BJT 723“Này Revatā, này cô nàng có bản tính vô cùng xấu xa, cô hãy đứng lên. Này cô nàng không có nết hạnh bố thí, cánh cửa (địa ngục) là không bị đóng lại. Chúng tôi sẽ đưa cô đến nơi mà những kẻ bị đọa vào khổ cảnh than khóc, (và) những kẻ địa ngục bị gánh chịu khổ đau.”
BJT 724Sau khi chỉ nói như thế, các sứ giả cõi Dạ-ma, hai Dạ-xoa ấy, có cặp mắt đỏ ngầu, cao to, mỗi người một cánh tay, đã nắm lấy Revatā rồi đi đến nơi có sự hiện diện của hội chúng chư Thiên.
BJT 725“Thiên cung xinh đẹp, được che phủ bằng mạng lưới vàng, có màu sắc của mặt trời, đáng yêu, rực rỡ. Thiên cung này, có người đông đảo, đang rực sáng tựa như hào quang của mặt trời, là của người nào?
BJT 726Các nhóm phụ nữ, được thoa tinh chất của trầm hương, làm cho cung điện được sáng chói cả hai nơi (bên trong và bên ngoài). Thiên cung được nhìn thấy có màu sắc như là mặt trời. Người nào đã đạt đến cõi Trời và vui sướng ở Thiên cung?”
BJT 727“Ở Bārāṇasī, đã có người cận sự nam tên là Nandiya, không bỏn xẻn, là người thí chủ, là người nhân từ. Thiên cung này, có người đông đảo, đang rực sáng tựa như hào quang của mặt trời, là của người ấy.
BJT 728Các nhóm phụ nữ, được thoa tinh chất của trầm hương, làm cho cung điện được rực sáng cả hai nơi (bên trong và bên ngoài). Thiên cung được nhìn thấy có màu sắc như là mặt trời. Người ấy đã đạt đến cõi Trời và vui sướng ở Thiên cung.”
BJT 729“Tôi là người vợ của Nandiya, là nữ gia chủ, có uy quyền đối với tất cả gia đình. Giờ đây, tôi sẽ thích thú ở Thiên cung của chồng, tôi không mong mỏi về việc nhìn thấy địa ngục.”
BJT 730“Này cô nàng có bản tính vô cùng xấu xa, cái địa ngục ấy là dành cho cô. Việc phước thiện đã không được cô làm khi ở thế giới có cuộc sống. Bởi vì người nữ bỏn xẻn, giận dữ, có bản tính xấu xa, không đạt được sự cộng trú với những người đã đi đến cõi Trời.”
BJT 731“Phân và nước tiểu nhơ bẩn được nhìn thấy là cái gì vậy? Cái mùi hôi thối này là cái gì? Cái phân bốc mùi này là cái gì?”
BJT 732“Này Revatā, cái ấy gọi là địa ngục Saṁsavaka có độ sâu một trăm lần chiều cao của người nam, là nơi cô (sẽ) bị nung nấu hàng ngàn năm.”
BJT 733“Vậy việc làm ác nào đã được làm do thân, do khẩu, do ý? Vì việc gì mà bị gánh chịu địa ngục Saṁsavaka có độ sâu một trăm lần chiều cao của người nam?”
BJT 734“Cô lừa gạt các Sa-môn, các Bà-la-môn, và luôn cả những người khốn khổ khác nữa bằng lời nói dối trá; việc xấu xa ấy đã do cô gây ra.
BJT 735Này Revatā, do việc ấy mà bị gánh chịu địa ngục Saṁsavaka có độ sâu một trăm lần chiều cao của người nam, ở nơi ấy cô (sẽ) bị nung nấu hàng ngàn năm.
BJT 736Chúng chặt các bàn tay, rồi luôn cả các bàn chân, chúng xẻo các lỗ tai, rồi luôn cả lỗ mũi, rồi còn có các bầy quạ bu lại, tụ tập lại, ngấu nghiến kẻ đang quằn quại.”
BJT 737“Quả là tốt đẹp, xin các vị hãy đưa tôi trở về, tôi sẽ thực hiện nhiều điều tốt đẹp với việc bố thí, với việc hành thiện, với việc thu thúc, với việc rèn luyện, là việc mà sau khi thực hành, người ta được hạnh phúc và không bị ân hận về sau này.”
BJT 738“Trước đây cô đã xao lãng rồi bây giờ than van. Cô sẽ gánh chịu quả thành tựu của các nghiệp đã làm của mình.”
BJT 739“Vị nào, sau khi từ thế giới chư Thiên đi đến thế giới loài người, được tôi hỏi rồi nói như vầy: ‘Nàng nên dâng cúng vật thí, y phục, chỗ nằm, và cơm nước ở những vị đã buông các gậy gộc xuống, bởi vì người nữ bỏn xẻn, giận dữ, có bản tính xấu xa, không đạt được sự cộng trú với những người đã đi đến cõi Trời?’
BJT 740Chắc chắn rằng tôi đây, khi đã đi khỏi nơi này, sau khi đạt được việc sanh lại làm người, (tôi sẽ) là người nhân từ, đầy đủ giới hạnh, tôi sẽ thực hiện nhiều điều tốt đẹp với việc bố thí, với việc hành thiện, với việc thu thúc, với việc rèn luyện.
BJT 741Với tâm ý tịnh tín, tôi sẽ cho dựng lên các tu viện, các cây cầu ở chỗ khó đi, nước uống dọc đường, và giếng nước.
BJT 742Vào ngày mười bốn, ngày mười lăm, ngày mồng tám của mỗi nửa tháng, và những ngày phụ trội của nửa tháng là có sự thọ trì tốt đẹp về tám giới.
BJT 743Tôi sẽ hành trì ngày trai giới, luôn luôn thu thúc trong các giới, và sẽ không xao lãng trong việc bố thí; điều này đã được đích thân tôi nhìn thấy.”
BJT 744Trong khi cô ấy đang rên rỉ như thế, đang quằn quại thế này thế khác, chúng đã ném cô ấy vào địa ngục ghê rợn, chân phía trên, đầu phía dưới.
BJT 745“Trước đây, tôi đã là người bỏn xẻn, là người mắng nhiếc các vị Sa-môn và Bà-la-môn, và sau khi dối gạt người chồng bằng việc không thật, tôi bị nung nấu ở địa ngục có hình thức ghê rợn.”
Chuyện Nữ Ngạ Quỷ Revatī là thứ tư.
“Uṭṭhehi revate supāpadhamme,
Apārutadvāre adānasīle;
Nessāma taṁ yattha thunanti duggatā,
Samappitā nerayikā dukhenā”ti.
Icceva vatvāna yamassa dūtā,
Te dve yakkhā lohitakkhā brahantā;
Paccekabāhāsu gahetvā revataṁ,
Pakkāmayuṁ devagaṇassa santike.
“Ādiccavaṇṇaṁ ruciraṁ pabhassaraṁ,
Byamhaṁ subhaṁ kañcanajālachannaṁ;
Kassetamākiṇṇajanaṁ vimānaṁ,
Suriyassa raṁsīriva jotamānaṁ.
Nārīgaṇā candanasāralittā,
Ubhato vimānaṁ upasobhayanti;
Taṁ dissati suriyasamānavaṇṇaṁ,
Ko modati saggapatto vimāne”ti.
“Bārāṇasiyaṁ nandiyo nāmāsi,
Upāsako amaccharī dānapati vadaññū;
Tassetamākiṇṇajanaṁ vimānaṁ,
Suriyassa raṁsīriva jotamānaṁ.
Nārīgaṇā candanasāralittā,
Ubhato vimānaṁ upasobhayanti;
Taṁ dissati suriyasamānavaṇṇaṁ,
So modati saggapatto vimāne”ti.
“Nandiyassāhaṁ bhariyā,
Agārinī sabbakulassa issarā;
Bhattu vimāne ramissāmi dānahaṁ,
Na patthaye nirayadassanāyā”ti.
“Eso te nirayo supāpadhamme,
Puññaṁ tayā akataṁ jīvaloke;
Na hi maccharī rosako pāpadhammo,
Saggūpagānaṁ labhati sahabyatan”ti.
“Kiṁ nu gūthañca muttañca,
asucī paṭidissati;
Duggandhaṁ kimidaṁ mīḷhaṁ,
kimetaṁ upavāyatī”ti.
“Esa saṁsavako nāma,
gambhīro sataporiso;
Yattha vassasahassāni,
tuvaṁ paccasi revate”ti.
“Kiṁ nu kāyena vācāya,
manasā dukkaṭaṁ kataṁ;
Kena saṁsavako laddho,
gambhīro sataporiso”ti.
“Samaṇe brāhmaṇe cāpi,
aññe vāpi vanibbake;
Musāvādena vañcesi,
taṁ pāpaṁ pakataṁ tayā.
Tena saṁsavako laddho,
gambhīro sataporiso;
Tattha vassasahassāni,
tuvaṁ paccasi revate.
Hatthepi chindanti athopi pāde,
Kaṇṇepi chindanti athopi nāsaṁ;
Athopi kākoḷagaṇā samecca,
Saṅgamma khādanti viphandamānan”ti.
“Sādhu kho maṁ paṭinetha,
kāhāmi kusalaṁ bahuṁ;
Dānena samacariyāya,
saṁyamena damena ca;
Yaṁ katvā sukhitā honti,
na ca pacchānutappare”ti.
“Pure tuvaṁ pamajjitvā,
idāni paridevasi;
Sayaṁ katānaṁ kammānaṁ,
vipākaṁ anubhossasī”ti.
“Ko devalokato manussalokaṁ,
Gantvāna puṭṭho me evaṁ vadeyya;
‘Nikkhittadaṇḍesu dadātha dānaṁ,
Acchādanaṁ seyya mathannapānaṁ;
Na hi maccharī rosako pāpadhammo,
Saggūpagānaṁ labhati sahabyataṁ’.
Sāhaṁ nūna ito gantvā,
yoniṁ laddhāna mānusiṁ;
Vadaññū sīlasampannā,
kāhāmi kusalaṁ bahuṁ;
Dānena samacariyāya,
saṁyamena damena ca.
Ārāmāni ca ropissaṁ,
dugge saṅkamanāni ca;
Papañca udapānañca,
vippasannena cetasā.
Cātuddasiṁ pañcadasiṁ,
yā ca pakkhassa aṭṭhamī;
Pāṭihāriyapakkhañca,
aṭṭhaṅgasusamāgataṁ.
Uposathaṁ upavasissaṁ,
sadā sīlesu saṁvutā;
Na ca dāne pamajjissaṁ,
sāmaṁ diṭṭhamidaṁ mayā”ti.
Iccevaṁ vippalapantiṁ,
phandamānaṁ tato tato;
Khipiṁsu niraye ghore,
uddhampādaṁ avaṁsiraṁ.
“Ahaṁ pure maccharinī ahosiṁ,
Paribhāsikā samaṇabrāhmaṇānaṁ;
Vitathena ca sāmikaṁ vañcayitvā,
Paccāmahaṁ niraye ghorarūpe”ti.
Revatīpetavatthu catutthaṁ.
English translation not yet available.
BJT 723“Này Revatā, này cô nàng có bản tính vô cùng xấu xa, cô hãy đứng lên. Này cô nàng không có nết hạnh bố thí, cánh cửa (địa ngục) là không bị đóng lại. Chúng tôi sẽ đưa cô đến nơi mà những kẻ bị đọa vào khổ cảnh than khóc, (và) những kẻ địa ngục bị gánh chịu khổ đau.”
BJT 724Sau khi chỉ nói như thế, các sứ giả cõi Dạ-ma, hai Dạ-xoa ấy, có cặp mắt đỏ ngầu, cao to, mỗi người một cánh tay, đã nắm lấy Revatā rồi đi đến nơi có sự hiện diện của hội chúng chư Thiên.
BJT 725“Thiên cung xinh đẹp, được che phủ bằng mạng lưới vàng, có màu sắc của mặt trời, đáng yêu, rực rỡ. Thiên cung này, có người đông đảo, đang rực sáng tựa như hào quang của mặt trời, là của người nào?
BJT 726Các nhóm phụ nữ, được thoa tinh chất của trầm hương, làm cho cung điện được sáng chói cả hai nơi (bên trong và bên ngoài). Thiên cung được nhìn thấy có màu sắc như là mặt trời. Người nào đã đạt đến cõi Trời và vui sướng ở Thiên cung?”
BJT 727“Ở Bārāṇasī, đã có người cận sự nam tên là Nandiya, không bỏn xẻn, là người thí chủ, là người nhân từ. Thiên cung này, có người đông đảo, đang rực sáng tựa như hào quang của mặt trời, là của người ấy.
BJT 728Các nhóm phụ nữ, được thoa tinh chất của trầm hương, làm cho cung điện được rực sáng cả hai nơi (bên trong và bên ngoài). Thiên cung được nhìn thấy có màu sắc như là mặt trời. Người ấy đã đạt đến cõi Trời và vui sướng ở Thiên cung.”
BJT 729“Tôi là người vợ của Nandiya, là nữ gia chủ, có uy quyền đối với tất cả gia đình. Giờ đây, tôi sẽ thích thú ở Thiên cung của chồng, tôi không mong mỏi về việc nhìn thấy địa ngục.”
BJT 730“Này cô nàng có bản tính vô cùng xấu xa, cái địa ngục ấy là dành cho cô. Việc phước thiện đã không được cô làm khi ở thế giới có cuộc sống. Bởi vì người nữ bỏn xẻn, giận dữ, có bản tính xấu xa, không đạt được sự cộng trú với những người đã đi đến cõi Trời.”
BJT 731“Phân và nước tiểu nhơ bẩn được nhìn thấy là cái gì vậy? Cái mùi hôi thối này là cái gì? Cái phân bốc mùi này là cái gì?”
BJT 732“Này Revatā, cái ấy gọi là địa ngục Saṁsavaka có độ sâu một trăm lần chiều cao của người nam, là nơi cô (sẽ) bị nung nấu hàng ngàn năm.”
BJT 733“Vậy việc làm ác nào đã được làm do thân, do khẩu, do ý? Vì việc gì mà bị gánh chịu địa ngục Saṁsavaka có độ sâu một trăm lần chiều cao của người nam?”
BJT 734“Cô lừa gạt các Sa-môn, các Bà-la-môn, và luôn cả những người khốn khổ khác nữa bằng lời nói dối trá; việc xấu xa ấy đã do cô gây ra.
BJT 735Này Revatā, do việc ấy mà bị gánh chịu địa ngục Saṁsavaka có độ sâu một trăm lần chiều cao của người nam, ở nơi ấy cô (sẽ) bị nung nấu hàng ngàn năm.
BJT 736Chúng chặt các bàn tay, rồi luôn cả các bàn chân, chúng xẻo các lỗ tai, rồi luôn cả lỗ mũi, rồi còn có các bầy quạ bu lại, tụ tập lại, ngấu nghiến kẻ đang quằn quại.”
BJT 737“Quả là tốt đẹp, xin các vị hãy đưa tôi trở về, tôi sẽ thực hiện nhiều điều tốt đẹp với việc bố thí, với việc hành thiện, với việc thu thúc, với việc rèn luyện, là việc mà sau khi thực hành, người ta được hạnh phúc và không bị ân hận về sau này.”
BJT 738“Trước đây cô đã xao lãng rồi bây giờ than van. Cô sẽ gánh chịu quả thành tựu của các nghiệp đã làm của mình.”
BJT 739“Vị nào, sau khi từ thế giới chư Thiên đi đến thế giới loài người, được tôi hỏi rồi nói như vầy: ‘Nàng nên dâng cúng vật thí, y phục, chỗ nằm, và cơm nước ở những vị đã buông các gậy gộc xuống, bởi vì người nữ bỏn xẻn, giận dữ, có bản tính xấu xa, không đạt được sự cộng trú với những người đã đi đến cõi Trời?’
BJT 740Chắc chắn rằng tôi đây, khi đã đi khỏi nơi này, sau khi đạt được việc sanh lại làm người, (tôi sẽ) là người nhân từ, đầy đủ giới hạnh, tôi sẽ thực hiện nhiều điều tốt đẹp với việc bố thí, với việc hành thiện, với việc thu thúc, với việc rèn luyện.
BJT 741Với tâm ý tịnh tín, tôi sẽ cho dựng lên các tu viện, các cây cầu ở chỗ khó đi, nước uống dọc đường, và giếng nước.
BJT 742Vào ngày mười bốn, ngày mười lăm, ngày mồng tám của mỗi nửa tháng, và những ngày phụ trội của nửa tháng là có sự thọ trì tốt đẹp về tám giới.
BJT 743Tôi sẽ hành trì ngày trai giới, luôn luôn thu thúc trong các giới, và sẽ không xao lãng trong việc bố thí; điều này đã được đích thân tôi nhìn thấy.”
BJT 744Trong khi cô ấy đang rên rỉ như thế, đang quằn quại thế này thế khác, chúng đã ném cô ấy vào địa ngục ghê rợn, chân phía trên, đầu phía dưới.
BJT 745“Trước đây, tôi đã là người bỏn xẻn, là người mắng nhiếc các vị Sa-môn và Bà-la-môn, và sau khi dối gạt người chồng bằng việc không thật, tôi bị nung nấu ở địa ngục có hình thức ghê rợn.”
Chuyện Nữ Ngạ Quỷ Revatī là thứ tư.
“Uṭṭhehi revate supāpadhamme,
Apārutadvāre adānasīle;
Nessāma taṁ yattha thunanti duggatā,
Samappitā nerayikā dukhenā”ti.
Icceva vatvāna yamassa dūtā,
Te dve yakkhā lohitakkhā brahantā;
Paccekabāhāsu gahetvā revataṁ,
Pakkāmayuṁ devagaṇassa santike.
“Ādiccavaṇṇaṁ ruciraṁ pabhassaraṁ,
Byamhaṁ subhaṁ kañcanajālachannaṁ;
Kassetamākiṇṇajanaṁ vimānaṁ,
Suriyassa raṁsīriva jotamānaṁ.
Nārīgaṇā candanasāralittā,
Ubhato vimānaṁ upasobhayanti;
Taṁ dissati suriyasamānavaṇṇaṁ,
Ko modati saggapatto vimāne”ti.
“Bārāṇasiyaṁ nandiyo nāmāsi,
Upāsako amaccharī dānapati vadaññū;
Tassetamākiṇṇajanaṁ vimānaṁ,
Suriyassa raṁsīriva jotamānaṁ.
Nārīgaṇā candanasāralittā,
Ubhato vimānaṁ upasobhayanti;
Taṁ dissati suriyasamānavaṇṇaṁ,
So modati saggapatto vimāne”ti.
“Nandiyassāhaṁ bhariyā,
Agārinī sabbakulassa issarā;
Bhattu vimāne ramissāmi dānahaṁ,
Na patthaye nirayadassanāyā”ti.
“Eso te nirayo supāpadhamme,
Puññaṁ tayā akataṁ jīvaloke;
Na hi maccharī rosako pāpadhammo,
Saggūpagānaṁ labhati sahabyatan”ti.
“Kiṁ nu gūthañca muttañca,
asucī paṭidissati;
Duggandhaṁ kimidaṁ mīḷhaṁ,
kimetaṁ upavāyatī”ti.
“Esa saṁsavako nāma,
gambhīro sataporiso;
Yattha vassasahassāni,
tuvaṁ paccasi revate”ti.
“Kiṁ nu kāyena vācāya,
manasā dukkaṭaṁ kataṁ;
Kena saṁsavako laddho,
gambhīro sataporiso”ti.
“Samaṇe brāhmaṇe cāpi,
aññe vāpi vanibbake;
Musāvādena vañcesi,
taṁ pāpaṁ pakataṁ tayā.
Tena saṁsavako laddho,
gambhīro sataporiso;
Tattha vassasahassāni,
tuvaṁ paccasi revate.
Hatthepi chindanti athopi pāde,
Kaṇṇepi chindanti athopi nāsaṁ;
Athopi kākoḷagaṇā samecca,
Saṅgamma khādanti viphandamānan”ti.
“Sādhu kho maṁ paṭinetha,
kāhāmi kusalaṁ bahuṁ;
Dānena samacariyāya,
saṁyamena damena ca;
Yaṁ katvā sukhitā honti,
na ca pacchānutappare”ti.
“Pure tuvaṁ pamajjitvā,
idāni paridevasi;
Sayaṁ katānaṁ kammānaṁ,
vipākaṁ anubhossasī”ti.
“Ko devalokato manussalokaṁ,
Gantvāna puṭṭho me evaṁ vadeyya;
‘Nikkhittadaṇḍesu dadātha dānaṁ,
Acchādanaṁ seyya mathannapānaṁ;
Na hi maccharī rosako pāpadhammo,
Saggūpagānaṁ labhati sahabyataṁ’.
Sāhaṁ nūna ito gantvā,
yoniṁ laddhāna mānusiṁ;
Vadaññū sīlasampannā,
kāhāmi kusalaṁ bahuṁ;
Dānena samacariyāya,
saṁyamena damena ca.
Ārāmāni ca ropissaṁ,
dugge saṅkamanāni ca;
Papañca udapānañca,
vippasannena cetasā.
Cātuddasiṁ pañcadasiṁ,
yā ca pakkhassa aṭṭhamī;
Pāṭihāriyapakkhañca,
aṭṭhaṅgasusamāgataṁ.
Uposathaṁ upavasissaṁ,
sadā sīlesu saṁvutā;
Na ca dāne pamajjissaṁ,
sāmaṁ diṭṭhamidaṁ mayā”ti.
Iccevaṁ vippalapantiṁ,
phandamānaṁ tato tato;
Khipiṁsu niraye ghore,
uddhampādaṁ avaṁsiraṁ.
“Ahaṁ pure maccharinī ahosiṁ,
Paribhāsikā samaṇabrāhmaṇānaṁ;
Vitathena ca sāmikaṁ vañcayitvā,
Paccāmahaṁ niraye ghorarūpe”ti.
Revatīpetavatthu catutthaṁ.