách tường và ở các ngã tư ngã ba đường, chúng trở về căn nhà của mình rồi đứng ở các trụ cửa ra vào.
BJT 15Khi nhiều thức ăn nước uống vật thực cứng mềm được bày ra, bởi vì duyên nghiệp của các chúng sanh nên không ai nhớ đến họ.
BJT 16Những người nào có lòng thương tưởng, (những người ấy thường) ban phát thức ăn nước uống tinh khiết, hảo hạng, phù hợp, đúng thời đến các quyến thuộc như vầy: ‘Vật thí này hãy thuộc về các quyến thuộc, mong rằng các quyến thuộc được an vui.’
BJT 17Và các ngạ quỷ quyến thuộc ấy đã đi đến tụ hội lại ở chỗ ấy, rồi tùy hỷ một cách trân trọng về các thức ăn nước uống dồi dào rằng:
BJT 18‘Mong rằng các quyến thuộc của chúng tôi được sống lâu. Nhờ vào các thân quyến mà chúng tôi được thọ hưởng. Việc cúng dường đến chúng tôi đã được thực hiện, các thí chủ không phải là không có quả báo.’
BJT 19Bởi vì nơi ấy không có trồng trọt, việc chăn nuôi bò ở nơi này không được biết đến, việc thương mại ví như việc buôn bán bằng vàng là không có; các ngạ quỷ ở nơi ấy, những người đã chết, duy trì sự sống với vật đã được bố thí từ nơi đây.
BJT 20Giống như nước mưa rơi xuống ở nơi cao chảy xuống chỗ thấp, tương tự y như thế, vật được bố thí từ nơi đây đem lại lợi ích cho các ngạ quỷ.
BJT 21Giống như các dòng sông được tràn ngập thì làm đầy biển cả, tương tự y như thế, vật được bố thí từ nơi đây đem lại lợi ích cho các ngạ quỷ.
BJT 22‘Họ đã cho ta, họ đã làm cho ta, họ là các quyến thuộc, thân hữu, bạn bè của ta,’ trong khi nhớ lại việc đã làm trước đây, nên ban phát sự cúng dường đến các ngạ quỷ.
BJT 23Sự khóc lóc, và sầu muộn, hay sự than vãn khác là không nên, bởi vì điều ấy không đem lại lợi ích cho hàng ngạ quỷ, (cho dầu) các thân quyến duy trì (hành động) như vậy.
BJT 24Và thêm nữa, việc cúng dường này được dâng cúng, được khéo thiết lập ở Hội Chúng, thì lập tức thành tựu lợi ích dài lâu cho ngạ quỷ ấy.
BJT 25Việc ấy là bổn phận đối với thân quyến, và điều này đã được chỉ bảo. Việc cúng dường cao quý đến các ngạ quỷ đã được làm. Và sức lực đã được trao đến các vị tỳ khưu. Phước báu được tạo ra bởi quý vị không phải là ít.”
Chuyện Ngạ Quỷ Ở Bên Kia Vách Tường là thứ năm.
“Tirokuṭṭesu tiṭṭhanti,
sandhisiṅghāṭakesu ca;
Dvārabāhāsu tiṭṭhanti,
āgantvāna sakaṁ gharaṁ.
Pahūte annapānamhi,
khajjabhojje upaṭṭhite;
Na tesaṁ koci sarati,
sattānaṁ kammapaccayā.
Evaṁ dadanti ñātīnaṁ,
ye honti anukampakā;
Suciṁ paṇītaṁ kālena,
kappiyaṁ pānabhojanaṁ;
‘Idaṁ vo ñātīnaṁ hotu,
sukhitā hontu ñātayo’.
Te ca tattha samāgantvā,
ñātipetā samāgatā;
Pahūte annapānamhi,
sakkaccaṁ anumodare.
‘Ciraṁ jīvantu no ñātī,
yesaṁ hetu labhāmase;
Amhākañca katā pūjā,
dāyakā ca anipphalā’.
Na hi tattha kasī atthi,
gorakkhettha na vijjati;
Vaṇijjā tādisī natthi,
hiraññena kayākayaṁ;
Ito dinnena yāpenti,
petā kālagatā tahiṁ.
Unname udakaṁ vuṭṭhaṁ,
yathā ninnaṁ pavattati;
Evamevaṁ ito dinnaṁ,
petānaṁ upakappati.
Yathā vārivahā pūrā,
paripūrenti sāgaraṁ;
Evamevaṁ ito dinnaṁ,
petānaṁ upakappati.
‘Adāsi me akāsi me,
ñāti mittā sakhā ca me’;
Petānaṁ dakkhiṇaṁ dajjā,
pubbe katamanussaraṁ.
Na hi ruṇṇaṁ vā soko vā,
yā caññā paridevanā;
Na taṁ petānamatthāya,
evaṁ tiṭṭhanti ñātayo.
Ayañca kho dakkhiṇā dinnā,
saṅghamhi suppatiṭṭhitā;
Dīgharattaṁ hitāyassa,
ṭhānaso upakappati.
So ñātidhammo ca ayaṁ nidassito,
Petāna pūjā ca katā uḷārā;
Balañca bhikkhūnamanuppadinnaṁ,
Tumhehi puññaṁ pasutaṁ anappakan”ti.
Tirokuṭṭapetavatthu pañcamaṁ.