BJT 526Xứ Vajjī có thành phố tên là Vesālī. (Đức vua) Ambasakkhara dòng dõi Licchavi đã ngụ tại nơi ấy. Sau khi nhìn thấy ngạ quỷ ở bên ngoài thành phố, đức vua Ambasakkhara, là người muốn biết lý do, ngay tại nơi ấy đã hỏi ngạ quỷ ấy rằng:
BJT 527“Không có giường nằm ghế ngồi dành cho gã này, không có việc đi tới hay đi lui, việc được ăn, được uống, được nhai, vải vóc, của cải, người hầu gái, (các) điều ấy cũng không có cho gã này.
BJT 528Những người nào là bà con, thân hữu đã nhìn thấy, đã nghe, đã là những người có lòng thương tưởng đến gã ấy trước đây, những người ấy giờ đây cũng không thể nhìn thấy gã ấy, bởi vì tình trạng đã bị cách ly với họ.
BJT 529Người có tình trạng sa sút không có bạn bè; bạn bè từ bỏ sau khi biết được sự thiếu thốn (của người ấy). Và họ vây quanh sau khi nhìn thấy sự lợi ích; người có tình trạng khá giả có nhiều bạn bè.
BJT 530Với tình trạng bị tiêu hoại tất cả các của cải, bị khốn khổ, bị lấm lem, có thân thể hoàn toàn bị gãy đổ, tựa như giọt sương đang đeo bám (vào chiếc lá), sự chấm dứt mạng sống là trong nay mai.
BJT 531Này Dạ-xoa, vậy với tư cách gì mà ngươi nói với kẻ đã đi đến sự khốn khổ tột cùng như thế này, đã bị cắm lên ở cọc nhọn bằng gỗ nimba rằng: ‘Này cháu yêu, cháu hãy sống. Sống đương nhiên là tốt hơn’?”
BJT 532“Này đức vua, gã ấy đã có cùng huyết thống với tôi; tôi nhớ lại vào kiếp sống trước đây. Và sau khi nhìn thấy, tôi đã có lòng thương xót rằng: ‘Mong sao kẻ có tính chất xấu xa này chớ rơi vào địa ngục.’
BJT 533Này vị Licchavi, người nam ấy, kẻ gây nên hành động đã được thực hiện một cách xấu xa, bị chết từ nơi này, (sẽ) bị sanh vào địa ngục đầy dẫy chúng sanh, có hình thức ghê rợn, có sức nóng khủng khiếp, dữ dội, tạo ra sự sợ hãi.
BJT 534Chính cái cọc nhọn này còn tốt hơn địa ngục ấy nhiều lần về tính chất, ‘Mong sao kẻ này chớ rơi vào địa ngục có sự khổ đau cùng tột, dữ dội, gây nên nỗi sợ hãi, có sự tàn nhẫn cùng tột.’
BJT 535Và sau khi nghe lời nói này của tôi, kẻ ấy có thể bị đưa đến khổ đau mà lìa bỏ sanh mạng; vì thế tôi không nói (lời nói này) trước mặt (kẻ ấy), chớ để sự chấm dứt mạng sống (của kẻ này) là do tôi gây nên.”
BJT 536“Sự việc ấy của người đàn ông đã được biết, tuy nhiên chúng tôi muốn hỏi ngươi việc khác. Nếu ngươi tạo cho chúng tôi cơ hội, trẫm sẽ hỏi điều ấy, và không nên nổi sân với chúng tôi.”
BJT 537“Đương nhiên, vào lúc ấy tôi đã có lời thỏa thuận. Không có việc chỉ bày cho người không được vừa lòng. Xin bệ hạ hãy xem tôi là người có lời nói đáng tin dầu là nghịch ý. Bệ hạ hãy hỏi tôi điều bệ hạ muốn, (tôi sẽ trả lời) tùy theo khả năng.”
BJT 538“Bất cứ việc gì trẫm sẽ nhìn thấy tận mắt, trẫm có thể tin tưởng tất cả điều ấy. Nhưng nếu sau khi nhìn thấy điều ấy mà trẫm vẫn không thể tin tưởng, này Dạ-xoa, ngươi có thể thực hiện việc quở trách đối với trẫm.”
BJT 539“Mong rằng sự thỏa thuận ấy của bệ hạ đối với tôi là chân thật. Là người có mục đích tìm hiểu và không có tâm địa xấu xa, xin bệ hạ hãy lắng nghe và tiếp nhận sự việc với niềm tin. Sự việc nào mà bệ hạ đã được nghe và thậm chí còn chưa được nghe, tôi sẽ chỉ bày tất cả theo như sự nhận biết.”
BJT 540“Bằng con ngựa màu trắng đã được trang điểm, ngươi đi đến trước mặt kẻ bị cắm vào cọc nhọn. Phương tiện di chuyển này là tuyệt vời, duyên dáng; quả thành tựu này là của nghiệp nào?”
BJT 541“Tại Vesālī, ở giữa thành phố ấy, nơi con đường lầy lội đã có một hố trũng. Với tâm tận tình, tôi đã cầm lấy một cái xương đầu bò màu trắng đặt xuống hố trũng.
BJT 542Sau khi đã đặt các bàn chân ở nơi ấy, chúng tôi và những người khác đã vượt qua. Phương tiện di chuyển này là tuyệt vời, duyên dáng; quả thành tựu này là của chính nghiệp ấy.”
BJT 543“Màu da của ngươi chiếu sáng khắp các phương, và mùi hương của ngươi tỏa ra khắp các phương. Ngươi đã đạt được thần thông của Dạ-xoa, có đại oai lực, và ngươi bị lõa lồ; quả thành tựu này là của việc gì?”
BJT 544“Không có giận dữ, và luôn luôn có tâm tận tình, tôi chuyện trò với mọi người bằng những lời nói mềm mỏng; quả thành tựu này là của chính nghiệp ấy: màu da thuộc về cõi Trời của tôi thường xuyên chiếu sáng.
BJT 545Với tâm tận tình, tôi nhìn nhận, tán dương danh vọng và tiếng tốt của những người đã đứng vững trong Giáo Pháp; quả thành tựu này là của chính nghiệp ấy: mùi hương thuộc về cõi Trời của tôi thường xuyên tỏa ra.
BJT 546Là người có mục đích đùa giỡn và không có tâm địa xấu xa, tôi đã lấy y phục của những người bạn đang tắm ở bến tắm và giấu ở nơi khô ráo; vì điều ấy tôi bị lõa lồ và sự sinh hoạt bị khốn khó.”
BJT 547“Người nào thực hiện việc xấu xa trong khi vui đùa, người ta nói rằng quả thành tựu của nghiệp ấy là như thế này. Trái lại, người nào làm trong lúc không phải vui đùa, thì người ta nói gì về quả thành tựu của nghiệp ấy?”
BJT 548“Những người nào có sự suy nghĩ và tâm ý xấu xa, bị ô nhiễm do thân và do khẩu, do sự tan rã của thân xác, vào kiếp sống kế tiếp những người ấy chắc chắn (sẽ) đi đến địa ngục.
BJT 549Trái lại, những người khác mong mỏi cảnh giới an vui, ưa thích việc bố thí, có bản tính nhân hậu, do sự tan rã của thân xác, vào kiếp sống kế tiếp những người ấy chắc chắn (sẽ) đi đến chốn an vui.”
BJT 550“Làm thế nào trẫm có thể biết chắc chắn về điều ấy rằng quả thành tựu này là của việc tốt và việc xấu? Hoặc là, sau khi nhìn thấy trẫm có thể tin được không? Hoặc nữa, người nào có thể khiến cho trẫm tin được điều ấy?”
BJT 551“Sau khi nhìn thấy hoặc sau khi lắng nghe, bệ hạ hãy tin tưởng rằng quả thành tựu này là của việc tốt và việc xấu. Khi cả hai tốt và xấu không hiện hữu, có thể nào chúng sanh lại đi đến nhàn cảnh hay đọa vào khổ cảnh?
BJT 552Ở đây, nếu loài người không làm các nghiệp tốt và xấu ở thế giới nhân loại, chúng sanh đã không đi đến nhàn cảnh hay đọa vào khổ cảnh, và đã không trở nên thấp hèn hay cao sang ở thế giới nhân loại.
BJT 553Và bởi vì loài người làm các nghiệp tốt và xấu ở thế giới nhân loại, chính vì thế chúng sanh đi đến nhàn cảnh hay đọa vào khổ cảnh, và trở nên thấp hèn hay cao sang ở thế giới nhân loại.
BJT 554Hôm nay, người ta nói quả thành tựu của các nghiệp có hai loại: cảm thọ của lạc và của khổ. Các vị Thiên nhân ấy nhàn hạ, những kẻ ngu không nhìn thấy tính chất đi đôi (nghiệp và quả của nghiệp) bị nung nấu (khổ đau).
BJT 555Tôi không có các nghiệp (thiện) đã được tự mình làm, thậm chí sau khi bố thí y phục, giường nằm, rồi cơm ăn nước uống cũng không có người chỉ định (việc ấy là) dành cho tôi; vì điều ấy tôi bị lõa lồ và sự sinh hoạt bị khốn khó.”
BJT 556“Này Dạ-xoa, có thể có cách thức nào nhờ đó ngươi có thể đạt được y phục? Nếu có nguyên do thì ngươi hãy nói điều ấy cho trẫm, chúng tôi sẽ lắng nghe lời nói về nguyên do đã được tin cậy.”
BJT 557“Ở nơi đây, có vị tỳ khưu tên Kappinaka, có thiền chứng, có thiện giới, là vị A-la-hán, đã được giải thoát, có giác quan đã được canh phòng, có giới bổn Pātimokkha đã được thu thúc, có trạng thái mát mẻ, đã đạt được chánh kiến tối thượng.
BJT 558Vị ấy nhã nhặn, biết lắng nghe, dễ tính, có khuôn mặt nhân hậu, có sự truyền thừa tốt đẹp, và có lời nói khôn khẻo, là thửa ruộng phước, có sự an trú tâm bình lặng, xứng đáng được cúng dường bởi chư Thiên và nhân loại.
BJT 559An tịnh, không tầm cầu sai trái, không khổ nhọc, không luyến ái, đã được giải thoát, không còn mũi tên (tham ái), không chấp ngã, không khúc mắc, không còn mầm mống tái sanh, đã cạn kiệt tất cả chướng ngại, đã đạt đến ba Minh, có sự sáng suốt.
BJT 560Do ít được biết đến, thậm chí sau khi nhìn thấy cũng không dễ biết được, ở xứ Vajji người ta gọi vị ấy là ‘bậc hiền trí,’ các hàng Dạ-xoa biết vị ấy là không còn dục vọng, có bản chất tốt đẹp, đang du hành ở thế gian.
BJT 561Nếu quý ngài có thể dâng cúng đến vị ấy một hoặc hai xấp vải đôi rồi chỉ định là dành cho tôi, và nếu chúng có thể được thọ nhận thì quý ngài sẽ nhìn thấy tôi có y phục đã được mặc vào.”
BJT 562“Vị Sa-môn đang ngụ ở khu vực nào? Chúng tôi có thể đi đến và gặp vị ấy bây giờ. Hôm nay, người nào đây có thể xua đi sự nghi ngờ, sự phân vân, và các luận điểm trườn uốn của tà kiến cho trẫm?”
BJT 563“Vị ấy đã ngồi xuống ở Kapinaccanā, được vây quanh bởi nhiều Thiên nhân; vị có tên gọi chân thật đang thuyết bài giảng về Giáo Pháp, là vị không xao lãng trong lời giáo huấn của bậc dòng Sakya.”
BJT 564“Giờ đây, trẫm sẽ đi và sẽ làm như thế. Trẫm sẽ choàng lên vị Sa-môn với xấp vải đôi, chúng sẽ được thọ nhận, và chúng tôi có thể nhìn thấy ngươi có y phục đã được mặc vào.”
BJT 565“Chớ đi đến gần vị xuất gia không đúng thời điểm. Này vị Licchavi, tốt lắm, điều ấy không phải là thói quen của bệ hạ. Và sau đó, vào lúc đúng thời, bệ hạ hãy đi đến và nhìn thấy, ngay tại nơi ấy, vị ngồi, cô độc.”
BJT 566Sau khi nói rằng: “Hãy là như vậy,” vị Licchavi, được tháp tùng bởi đám nô lệ, đã đi đến nơi ấy. Sau khi đi đến thành phố ấy, đức vua đã đi đến chỗ ở, nơi trú ngụ của mình.
BJT 567Và sau đó, vào buổi sáng, sau khi đã làm các phận sự của người tại gia, đức vua đã tắm và uống nước. Sau khi đạt được thời điểm, vị Licchavi đã chọn lựa tám xấp vải đôi từ trong rương rồi bảo đám nô lệ cầm lấy.
BJT 568Sau khi đi đến khu vực ấy, đức vua đã nhìn thấy vị Sa-môn có tâm an tịnh ấy, đang trở về từ nơi khất thực, đã về đến nơi, đã ngồi xuống ở gốc cây, có trạng thái mát mẻ.
BJT 569Sau khi đi đến gần, đức vua đã nói điều ấy với vị ấy, đã hỏi về trạng thái thiểu bệnh và sự an trú thoải mái rằng: “Thưa ngài đại đức, trẫm thuộc dòng dõi Licchavi ở Vesālī, người ta biết trẫm là Ambasakkhara dòng dõi Licchavi.
BJT 570Thưa ngài, xin ngài hãy thọ nhận tám xấp vải đôi xinh đẹp này của trẫm; trẫm xin dâng đến ngài. Chính vì mục đích ấy mà trẫm đã đi đến nơi đây, như thế trẫm có thể được hoan hỷ.”
BJT 571“Các vị Sa-môn và Bà-la-môn tránh né nơi trú ngụ của bệ hạ từ đàng xa. Và ở nơi trú ngụ của bệ hạ, các bình bát bị đập vỡ và các y hai lớp cũng bị xé rách.
BJT 572Rồi những kẻ khác làm cho các vị Sa-môn té ngã dập đầu bởi những bàn chân như lưỡi búa. Các vị xuất gia, các vị Sa-môn gánh lấy sự hãm hại như thế ấy đã do bệ hạ làm.
BJT 573Bệ hạ không bố thí thậm chí dầu đốt đèn cùng với cọng cỏ, cũng không chỉ đường cho người lạc lối, bệ hạ đích thân giật lấy cây gậy của người mù, người như thế ấy là keo kiệt, không thu thúc. Giờ vì lý do gì, sau khi nhìn thấy chính điều gì mà bệ hạ lại thực hiện việc san sẻ với chúng tôi?”
BJT 574“Thưa ngài, trẫm hiểu được điều ngài nói; trẫm đã hãm hại các vị Sa-môn và Bà-la-môn. Là người có mục đích đùa giỡn và không có tâm địa xấu xa, thưa ngài, điều này cũng chính là việc đã làm sai trái của trẫm.
BJT 575Sau khi gây nên việc xấu xa do đùa giỡn, gã Dạ-xoa cảm nhận khổ đau, có sự thọ hưởng không được đầy đủ. Là người trẻ tuổi, thanh niên, có số phần của tình trạng lõa lồ, còn có khổ đau nào hơn thế cho gã ấy?
BJT 576Thưa ngài, sau khi nhìn thấy điều ấy trẫm đã có sự chấn động. Do duyên ấy, trẫm dâng cúng vật thí này. Thưa ngài, xin ngài hãy thọ nhận tám xấp vải đôi; mong sao các vật cúng dường này đến với Dạ-xoa.”
BJT 577“Bởi vì sự bố thí đương nhiên được ca tụng theo nhiều cách, mong sao là pháp không lui sụt đối với bệ hạ trong khi bố thí. Ta thọ nhận tám xấp vải đôi của bệ hạ; mong sao các vật cúng dường này đến với Dạ-xoa.”
BJT 578Và sau đó, vị Licchavi đã rưới nước (ở bàn tay) rồi đã dâng cúng tám xấp vải đôi đến vị trưởng lão (nói rằng): “Cầu mong các vật này được thọ nhận!” (Và vị trưởng lão đã bảo rằng) “Quý vị hãy nhìn xem gã Dạ-xoa có y phục đã được mặc vào.”
BJT 579Đức vua đã nhìn thấy Dạ-xoa ấy, đã được thoa tinh chất của trầm hương, đã cỡi lên con ngựa thuần chủng, có màu da quý phái, đã được trang điểm, có y phục được mặc vào khéo léo, được (tùy tùng) vây quanh, đã đạt đến đại thần lực của Dạ-xoa.
BJT 580Sau khi nhìn thấy Dạ-xoa ấy, đức vua được hoan hỷ, phấn khởi, có tâm tư phấn chấn, có dáng vẻ rạng rỡ sau khi đã nhìn thấy nghiệp và quả thành tựu lớn lao được thấy rõ ràng, sau khi đã chứng thực bằng mắt.
BJT 581Sau khi đi đến gần, đức vua đã nói điều ấy với Dạ-xoa ấy rằng: “Trẫm sẽ dâng cúng vật thí đến các Sa-môn và Bà-la-môn. Và thậm chí đối với trẫm không có vật gì là không thể bố thí. Và này Dạ-xoa, ngươi có nhiều sự hỗ trợ đối với trẫm.”
BJT 582“Này vị Licchavi, bệ hạ đã dâng cúng các vật thí, có một phần là dành cho tôi, điều ấy không phải vô ích. Tôi đây sẽ thực hiện việc quen biết với bệ hạ, một hạng phi nhân cùng với một người nhân loại.”
BJT 583“Ngươi là số phận, là thân quyến, là sự nâng đỡ, và là người bạn của trẫm, rồi là vị Thiên nhân. Trẫm chắp tay lại khẩn cầu: ‘Này Dạ-xoa, trẫm muốn nhìn thấy ngươi thêm lần nữa.’”
BJT 584“Nếu bệ hạ không còn niềm tin, có dáng vẻ keo kiệt, có tâm bị lầm lạc, do chính điều ấy bệ hạ sẽ không đạt được việc nhìn thấy tôi nữa, và tôi sau khi nhìn thấy bệ hạ, cũng sẽ không trò chuyện.
BJT 585Nếu bệ hạ sẽ có sự tôn kính Giáo Pháp, ưa thích việc bố thí, có bản tính nhân hậu, là nguồn cung ứng (vật chất) đối với các Sa-môn và Bà-la-môn, như vậy bệ hạ sẽ đạt được việc nhìn thấy tôi.
BJT 586Và này bậc đáng kính, sau khi nhìn thấy bệ hạ, tôi sẽ trò chuyện. Và bệ hạ hãy nhanh chóng phóng thích người này khỏi cọc nhọn. Bắt đầu từ người này, chúng ta đã thực hiện việc quen biết, chúng ta hãy nghĩ là bởi lý do của người bị cắm vào cọc nhọn.
BJT 587Chúng ta đây đã thực hiện việc quen biết lẫn nhau. Và người bị cắm vào cọc nhọn này nên được phóng thích nhanh chóng. Trong khi thực hành các pháp một cách nghiêm chỉnh, người ấy có thể thoát khỏi địa ngục ấy.
BJT 588Nghiệp có thể được cảm thọ ở nơi khác. Bệ hạ hãy đi đến gặp vị Kappinaka, sau khi san sẻ (vật thực) với chính vị ấy vào lúc đúng thời, sau khi đã ngồi xuống gần bên, đối diện, bệ hạ hãy đích thân hỏi.
BJT 589Vị ấy sẽ chỉ bày cho bệ hạ về ý nghĩa ấy. Sau khi đi đến gần chính vị tỳ khưu ấy, (với tư cách) là người có mục đích tìm hiểu và không có tâm địa xấu xa, bệ hạ hãy hỏi. Vị ấy sẽ chỉ bày tất cả đúng theo sự nhận biết về Giáo Pháp điều mà bệ hạ đã được nghe và thậm chí còn chưa được nghe.”
BJT 590Tại nơi ấy, sau khi đã chuyện trò một cách kín đáo, sau khi đã thực hiện việc quen biết với hàng phi nhân, đức vua đã ra đi đến nơi có mặt các vi Licchavi, rồi đã nói với tập thể đang ngồi tụ tập rằng:
BJT 591“Này các khanh, hãy lắng nghe một lời nói của trẫm. Nếu trẫm có thể chọn điều ước muốn, trẫm sẽ chọn lấy điều lợi ích. Người đàn ông có hành động tàn bạo đã bị cắm ở cọc nhọn, đã bị áp dụng hành phạt, có vóc dáng của kẻ thuần phục.
BJT 592Cho đến bây giờ là hai mươi đêm kể từ lúc bị cắm (ở cọc nhọn) gã chẳng những không sống mà cũng chẳng bị chết. Giờ đây, trẫm sẽ phóng thích gã ấy; mong rằng tập thể chấp nhận theo suy nghĩ như vậy.”
BJT 593“Bệ hạ hãy nhanh chóng phóng thích gã này và gã khác. Ai có thể nói bệ hạ trong khi bệ hạ làm như thế ấy. Bệ hạ nhận thức như thế nào thì bệ hạ hãy thực hiện như thế ấy; tập thể thuận theo suy nghĩ như vậy.”
BJT 594Sau khi đi đến khu vực ấy, đức vua đã vô cùng nhanh chóng phóng thích người bị cắm ở cọc nhọn và đã nói với gã ấy rằng: “Này anh bạn, chớ sợ hãi,” rồi đã bàn giao cho các vị y sĩ.
BJT 595Và sau khi đã đi đến gặp vị Kappinaka, sau khi đã san sẻ (vật thực) đồng đều với vị ấy vào lúc đúng thời, sau khi đích thân ngồi xuống gần bên đối diện, vị Licchavi là người muốn biết lý do, ngay tại nơi ấy, đã hỏi vị ấy rằng:
BJT 596“Người đàn ông có hành động tàn bạo đã bị cắm ở cọc nhọn, đã bị áp dụng hành phạt, có vóc dáng của kẻ thuần phục. Cho đến bây giờ là hai mươi đêm kể từ lúc gã bị cắm (ở cọc nhọn) chẳng những không sống mà cũng chẳng bị chết.
BJT 597Được tha bổng, gã ấy giờ đây đã đi với trẫm bởi vì lời nói của Dạ-xoa này. Thưa ngài, phải chăng có lý do nào đó khiến cho gã ấy có thể khỏi đi đến địa ngục?
BJT 598Thưa ngài, nếu có nguyên do xin ngài hãy chỉ bày; chúng tôi sẽ lắng nghe lời nói về nguyên do đã được tin cậy. Phải chăng không có sự triệt tiêu các nghiệp ấy? Phải chăng có tình trạng chấm dứt ở đây mà không phải cảm thọ?”
BJT 599“Nếu người ấy thực hành các pháp một cách nghiêm chỉnh đêm ngày không xao lãng, người ấy có thể thoát khỏi địa ngục ấy. Nghiệp có thể được cảm thọ ở nơi khác.”
BJT 600“Vấn đề của gã đàn ông ấy đã được thấu hiểu. Thưa ngài, giờ đây xin ngài cũng hãy thương xót đến trẫm. Thưa vị có tuệ bao la, xin ngài hãy chỉ dạy, hãy giáo huấn trẫm để cho trẫm không phải đi địa ngục.”
BJT 601“Ngay ngày hôm nay, với tâm tịnh tín bệ hạ hãy đi đến nương nhờ đức Phật, Giáo Pháp, và Hội Chúng. Tương tự y như thế, bệ hạ hãy thọ trì năm điều học không bị bể vỡ hay sứt mẻ.
BJT 602Bệ hạ hãy lập tức kiêng chừa việc giết hại mạng sống, hãy xa lánh vật chưa được cho (việc trộm cắp) ở trên đời, chớ có việc uống chất say và nói lời dối trá, và hãy vui thích (chỉ) với người vợ của mình. Hãy thọ trì việc thiện đưa đến sự an lạc, được gắn liền với tám chi phần cao quý thánh thiện này.
BJT 603Với tâm ý tịnh tín, bệ hạ hãy dâng cúng y phục và vật thực, vật dụng, chỗ nằm ngồi, cơm ăn, nước uống, vật thực cứng, vải vóc và chỗ trú ngụ đến các vị có bản thể chính trực.
BJT 604Bệ hạ cũng hãy làm toại ý các vị tỳ khưu đầy đủ giới hạnh, đã xa lìa luyến ái, có sự học rộng, với cơm ăn và nước uống; phước báu luôn luôn tăng trưởng.
BJT 605Và trong khi thực hành các pháp một cách nghiêm chỉnh đêm ngày không xao lãng như thế, bệ hạ đây có thể thoát khỏi địa ngục ấy; nghiệp nếu có sẽ được cảm thọ ở nơi khác.”
BJT 606“Ngay ngày hôm nay, với tâm tịnh tín trẫm đi đến nương nhờ đức Phật, Giáo Pháp, và Hội Chúng. Tương tự y như thế, trẫm thọ trì năm điều học không bị bể vỡ hay sứt mẻ.
BJT 607Trẫm lập tức kiêng chừa việc giết hại mạng sống, xa lánh vật chưa được cho (việc trộm cắp) ở trên đời, không có việc uống chất say và không nói lời dối trá, trẫm vui thích (chỉ) riêng với người vợ của mình. Trẫm thọ trì việc thiện đưa đến sự an lạc, được gắn liền với tám chi phần cao quý thánh thiện này.”
BJT 608-609Được vui thích ở lời dạy của chư Phật, trẫm còn dâng cúng y phục và vật thực, vật dụng, chỗ nằm ngồi, cơm ăn, nước uống, vật thực cứng, vải vóc và chỗ trú ngụ đến các vị tỳ khưu đầy đủ giới hạnh, đã xa lìa luyến ái, có sự học rộng.”
BJT 610(Đức vua) Licchavi Ambasakkhara là như thế ấy, một vị cận sự nam khác nữa của thành Vesālī, có đức tin, nhu thuận, người làm công việc hỗ trợ, và từ đó đã hộ độ hội chúng tỳ khưu một cách nghiêm chỉnh.
BJT 611Còn người bị cắm ở cọc nhọn, sau khi hết bệnh, có sự chọn lựa, có sự an vui, đã đi đến việc xuất gia. Và nhờ vào vị tỳ khưu Kappinaka tối thượng, cả hai cũng đã chứng đạt các quả vị của Sa-môn.
BJT 612Việc thân cận với những bậc chân nhân như thế ấy, các bậc tốt lành có sự nhận thức, thì có quả báo lớn lao: Người bị cắm ở cọc nhọn đã chạm đến quả vị cao tột (A-la-hán), còn Ambasakkhara quả vị thấp nhất (Nhập Lưu).”
Chuyện Ngạ Quỷ của Ambasakkhara là thứ nhất.
Vesālī nāma nagaratthi vajjīnaṁ,
Tattha ahu licchavi ambasakkaro;
Disvāna petaṁ nagarassa bāhiraṁ,
Tattheva pucchittha taṁ kāraṇatthiko.
“Seyyā nisajjā nayimassa atthi,
Abhikkamo natthi paṭikkamo ca;
Asitapītakhāyitavatthabhogā,
Paricārikā sāpi imassa natthi.
Ye ñātakā diṭṭhasutā suhajjā,
Anukampakā yassa ahesuṁ pubbe;
Daṭṭhumpi te dāni na taṁ labhanti,
Virājitatto hi janena tena.
Na oggatattassa bhavanti mittā,
Jahanti mittā vikalaṁ viditvā;
Atthañca disvā parivārayanti,
Bahū mittā uggatattassa honti.
Nihīnatto sabbabhogehi kiccho,
Sammakkhito samparibhinnagatto;
Ussāvabindūva palimpamāno,
Ajja suve jīvitassūparodho.
Etādisaṁ uttamakicchappattaṁ,
Uttāsitaṁ pucimandassa sūle;
‘Atha tvaṁ kena vaṇṇena vadesi yakkha,
Jīva bho jīvitameva seyyo’”ti.
“Sālohito esa ahosi mayhaṁ,
Ahaṁ sarāmi purimāya jātiyā;
Disvā ca me kāruññamahosi rāja,
Mā pāpadhammo nirayaṁ patāyaṁ.
Ito cuto licchavi esa poso,
Sattussadaṁ nirayaṁ ghorarūpaṁ;
Upapajjati dukkaṭakammakārī,
Mahābhitāpaṁ kaṭukaṁ bhayānakaṁ.
Anekabhāgena guṇena seyyo,
Ayameva sūlo nirayena tena;
Ekantadukkhaṁ kaṭukaṁ bhayānakaṁ,
Ekantatibbaṁ nirayaṁ patāyaṁ.
Idañca sutvā vacanaṁ mameso,
Dukkhūpanīto vijaheyya pāṇaṁ;
Tasmā ahaṁ santike na bhaṇāmi,
Mā me kato jīvitassūparodho”.
“Aññāto eso purisassa attho,
Aññampi icchāmase pucchituṁ tuvaṁ;
Okāsakammaṁ sace no karosi,
Pucchāma taṁ no na ca kujjhitabban”ti.
“Addhā paṭiññā me tadā ahu,
Nācikkhanā appasannassa hoti;
Akāmā saddheyyavacoti katvā,
Pucchassu maṁ kāmaṁ yathā visayhan”ti.
“Yaṁ kiñcahaṁ cakkhunā passissāmi,
Sabbampi tāhaṁ abhisaddaheyyaṁ;
Disvāva taṁ nopi ce saddaheyyaṁ,
Kareyyāsi me yakkha niyassakamman”ti.
“Saccappaṭiññā tava mesā hotu,
Sutvāna dhammaṁ labha suppasādaṁ;
Aññatthiko no ca paduṭṭhacitto,
Yaṁ te sutaṁ asutañcāpi dhammaṁ;
Sabbampi akkhissaṁ yathā pajānanti”.
“Setena assena alaṅkatena,
Upayāsi sūlāvutakassa santike;
Yānaṁ idaṁ abbhutaṁ dassaneyyaṁ,
Kissetaṁ kammassa ayaṁ vipāko”ti.
“Vesāliyā nagarassa majjhe,
Cikkhallamagge narakaṁ ahosi;
Gosīsamekāhaṁ pasannacitto,
Setaṁ gahetvā narakasmiṁ nikkhipiṁ.
Etasmiṁ pādāni patiṭṭhapetvā,
Mayañca aññe ca atikkamimhā;
Yānaṁ idaṁ abbhutaṁ dassaneyyaṁ,
Tasseva kammassa ayaṁ vipāko”ti.
“Vaṇṇo ca te sabbadisā pabhāsati,
Gandho ca te sabbadisā pavāyati;
Yakkhiddhipattosi mahānubhāvo,
Naggo cāsi kissa ayaṁ vipāko”ti.
“Akkodhano niccapasannacitto,
Saṇhāhi vācāhi janaṁ upemi;
Tasseva kammassa ayaṁ vipāko,
Dibbo me vaṇṇo satataṁ pabhāsati.
Yasañca kittiñca dhamme ṭhitānaṁ,
Disvāna mantemi pasannacitto;
Tasseva kammassa ayaṁ vipāko,
Dibbo me gandho satataṁ pavāyati.
Sahāyānaṁ titthasmiṁ nhāyantānaṁ,
Thale gahetvā nidahissa dussaṁ;
Khiḍḍatthiko no ca paduṭṭhacitto,
Tenamhi naggo kasirā ca vuttī”ti.
“Yo kīḷamāno pakaroti pāpaṁ,
Tassedisaṁ kammavipākamāhu;
Akīḷamāno pana yo karoti,
Kiṁ tassa kammassa vipākamāhū”ti.
“Ye duṭṭhasaṅkappamanā manussā,
Kāyena vācāya ca saṅkiliṭṭhā;
Kāyassa bhedā abhisamparāyaṁ,
Asaṁsayaṁ te nirayaṁ upenti.
Apare pana sugatimāsamānā,
Dāne ratā saṅgahitattabhāvā;
Kāyassa bhedā abhisamparāyaṁ,
Asaṁsayaṁ te sugatiṁ upentī”ti.
“Taṁ kinti jāneyyamahaṁ avecca,
Kalyāṇapāpassa ayaṁ vipāko;
Kiṁ vāhaṁ disvā abhisaddaheyyaṁ,
Ko vāpi maṁ saddahāpeyya etan”ti.
“Disvā ca sutvā abhisaddahassu,
Kalyāṇapāpassa ayaṁ vipāko;
Kalyāṇapāpe ubhaye asante,
Siyā nu sattā sugatā duggatā vā.
No cettha kammāni kareyyuṁ maccā,
Kalyāṇapāpāni manussaloke;
Nāhesuṁ sattā sugatā duggatā vā,
Hīnā paṇītā ca manussaloke.
Yasmā ca kammāni karonti maccā,
Kalyāṇapāpāni manussaloke;
Tasmā hi sattā sugatā duggatā vā,
Hīnā paṇītā ca manussaloke.
Dvayajja kammānaṁ vipākamāhu,
Sukhassa dukkhassa ca vedanīyaṁ;
Tā devatāyo paricārayanti,
Paccanti bālā dvayataṁ apassino.
Na matthi kammāni sayaṅkatāni,
Datvāpi me natthi yo ādiseyya;
Acchādanaṁ sayanamathannapānaṁ,
Tenamhi naggo kasirā ca vuttī”ti.
“Siyā nu kho kāraṇaṁ kiñci yakkha,
Acchādanaṁ yena tuvaṁ labhetha;
Ācikkha me tvaṁ yadatthi hetu,
Saddhāyikaṁ hetuvaco suṇomā”ti.
“Kappitako nāma idhatthi bhikkhu,
Jhāyī susīlo arahā vimutto;
Guttindriyo saṁvutapātimokkho,
Sītibhūto uttamadiṭṭhipatto.
Sakhilo vadaññū suvaco sumukho,
Svāgamo suppaṭimuttako ca;
Puññassa khettaṁ araṇavihārī,
Devamanussānañca dakkhiṇeyyo.
Santo vidhūmo anīgho nirāso,
Mutto visallo amamo avaṅko;
Nirūpadhī sabbapapañcakhīṇo,
Tisso vijjā anuppatto jutimā.
Appaññāto disvāpi na ca sujāno,
Munīti naṁ vajjisu voharanti;
Jānanti taṁ yakkhabhūtā anejaṁ,
Kalyāṇadhammaṁ vicarantaṁ loke.
Tassa tuvaṁ ekayugaṁ duve vā,
Mamuddisitvāna sace dadetha;
Paṭiggahītāni ca tāni assu,
Mamañca passetha sannaddhadussan”ti.
“Kasmiṁ padese samaṇaṁ vasantaṁ,
Gantvāna passemu mayaṁ idāni;
Yo majja kaṅkhaṁ vicikicchitañca,
Diṭṭhīvisūkāni vinodayeyyā”ti.
“Eso nisinno kapinaccanāyaṁ,
Parivārito devatāhi bahūhi;
Dhammiṁ kathaṁ bhāsati saccanāmo,
Sakasmimācerake appamatto”ti.
“Tathāhaṁ kassāmi gantvā idāni,
Acchādayissaṁ samaṇaṁ yugena;
Paṭiggahitāni ca tāni assu,
Tuvañca passemu sannaddhadussan”ti.
“Mā akkhaṇe pabbajitaṁ upāgami,
Sādhu vo licchavi nesa dhammo;
Tato ca kāle upasaṅkamitvā,
Tattheva passāhi raho nisinnan”ti.
Tathāti vatvā agamāsi tattha,
Parivārito dāsagaṇena licchavi;
So taṁ nagaraṁ upasaṅkamitvā,
Vāsūpagacchittha sake nivesane.
Tato ca kāle gihikiccāni katvā,
Nhatvā pivitvā ca khaṇaṁ labhitvā;
Viceyya peḷāto ca yugāni aṭṭha,
Gāhāpayī dāsagaṇena licchavi.
So taṁ padesaṁ upasaṅkamitvā,
Taṁ addasa samaṇaṁ santacittaṁ;
Paṭikkantaṁ gocarato nivattaṁ,
Sītibhūtaṁ rukkhamūle nisinnaṁ.
Tamenamavoca upasaṅkamitvā,
Appābādhaṁ phāsuvihārañca pucchi;
“Vesāliyaṁ licchavihaṁ bhadante,
Jānanti maṁ licchavi ambasakkaro.
Imāni me aṭṭha yugā subhāni,
Paṭigaṇha bhante padadāmi tuyhaṁ;
Teneva atthena idhāgatosmi,
Yathā ahaṁ attamano bhaveyyan”ti.
“Dūratova samaṇabrāhmaṇā ca,
Nivesanaṁ te parivajjayanti;
Pattāni bhijjanti ca te nivesane,
Saṅghāṭiyo cāpi vidālayanti.
Athāpare pādakuṭhārikāhi,
Avaṁsirā samaṇā pātayanti;
Etādisaṁ pabbajitā vihesaṁ,
Tayā kataṁ samaṇā pāpuṇanti.
Tiṇena telampi na tvaṁ adāsi,
Muḷhassa maggampi na pāvadāsi;
Andhassa daṇḍaṁ sayamādiyāsi,
Etādiso kadariyo asaṁvuto tuvaṁ;
Atha tvaṁ kena vaṇṇena kimeva disvā,
Amhehi saha saṁvibhāgaṁ karosī”ti.
“Paccemi bhante yaṁ tvaṁ vadesi,
Vihesayiṁ samaṇe brāhmaṇe ca;
Khiḍḍatthiko no ca paduṭṭhacitto,
Etampi me dukkaṭameva bhante.
Khiḍḍāya yakkho pasavitvā pāpaṁ,
Vedeti dukkhaṁ asamattabhogī;
Daharo yuvā nagganiyassa bhāgī,
Kiṁ su tato dukkhatarassa hoti.
Taṁ disvā saṁvegamalatthaṁ bhante,
Tappaccayā vāpi dadāmi dānaṁ;
Paṭigaṇha bhante vatthayugāni aṭṭha,
Yakkhassimā gacchantu dakkhiṇāyo”ti.
“Addhā hi dānaṁ bahudhā pasatthaṁ,
Dadato ca te akkhayadhammamatthu;
Paṭigaṇhāmi te vatthayugāni aṭṭha,
Yakkhassimā gacchantu dakkhiṇāyo”ti.
Tato hi so ācamayitvā licchavi,
Therassa datvāna yugāni aṭṭha;
Paṭiggahitāni ca tāni assu,
Yakkhañca passetha sannaddhadussaṁ.
Tamaddasā candanasāralittaṁ,
Ājaññamārūḷhamuḷāravaṇṇaṁ;
Alaṅkataṁ sādhunivatthadussaṁ,
Parivāritaṁ yakkhamahiddhipattaṁ.
So taṁ disvā attamano udaggo,
Pahaṭṭhacitto ca subhaggarūpo;
Kammañca disvāna mahāvipākaṁ,
Sandiṭṭhikaṁ cakkhunā sacchikatvā.
Tamenamavoca upasaṅkamitvā,
“Dassāmi dānaṁ samaṇabrāhmaṇānaṁ;
Na cāpi me kiñci adeyyamatthi,
Tuvañca me yakkha bahūpakāro”ti.
“Tuvañca me licchavi ekadesaṁ,
Adāsi dānāni amoghametaṁ;
Svāhaṁ karissāmi tayāva sakkhiṁ,
Amānuso mānusakena saddhin”ti.
“Gatī ca bandhū ca parāyaṇañca,
Mitto mamāsi atha devatā me;
Yācāmi taṁ pañjaliko bhavitvā,
Icchāmi taṁ yakkha punāpi daṭṭhun”ti.
“Sace tuvaṁ assaddho bhavissasi,
Kadariyarūpo vippaṭipannacitto;
Tvaṁ neva maṁ lacchasi dassanāya,
Disvā ca taṁ nopi ca ālapissaṁ.
Sace pana tvaṁ bhavissasi dhammagāravo,
Dāne rato saṅgahitattabhāvo;
Opānabhūto samaṇabrāhmaṇānaṁ,
Evaṁ mamaṁ lacchasi dassanāya.
Disvā ca taṁ ālapissaṁ bhadante,
Imañca sūlato lahuṁ pamuñca;
Yatonidānaṁ akarimha sakkhiṁ,
Maññāmi sūlāvutakassa kāraṇā.
Te aññamaññaṁ akarimha sakkhiṁ,
Ayañca sūlato lahuṁ pamutto;
Sakkacca dhammāni samācaranto,
Mucceyya so nirayā ca tamhā;
Kammaṁ siyā aññatra vedanīyaṁ.
Kappitakañca upasaṅkamitvā,
Teneva saha saṁvibhajitvā kāle;
Sayaṁ mukhenūpanisajja puccha,
So te akkhissati etamatthaṁ.
Tameva bhikkhuṁ upasaṅkamitvā,
Pucchassu aññatthiko no ca paduṭṭhacitto;
So te sutaṁ asutañcāpi dhammaṁ,
Sabbampi akkhissati yathā pajānan”ti.
So tattha rahassaṁ samullapitvā,
Sakkhiṁ karitvāna amānusena;
Pakkāmi so licchavīnaṁ sakāsaṁ,
Atha bravi parisaṁ sannisinnaṁ.
“Suṇantu bhonto mama ekavākyaṁ,
Varaṁ varissaṁ labhissāmi atthaṁ;
Sūlāvuto puriso luddakammo,
Paṇihitadaṇḍo anusattarūpo.
Ettāvatā vīsatirattimattā,
Yato āvuto neva jīvati na mato;
Tāhaṁ mocayissāmi dāni,
Yathāmatiṁ anujānātu saṅgho”ti.
“Etañca aññañca lahuṁ pamuñca,
Ko taṁ vadetha tathā karontaṁ;
Yathā pajānāsi tathā karohi,
Yathāmatiṁ anujānāti saṅgho”ti.
So taṁ padesaṁ upasaṅkamitvā,
Sūlāvutaṁ mocayi khippameva;
“Mā bhāyi sammā”ti ca taṁ avoca,
Tikicchakānañca upaṭṭhapesi.
“Kappitakañca upasaṅkamitvā,
Teneva saha saṁvibhajitvā kāle;
Sayaṁ mukhenūpanisajja licchavi,
Tatheva pucchittha naṁ kāraṇatthiko.
Sūlāvuto puriso luddakammo,
Paṇihitadaṇḍo anusattarūpo;
Ettāvatā vīsatirattimattā,
Yato āvuto neva jīvati na mato.
So mocito gantvā mayā idāni,
Etassa yakkhassa vaco hi bhante;
Siyā nu kho kāraṇaṁ kiñcideva,
Yena so nirayaṁ no vajeyya.
Ācikkha bhante yadi atthi hetu,
Saddhāyikaṁ hetuvaco suṇoma;
Na tesaṁ kammānaṁ vināsamatthi,
Avedayitvā idha byantibhāvo”ti.
“Sace sa dhammāni samācareyya,
Sakkacca rattindivamappamatto;
Mucceyya so nirayā ca tamhā,
Kammaṁ siyā aññatra vedanīyan”ti.
“Aññāto eso purisassa attho,
Mamampi dāni anukampa bhante;
Anusāsa maṁ ovada bhūripañña,
Yathā ahaṁ no nirayaṁ vajeyyan”ti.
“Ajjeva buddhaṁ saraṇaṁ upehi,
Dhammañca saṅghañca pasannacitto;
Tatheva sikkhāya padāni pañca,
Akhaṇḍaphullāni samādiyassu.
Pāṇātipātā viramassu khippaṁ,
Loke adinnaṁ parivajjayassu;
Amajjapo mā ca musā abhāṇī,
Sakena dārena ca hohi tuṭṭho;
Imañca ariyaṁ aṭṭhaṅgavarenupetaṁ,
Samādiyāhi kusalaṁ sukhudrayaṁ.
Cīvaraṁ piṇḍapātañca,
paccayaṁ sayanāsanaṁ;
Annaṁ pānaṁ khādanīyaṁ,
vatthasenāsanāni ca;
Dadāhi ujubhūtesu,
vippasannena cetasā.
Bhikkhūpi sīlasampanne,
vītarāge bahussute;
Tappehi annapānena,
sadā puññaṁ pavaḍḍhati.
Evañca dhammāni samācaranto,
Sakkacca rattindivamappamatto;
Muñca tuvaṁ nirayā ca tamhā,
Kammaṁ siyā aññatra vedanīyan”ti.
“Ajjeva buddhaṁ saraṇaṁ upemi,
Dhammañca saṅghañca pasannacitto;
Tatheva sikkhāya padāni pañca,
Akhaṇḍaphullāni samādiyāmi.
Pāṇātipātā viramāmi khippaṁ,
Loke adinnaṁ parivajjayāmi;
Amajjapo no ca musā bhaṇāmi,
Sakena dārena ca homi tuṭṭho;
Imañca ariyaṁ aṭṭhaṅgavarenupetaṁ,
Samādiyāmi kusalaṁ sukhudrayaṁ.
Cīvaraṁ piṇḍapātañca,
paccayaṁ sayanāsanaṁ;
Annaṁ pānaṁ khādanīyaṁ,
vatthasenāsanāni ca.
Bhikkhū ca sīlasampanne,
vītarāge bahussute;
Dadāmi na vikampāmi,
buddhānaṁ sāsane rato”ti.
Etādiso licchavi ambasakkaro,
Vesāliyaṁ aññataro upāsako;
Saddho mudū kārakaro ca bhikkhu,
Saṅghañca sakkacca tadā upaṭṭhahi.
Sūlāvuto ca arogo hutvā,
Serī sukhī pabbajjaṁ upāgami;
Bhikkhuñca āgamma kappitakuttamaṁ,
Ubhopi sāmaññaphalāni ajjhaguṁ.
Etādisā sappurisāna sevanā,
Mahapphalā hoti sataṁ vijānataṁ;
Sūlāvuto aggaphalaṁ aphassayi,
Phalaṁ kaniṭṭhaṁ pana ambasakkaroti.
Ambasakkarapetavatthu paṭhamaṁ.
In the city of the Vajjian people named Vesali there was a Licchavi king named Ambasakkhara. One day while he was outside of the city, he went to see a prisoner who was impaled on a sharp stake. There, the king saw a ghost. The king questioned the ghost,
Ambasakkhara:
This person can neither sleep nor sit. He cannot even take a step backwards or forwards. There are no clothes for him to wear or food to eat. He previously had relatives and friends but now there is nobody to help him, as if he has been thrown away. Friends will stay close to you when you are rich but abandon you when you are poor.
Having lost all of his possessions, now he is suffering with broken limbs and bleeding body. His life is uncertain, like a dew drop about to fall. He is about to die either today or tomorrow. Seeing such an unfortunate being, why do you say “May he live, may he live! Living is better than dying”?
Ghost:
Great King, when I recollected my past lives, I understood that he was my relative in a previous life. I had compassion towards him thinking, “Do not let his bad karma drag him into hell.”
Great King, if he dies he will fall into a very hot, severe, and frightful hell named Sattussada. This stake that he is on right now is countless times better than that terrible hell. Now if he were to know about what I just said, he would be afraid and lose his life. That is why I do not tell him about this.
Ambasakkhara:
I understand the situation that this person is in. Now I want to know about another thing too. Please give us permission to ask and do not get angry with me.
Ghost:
In the past, I had decided not to tell anyone who does not believe in karma about the ghost world. But now, since you have some trust in me, I will answer reluctantly. Ask anything you wish.
King:
Friend, I can believe whatever I see with my eyes. If I do not believe what I have seen with my eyes, then you can criticize me.
Ghost:
Please keep your promise. Now I will teach you the Dhamma. Listen carefully with an open and happy mind. Maybe you have heard the things I am about to say or maybe not, but I will tell everything I know.
King:
You have come here in a magnificent carriage pulled by white horses. It is very amazing and beautiful. Of what deed is this the result?
Ghost:
When I was in the human world I lived in the city of Vesali. One day there was a muddy area on a road. I placed the skull of an ox on that muddy area so that others could easily pass stepping on it. This was the good deed for which I have received this magnificent carriage.
King:
Friend, your body shines in all directions and the fragrance of your body spreads everywhere. You have divine psychic power too, but you are fully naked. What is the reason for this?
Ghost:
In the human world, my heart was free from anger and filled with kindness. I always talked to people with gentle speech. From this deed I gain my heavenly radiance. When I saw people who were following the Dhamma, I admired them and congratulated them. From this deed sweet fragrance spreads from my body.
One day, however, while my friends were bathing in a river, I playfully took their clothes and hid them without any evil thoughts in my mind. For this reason, I am now naked and I suffer.
The Buddha has taught that such will be the result if one commits a bad deed for fun. He has also taught how serious the consequences will be for those who commit evil deeds with bad intentions.
Those people who commit bad deeds with bad intentions by body, speech, and mind will surely go to hell after death.
But those who are very generous and kind to others will surely go to heaven after death.
King:
Now you have explained about good and bad karma, but how do I believe that there are results of good and bad deeds? Having seen what, should I believe it? Who can convince me about this?
Ghost:
When you have seen or heard the results of karma, you should believe in it. You must believe that this is the result of doing good and evil deeds. Otherwise, if there were no results of good or bad actions, why do some beings go to bad worlds and some to good worlds? What is the reason that some beings are poor and some are rich? Since living beings do good or bad deeds, they have happy or miserable existences and births in low or high classes.
I have now explained the actions that lead to happiness and the actions that lead to suffering. Doers of good rejoice in heaven. The fools who do not believe in the results of good and bad actions suffer in hell.
I have not done any meritorious deeds and there is nobody who will share their merits with me so that I can have clothes, houses, food and drink. For this reason I am suffering with a naked body.
King:
Is the any way for you to get clothing? Tell me a way so that I can give you clothes. I will believe in your words.
Ghost:
There is an Arahant monk named Kappinaka nearby. He is very virtuous and restrained in senses. His speech is very pleasant and he is a very skilled preacher. He meditates and is free from all defilements. He has become very calm and has realized the true nature of life. He is very gentle, tranquil, free from desires, concentrated and very wise. He has attained the triple knowledge. He is worthy of offerings from gods and humans.
Not many people know about his achievements. People cannot easily recognize him as an Arahant. People in the Vajjian state call him a sage. Powerful gods and yakkhas praise his qualities everywhere saying, “The Arahant monk Kappinaka is a great sage, free of passion.”
Please go and meet that Bhante and offer him a pair or two of robes. If he accepts them, and if you dedicate the merit to me, you will then see me with beautiful clothes.
King:
Where is that monk staying right now? Will he help me get rid of my doubts and wrong views?
Ghost:
He is resting at the village of Kapinaccana surrounded by many gods. He preaches the beautiful and excellent Dhamma which he practices very well.
King:
Yes, certainly I will go there right now and offer two robes and dedicate the merit to you. Then I will see you with beautiful clothes.
Ghost:
Wait, you should find another time to visit him because it is not good to disturb his meditation.
King:
Yes I will find a better time.
Surrounded by servants, the king then left that place and returned to his palace in the city. In the morning he bathed and ate his breakfast. He chose eight pairs of clothes from his closet and had the servants carry them. When the time was right, the king went to the place where the monk was. The monk was very calm and tranquil, seated at the foot of a tree. He had just returned from his morning alms round. The king approached him, asked about his wellbeing, and further said,
King:
Venerable Bhante, I am a Licchavi king from the city of Vesali. People know me as Ambasakkhara of the Licchavi clan. Please sir, accept these eight pairs of clothes of mine. I am offering these to you. I would be delighted if you accept them.
Monk:
Monks try to avoid your home. You break their bowls and even tear up their robes. Your people kick and trip them so they fall on their heads. These are the harassments that are caused by you and your people.
You have given nothing in charity nor have you shown the way to people who are lost. You have even grabbed the stick from a blind person. Being such a greedy and mean person, why are you here offering us robes?
King:
All that you have said about me is true, Bhante. Yes, I have harassed monks, but I have only done these things for fun not with an evil mind. But now I understand, even those deeds are very bad.
I know a ghost who committed an evil deed for fun now experiences suffering. He is a good person, but he is completely naked. What a terrible thing that is.
Bhante, I saw that ghost and I felt very sorry for him. For this reason I am now offering this gift. Please accept these eight pairs of clothes, and may the merit also reach that ghost.
Monk:
Surely, generosity has been praised by the Supreme Buddha. May generous people’s wealth increase further. I will accept your clothes and may the ghost share in this merit.
The king washed his face and offered the eight pairs of clothes to the Arahant monk saying,
King:
May Bhante accept these! May I see the ghost wearing beautiful clothes!
The ghost appeared in front of the king. The ghost was surrounded by many servants while sitting on a majestic pure-bred horse. He had a beautiful body covered with the fragrance of sandalwood and wore beautiful clothes.
The king was amazed and delighted when he saw the ghost. He saw with his own eyes the result of his offering.
The king approached the ghost and said,
King:
I will always give gifts to monks. Now there is nothing that I own that I cannot give. You have helped me very much, my friend.
Ghost:
Great king, you have offered one of the four requisites—clothing. It has been very fruitful. Even though I am a non-human and you are human, now we are talking together.
King:
Dear friend, I regard you as my relative, friend, god, and refuge. Worshipping you, I plead: I would like to see you again.
Ghost:
Yes, it can be on one condition. If one day you lose faith in the Dhamma, become very greedy, and follow wrong views, you will not see me anymore. Even if you see me, I will not talk to you.
But if you continuously develop respect for the Dhamma, practices generosity, become very kind and helpful to others, and often donate to monks, you will see me, and when I see you I will talk to you.
Great King, the reason we were able to become friends is because of that man on the stake. So please, release that man as soon as possible.
If the man is quickly released, he may have a chance to live, to do lots of good deeds, and even to escape from hell.
Please go with that man to meet Kappinaka Bhante and offer food and drink. He has to experience the result of another evil deed. Ask the Bhante about this, Bhante will explain everything. You should also listen to Bhante with the intention of understanding the Dhamma and not with a criticizing mind.
The king agreed with the ghost and promised to do as he said. Then the king went to the council of ministers and asked,
King:
Gentlemen, listen to me please. Do you remember that man who is dying on the stake? It is true that he has done evil deeds. We have already punished him. But he is loyal to the king. It has been twenty nights since he has been tortured on the stake. He is neither dead nor alive. Please give me the permission to release him.
Ministers:
Oh great King, you do not need to ask for permission from us. We will agree with your decision. Soldiers, please release that man.
Quickly, the king went to the prisoner who was on the stake and released him. The king told him not to be afraid. The king instructed his doctors to treat the man. Once the man was cured and healthy, the king took him to see the Arahant monk Kappinaka and they offered food and drink. The king questioned the monk thus,
King:
This man was undergoing punishment on a stake for twenty nights. He was very close to death. He had done evil deeds, but he was a loyal person to the king. Bhante, having listened to the suggestions of a ghost, I have released him. I learned that he would have been born in hell if he had died. Please teach him the way to escape from hell. We will listen to you trusting that you will tell us the truth. Is it possible that the results of some bad karma will disappear without ripening?
Monk:
If he practices the Dhamma diligently both day and night, he will escape from hell. But he will have to suffer the result of that bad karma somewhere else if he does not put an end to the round of rebirth.
King:
Bhante has answered the question that I asked about this man. Now, please have pity on me too. Very wise Bhante, teach me the Dhamma so that I also will escape from hell.
Monk:
You should take refuge in the Buddha, Dhamma, and Sangha at this very moment. Have confidence in the Triple Gem, observe and keep the five precepts honestly.
Abstain from killing living beings right now, stop stealing, do not take intoxicating drinks and drugs, do not tell lies, and be satisfied with your own wife.
In this way, these eight factors (taking refuge in the Triple Gem and observing the five precepts) will give you much happiness.
The disciples of the Supreme Buddha, the monks, are very virtuous, desireless, have pure lives, and know much about the Dhamma. Have a pleasant mind about them. Offer them robes, food, drink, medicine, resting places, beds, and seats. Daily, the merits from these offerings grow.
In this way, you should practice the Dhamma diligently both day and night and you will escape from hell. But you will have to suffer the result of that bad karma somewhere else if you do not put an end to the round of rebirth.
King:
I will take refuge in the Buddha, Dhamma, and Sangha right now, place confidence in the Triple Gem, and observe and keep the five precepts honestly.
I will stop killing living beings right now, will stop stealing, will not take intoxicating drinks and drugs, will not tell lies, and will be satisfied with my own wife.
In this way, I observe these eight factors which lead to true happiness.
I will offer robes, food, drink, medicine, resting places, beds, and seats to the community of monks, the Sangha, who have virtuous and pure lives.
In this way, King Ambasakkhara of the Licchavi clan became a devoted lay disciple of the Supreme Buddha. He started supporting monks carefully with a humble mind.
The prisoner who was on the stake recovered fully and went to Kappinaka Arahant Bhante and became a monk under him. Marvelously, both the king and the prisoner realized the Dhamma.
This is the benefit of associating with noble friends. The friendship of people who know the Dhamma leads to very great results. The prisoner who was on the stake and later became a monk eventually attained Arahantship and King Ambasakkhara became a Stream Entrant.
BJT 526Xứ Vajjī có thành phố tên là Vesālī. (Đức vua) Ambasakkhara dòng dõi Licchavi đã ngụ tại nơi ấy. Sau khi nhìn thấy ngạ quỷ ở bên ngoài thành phố, đức vua Ambasakkhara, là người muốn biết lý do, ngay tại nơi ấy đã hỏi ngạ quỷ ấy rằng:
BJT 527“Không có giường nằm ghế ngồi dành cho gã này, không có việc đi tới hay đi lui, việc được ăn, được uống, được nhai, vải vóc, của cải, người hầu gái, (các) điều ấy cũng không có cho gã này.
BJT 528Những người nào là bà con, thân hữu đã nhìn thấy, đã nghe, đã là những người có lòng thương tưởng đến gã ấy trước đây, những người ấy giờ đây cũng không thể nhìn thấy gã ấy, bởi vì tình trạng đã bị cách ly với họ.
BJT 529Người có tình trạng sa sút không có bạn bè; bạn bè từ bỏ sau khi biết được sự thiếu thốn (của người ấy). Và họ vây quanh sau khi nhìn thấy sự lợi ích; người có tình trạng khá giả có nhiều bạn bè.
BJT 530Với tình trạng bị tiêu hoại tất cả các của cải, bị khốn khổ, bị lấm lem, có thân thể hoàn toàn bị gãy đổ, tựa như giọt sương đang đeo bám (vào chiếc lá), sự chấm dứt mạng sống là trong nay mai.
BJT 531Này Dạ-xoa, vậy với tư cách gì mà ngươi nói với kẻ đã đi đến sự khốn khổ tột cùng như thế này, đã bị cắm lên ở cọc nhọn bằng gỗ nimba rằng: ‘Này cháu yêu, cháu hãy sống. Sống đương nhiên là tốt hơn’?”
BJT 532“Này đức vua, gã ấy đã có cùng huyết thống với tôi; tôi nhớ lại vào kiếp sống trước đây. Và sau khi nhìn thấy, tôi đã có lòng thương xót rằng: ‘Mong sao kẻ có tính chất xấu xa này chớ rơi vào địa ngục.’
BJT 533Này vị Licchavi, người nam ấy, kẻ gây nên hành động đã được thực hiện một cách xấu xa, bị chết từ nơi này, (sẽ) bị sanh vào địa ngục đầy dẫy chúng sanh, có hình thức ghê rợn, có sức nóng khủng khiếp, dữ dội, tạo ra sự sợ hãi.
BJT 534Chính cái cọc nhọn này còn tốt hơn địa ngục ấy nhiều lần về tính chất, ‘Mong sao kẻ này chớ rơi vào địa ngục có sự khổ đau cùng tột, dữ dội, gây nên nỗi sợ hãi, có sự tàn nhẫn cùng tột.’
BJT 535Và sau khi nghe lời nói này của tôi, kẻ ấy có thể bị đưa đến khổ đau mà lìa bỏ sanh mạng; vì thế tôi không nói (lời nói này) trước mặt (kẻ ấy), chớ để sự chấm dứt mạng sống (của kẻ này) là do tôi gây nên.”
BJT 536“Sự việc ấy của người đàn ông đã được biết, tuy nhiên chúng tôi muốn hỏi ngươi việc khác. Nếu ngươi tạo cho chúng tôi cơ hội, trẫm sẽ hỏi điều ấy, và không nên nổi sân với chúng tôi.”
BJT 537“Đương nhiên, vào lúc ấy tôi đã có lời thỏa thuận. Không có việc chỉ bày cho người không được vừa lòng. Xin bệ hạ hãy xem tôi là người có lời nói đáng tin dầu là nghịch ý. Bệ hạ hãy hỏi tôi điều bệ hạ muốn, (tôi sẽ trả lời) tùy theo khả năng.”
BJT 538“Bất cứ việc gì trẫm sẽ nhìn thấy tận mắt, trẫm có thể tin tưởng tất cả điều ấy. Nhưng nếu sau khi nhìn thấy điều ấy mà trẫm vẫn không thể tin tưởng, này Dạ-xoa, ngươi có thể thực hiện việc quở trách đối với trẫm.”
BJT 539“Mong rằng sự thỏa thuận ấy của bệ hạ đối với tôi là chân thật. Là người có mục đích tìm hiểu và không có tâm địa xấu xa, xin bệ hạ hãy lắng nghe và tiếp nhận sự việc với niềm tin. Sự việc nào mà bệ hạ đã được nghe và thậm chí còn chưa được nghe, tôi sẽ chỉ bày tất cả theo như sự nhận biết.”
BJT 540“Bằng con ngựa màu trắng đã được trang điểm, ngươi đi đến trước mặt kẻ bị cắm vào cọc nhọn. Phương tiện di chuyển này là tuyệt vời, duyên dáng; quả thành tựu này là của nghiệp nào?”
BJT 541“Tại Vesālī, ở giữa thành phố ấy, nơi con đường lầy lội đã có một hố trũng. Với tâm tận tình, tôi đã cầm lấy một cái xương đầu bò màu trắng đặt xuống hố trũng.
BJT 542Sau khi đã đặt các bàn chân ở nơi ấy, chúng tôi và những người khác đã vượt qua. Phương tiện di chuyển này là tuyệt vời, duyên dáng; quả thành tựu này là của chính nghiệp ấy.”
BJT 543“Màu da của ngươi chiếu sáng khắp các phương, và mùi hương của ngươi tỏa ra khắp các phương. Ngươi đã đạt được thần thông của Dạ-xoa, có đại oai lực, và ngươi bị lõa lồ; quả thành tựu này là của việc gì?”
BJT 544“Không có giận dữ, và luôn luôn có tâm tận tình, tôi chuyện trò với mọi người bằng những lời nói mềm mỏng; quả thành tựu này là của chính nghiệp ấy: màu da thuộc về cõi Trời của tôi thường xuyên chiếu sáng.
BJT 545Với tâm tận tình, tôi nhìn nhận, tán dương danh vọng và tiếng tốt của những người đã đứng vững trong Giáo Pháp; quả thành tựu này là của chính nghiệp ấy: mùi hương thuộc về cõi Trời của tôi thường xuyên tỏa ra.
BJT 546Là người có mục đích đùa giỡn và không có tâm địa xấu xa, tôi đã lấy y phục của những người bạn đang tắm ở bến tắm và giấu ở nơi khô ráo; vì điều ấy tôi bị lõa lồ và sự sinh hoạt bị khốn khó.”
BJT 547“Người nào thực hiện việc xấu xa trong khi vui đùa, người ta nói rằng quả thành tựu của nghiệp ấy là như thế này. Trái lại, người nào làm trong lúc không phải vui đùa, thì người ta nói gì về quả thành tựu của nghiệp ấy?”
BJT 548“Những người nào có sự suy nghĩ và tâm ý xấu xa, bị ô nhiễm do thân và do khẩu, do sự tan rã của thân xác, vào kiếp sống kế tiếp những người ấy chắc chắn (sẽ) đi đến địa ngục.
BJT 549Trái lại, những người khác mong mỏi cảnh giới an vui, ưa thích việc bố thí, có bản tính nhân hậu, do sự tan rã của thân xác, vào kiếp sống kế tiếp những người ấy chắc chắn (sẽ) đi đến chốn an vui.”
BJT 550“Làm thế nào trẫm có thể biết chắc chắn về điều ấy rằng quả thành tựu này là của việc tốt và việc xấu? Hoặc là, sau khi nhìn thấy trẫm có thể tin được không? Hoặc nữa, người nào có thể khiến cho trẫm tin được điều ấy?”
BJT 551“Sau khi nhìn thấy hoặc sau khi lắng nghe, bệ hạ hãy tin tưởng rằng quả thành tựu này là của việc tốt và việc xấu. Khi cả hai tốt và xấu không hiện hữu, có thể nào chúng sanh lại đi đến nhàn cảnh hay đọa vào khổ cảnh?
BJT 552Ở đây, nếu loài người không làm các nghiệp tốt và xấu ở thế giới nhân loại, chúng sanh đã không đi đến nhàn cảnh hay đọa vào khổ cảnh, và đã không trở nên thấp hèn hay cao sang ở thế giới nhân loại.
BJT 553Và bởi vì loài người làm các nghiệp tốt và xấu ở thế giới nhân loại, chính vì thế chúng sanh đi đến nhàn cảnh hay đọa vào khổ cảnh, và trở nên thấp hèn hay cao sang ở thế giới nhân loại.
BJT 554Hôm nay, người ta nói quả thành tựu của các nghiệp có hai loại: cảm thọ của lạc và của khổ. Các vị Thiên nhân ấy nhàn hạ, những kẻ ngu không nhìn thấy tính chất đi đôi (nghiệp và quả của nghiệp) bị nung nấu (khổ đau).
BJT 555Tôi không có các nghiệp (thiện) đã được tự mình làm, thậm chí sau khi bố thí y phục, giường nằm, rồi cơm ăn nước uống cũng không có người chỉ định (việc ấy là) dành cho tôi; vì điều ấy tôi bị lõa lồ và sự sinh hoạt bị khốn khó.”
BJT 556“Này Dạ-xoa, có thể có cách thức nào nhờ đó ngươi có thể đạt được y phục? Nếu có nguyên do thì ngươi hãy nói điều ấy cho trẫm, chúng tôi sẽ lắng nghe lời nói về nguyên do đã được tin cậy.”
BJT 557“Ở nơi đây, có vị tỳ khưu tên Kappinaka, có thiền chứng, có thiện giới, là vị A-la-hán, đã được giải thoát, có giác quan đã được canh phòng, có giới bổn Pātimokkha đã được thu thúc, có trạng thái mát mẻ, đã đạt được chánh kiến tối thượng.
BJT 558Vị ấy nhã nhặn, biết lắng nghe, dễ tính, có khuôn mặt nhân hậu, có sự truyền thừa tốt đẹp, và có lời nói khôn khẻo, là thửa ruộng phước, có sự an trú tâm bình lặng, xứng đáng được cúng dường bởi chư Thiên và nhân loại.
BJT 559An tịnh, không tầm cầu sai trái, không khổ nhọc, không luyến ái, đã được giải thoát, không còn mũi tên (tham ái), không chấp ngã, không khúc mắc, không còn mầm mống tái sanh, đã cạn kiệt tất cả chướng ngại, đã đạt đến ba Minh, có sự sáng suốt.
BJT 560Do ít được biết đến, thậm chí sau khi nhìn thấy cũng không dễ biết được, ở xứ Vajji người ta gọi vị ấy là ‘bậc hiền trí,’ các hàng Dạ-xoa biết vị ấy là không còn dục vọng, có bản chất tốt đẹp, đang du hành ở thế gian.
BJT 561Nếu quý ngài có thể dâng cúng đến vị ấy một hoặc hai xấp vải đôi rồi chỉ định là dành cho tôi, và nếu chúng có thể được thọ nhận thì quý ngài sẽ nhìn thấy tôi có y phục đã được mặc vào.”
BJT 562“Vị Sa-môn đang ngụ ở khu vực nào? Chúng tôi có thể đi đến và gặp vị ấy bây giờ. Hôm nay, người nào đây có thể xua đi sự nghi ngờ, sự phân vân, và các luận điểm trườn uốn của tà kiến cho trẫm?”
BJT 563“Vị ấy đã ngồi xuống ở Kapinaccanā, được vây quanh bởi nhiều Thiên nhân; vị có tên gọi chân thật đang thuyết bài giảng về Giáo Pháp, là vị không xao lãng trong lời giáo huấn của bậc dòng Sakya.”
BJT 564“Giờ đây, trẫm sẽ đi và sẽ làm như thế. Trẫm sẽ choàng lên vị Sa-môn với xấp vải đôi, chúng sẽ được thọ nhận, và chúng tôi có thể nhìn thấy ngươi có y phục đã được mặc vào.”
BJT 565“Chớ đi đến gần vị xuất gia không đúng thời điểm. Này vị Licchavi, tốt lắm, điều ấy không phải là thói quen của bệ hạ. Và sau đó, vào lúc đúng thời, bệ hạ hãy đi đến và nhìn thấy, ngay tại nơi ấy, vị ngồi, cô độc.”
BJT 566Sau khi nói rằng: “Hãy là như vậy,” vị Licchavi, được tháp tùng bởi đám nô lệ, đã đi đến nơi ấy. Sau khi đi đến thành phố ấy, đức vua đã đi đến chỗ ở, nơi trú ngụ của mình.
BJT 567Và sau đó, vào buổi sáng, sau khi đã làm các phận sự của người tại gia, đức vua đã tắm và uống nước. Sau khi đạt được thời điểm, vị Licchavi đã chọn lựa tám xấp vải đôi từ trong rương rồi bảo đám nô lệ cầm lấy.
BJT 568Sau khi đi đến khu vực ấy, đức vua đã nhìn thấy vị Sa-môn có tâm an tịnh ấy, đang trở về từ nơi khất thực, đã về đến nơi, đã ngồi xuống ở gốc cây, có trạng thái mát mẻ.
BJT 569Sau khi đi đến gần, đức vua đã nói điều ấy với vị ấy, đã hỏi về trạng thái thiểu bệnh và sự an trú thoải mái rằng: “Thưa ngài đại đức, trẫm thuộc dòng dõi Licchavi ở Vesālī, người ta biết trẫm là Ambasakkhara dòng dõi Licchavi.
BJT 570Thưa ngài, xin ngài hãy thọ nhận tám xấp vải đôi xinh đẹp này của trẫm; trẫm xin dâng đến ngài. Chính vì mục đích ấy mà trẫm đã đi đến nơi đây, như thế trẫm có thể được hoan hỷ.”
BJT 571“Các vị Sa-môn và Bà-la-môn tránh né nơi trú ngụ của bệ hạ từ đàng xa. Và ở nơi trú ngụ của bệ hạ, các bình bát bị đập vỡ và các y hai lớp cũng bị xé rách.
BJT 572Rồi những kẻ khác làm cho các vị Sa-môn té ngã dập đầu bởi những bàn chân như lưỡi búa. Các vị xuất gia, các vị Sa-môn gánh lấy sự hãm hại như thế ấy đã do bệ hạ làm.
BJT 573Bệ hạ không bố thí thậm chí dầu đốt đèn cùng với cọng cỏ, cũng không chỉ đường cho người lạc lối, bệ hạ đích thân giật lấy cây gậy của người mù, người như thế ấy là keo kiệt, không thu thúc. Giờ vì lý do gì, sau khi nhìn thấy chính điều gì mà bệ hạ lại thực hiện việc san sẻ với chúng tôi?”
BJT 574“Thưa ngài, trẫm hiểu được điều ngài nói; trẫm đã hãm hại các vị Sa-môn và Bà-la-môn. Là người có mục đích đùa giỡn và không có tâm địa xấu xa, thưa ngài, điều này cũng chính là việc đã làm sai trái của trẫm.
BJT 575Sau khi gây nên việc xấu xa do đùa giỡn, gã Dạ-xoa cảm nhận khổ đau, có sự thọ hưởng không được đầy đủ. Là người trẻ tuổi, thanh niên, có số phần của tình trạng lõa lồ, còn có khổ đau nào hơn thế cho gã ấy?
BJT 576Thưa ngài, sau khi nhìn thấy điều ấy trẫm đã có sự chấn động. Do duyên ấy, trẫm dâng cúng vật thí này. Thưa ngài, xin ngài hãy thọ nhận tám xấp vải đôi; mong sao các vật cúng dường này đến với Dạ-xoa.”
BJT 577“Bởi vì sự bố thí đương nhiên được ca tụng theo nhiều cách, mong sao là pháp không lui sụt đối với bệ hạ trong khi bố thí. Ta thọ nhận tám xấp vải đôi của bệ hạ; mong sao các vật cúng dường này đến với Dạ-xoa.”
BJT 578Và sau đó, vị Licchavi đã rưới nước (ở bàn tay) rồi đã dâng cúng tám xấp vải đôi đến vị trưởng lão (nói rằng): “Cầu mong các vật này được thọ nhận!” (Và vị trưởng lão đã bảo rằng) “Quý vị hãy nhìn xem gã Dạ-xoa có y phục đã được mặc vào.”
BJT 579Đức vua đã nhìn thấy Dạ-xoa ấy, đã được thoa tinh chất của trầm hương, đã cỡi lên con ngựa thuần chủng, có màu da quý phái, đã được trang điểm, có y phục được mặc vào khéo léo, được (tùy tùng) vây quanh, đã đạt đến đại thần lực của Dạ-xoa.
BJT 580Sau khi nhìn thấy Dạ-xoa ấy, đức vua được hoan hỷ, phấn khởi, có tâm tư phấn chấn, có dáng vẻ rạng rỡ sau khi đã nhìn thấy nghiệp và quả thành tựu lớn lao được thấy rõ ràng, sau khi đã chứng thực bằng mắt.
BJT 581Sau khi đi đến gần, đức vua đã nói điều ấy với Dạ-xoa ấy rằng: “Trẫm sẽ dâng cúng vật thí đến các Sa-môn và Bà-la-môn. Và thậm chí đối với trẫm không có vật gì là không thể bố thí. Và này Dạ-xoa, ngươi có nhiều sự hỗ trợ đối với trẫm.”
BJT 582“Này vị Licchavi, bệ hạ đã dâng cúng các vật thí, có một phần là dành cho tôi, điều ấy không phải vô ích. Tôi đây sẽ thực hiện việc quen biết với bệ hạ, một hạng phi nhân cùng với một người nhân loại.”
BJT 583“Ngươi là số phận, là thân quyến, là sự nâng đỡ, và là người bạn của trẫm, rồi là vị Thiên nhân. Trẫm chắp tay lại khẩn cầu: ‘Này Dạ-xoa, trẫm muốn nhìn thấy ngươi thêm lần nữa.’”
BJT 584“Nếu bệ hạ không còn niềm tin, có dáng vẻ keo kiệt, có tâm bị lầm lạc, do chính điều ấy bệ hạ sẽ không đạt được việc nhìn thấy tôi nữa, và tôi sau khi nhìn thấy bệ hạ, cũng sẽ không trò chuyện.
BJT 585Nếu bệ hạ sẽ có sự tôn kính Giáo Pháp, ưa thích việc bố thí, có bản tính nhân hậu, là nguồn cung ứng (vật chất) đối với các Sa-môn và Bà-la-môn, như vậy bệ hạ sẽ đạt được việc nhìn thấy tôi.
BJT 586Và này bậc đáng kính, sau khi nhìn thấy bệ hạ, tôi sẽ trò chuyện. Và bệ hạ hãy nhanh chóng phóng thích người này khỏi cọc nhọn. Bắt đầu từ người này, chúng ta đã thực hiện việc quen biết, chúng ta hãy nghĩ là bởi lý do của người bị cắm vào cọc nhọn.
BJT 587Chúng ta đây đã thực hiện việc quen biết lẫn nhau. Và người bị cắm vào cọc nhọn này nên được phóng thích nhanh chóng. Trong khi thực hành các pháp một cách nghiêm chỉnh, người ấy có thể thoát khỏi địa ngục ấy.
BJT 588Nghiệp có thể được cảm thọ ở nơi khác. Bệ hạ hãy đi đến gặp vị Kappinaka, sau khi san sẻ (vật thực) với chính vị ấy vào lúc đúng thời, sau khi đã ngồi xuống gần bên, đối diện, bệ hạ hãy đích thân hỏi.
BJT 589Vị ấy sẽ chỉ bày cho bệ hạ về ý nghĩa ấy. Sau khi đi đến gần chính vị tỳ khưu ấy, (với tư cách) là người có mục đích tìm hiểu và không có tâm địa xấu xa, bệ hạ hãy hỏi. Vị ấy sẽ chỉ bày tất cả đúng theo sự nhận biết về Giáo Pháp điều mà bệ hạ đã được nghe và thậm chí còn chưa được nghe.”
BJT 590Tại nơi ấy, sau khi đã chuyện trò một cách kín đáo, sau khi đã thực hiện việc quen biết với hàng phi nhân, đức vua đã ra đi đến nơi có mặt các vi Licchavi, rồi đã nói với tập thể đang ngồi tụ tập rằng:
BJT 591“Này các khanh, hãy lắng nghe một lời nói của trẫm. Nếu trẫm có thể chọn điều ước muốn, trẫm sẽ chọn lấy điều lợi ích. Người đàn ông có hành động tàn bạo đã bị cắm ở cọc nhọn, đã bị áp dụng hành phạt, có vóc dáng của kẻ thuần phục.
BJT 592Cho đến bây giờ là hai mươi đêm kể từ lúc bị cắm (ở cọc nhọn) gã chẳng những không sống mà cũng chẳng bị chết. Giờ đây, trẫm sẽ phóng thích gã ấy; mong rằng tập thể chấp nhận theo suy nghĩ như vậy.”
BJT 593“Bệ hạ hãy nhanh chóng phóng thích gã này và gã khác. Ai có thể nói bệ hạ trong khi bệ hạ làm như thế ấy. Bệ hạ nhận thức như thế nào thì bệ hạ hãy thực hiện như thế ấy; tập thể thuận theo suy nghĩ như vậy.”
BJT 594Sau khi đi đến khu vực ấy, đức vua đã vô cùng nhanh chóng phóng thích người bị cắm ở cọc nhọn và đã nói với gã ấy rằng: “Này anh bạn, chớ sợ hãi,” rồi đã bàn giao cho các vị y sĩ.
BJT 595Và sau khi đã đi đến gặp vị Kappinaka, sau khi đã san sẻ (vật thực) đồng đều với vị ấy vào lúc đúng thời, sau khi đích thân ngồi xuống gần bên đối diện, vị Licchavi là người muốn biết lý do, ngay tại nơi ấy, đã hỏi vị ấy rằng:
BJT 596“Người đàn ông có hành động tàn bạo đã bị cắm ở cọc nhọn, đã bị áp dụng hành phạt, có vóc dáng của kẻ thuần phục. Cho đến bây giờ là hai mươi đêm kể từ lúc gã bị cắm (ở cọc nhọn) chẳng những không sống mà cũng chẳng bị chết.
BJT 597Được tha bổng, gã ấy giờ đây đã đi với trẫm bởi vì lời nói của Dạ-xoa này. Thưa ngài, phải chăng có lý do nào đó khiến cho gã ấy có thể khỏi đi đến địa ngục?
BJT 598Thưa ngài, nếu có nguyên do xin ngài hãy chỉ bày; chúng tôi sẽ lắng nghe lời nói về nguyên do đã được tin cậy. Phải chăng không có sự triệt tiêu các nghiệp ấy? Phải chăng có tình trạng chấm dứt ở đây mà không phải cảm thọ?”
BJT 599“Nếu người ấy thực hành các pháp một cách nghiêm chỉnh đêm ngày không xao lãng, người ấy có thể thoát khỏi địa ngục ấy. Nghiệp có thể được cảm thọ ở nơi khác.”
BJT 600“Vấn đề của gã đàn ông ấy đã được thấu hiểu. Thưa ngài, giờ đây xin ngài cũng hãy thương xót đến trẫm. Thưa vị có tuệ bao la, xin ngài hãy chỉ dạy, hãy giáo huấn trẫm để cho trẫm không phải đi địa ngục.”
BJT 601“Ngay ngày hôm nay, với tâm tịnh tín bệ hạ hãy đi đến nương nhờ đức Phật, Giáo Pháp, và Hội Chúng. Tương tự y như thế, bệ hạ hãy thọ trì năm điều học không bị bể vỡ hay sứt mẻ.
BJT 602Bệ hạ hãy lập tức kiêng chừa việc giết hại mạng sống, hãy xa lánh vật chưa được cho (việc trộm cắp) ở trên đời, chớ có việc uống chất say và nói lời dối trá, và hãy vui thích (chỉ) với người vợ của mình. Hãy thọ trì việc thiện đưa đến sự an lạc, được gắn liền với tám chi phần cao quý thánh thiện này.
BJT 603Với tâm ý tịnh tín, bệ hạ hãy dâng cúng y phục và vật thực, vật dụng, chỗ nằm ngồi, cơm ăn, nước uống, vật thực cứng, vải vóc và chỗ trú ngụ đến các vị có bản thể chính trực.
BJT 604Bệ hạ cũng hãy làm toại ý các vị tỳ khưu đầy đủ giới hạnh, đã xa lìa luyến ái, có sự học rộng, với cơm ăn và nước uống; phước báu luôn luôn tăng trưởng.
BJT 605Và trong khi thực hành các pháp một cách nghiêm chỉnh đêm ngày không xao lãng như thế, bệ hạ đây có thể thoát khỏi địa ngục ấy; nghiệp nếu có sẽ được cảm thọ ở nơi khác.”
BJT 606“Ngay ngày hôm nay, với tâm tịnh tín trẫm đi đến nương nhờ đức Phật, Giáo Pháp, và Hội Chúng. Tương tự y như thế, trẫm thọ trì năm điều học không bị bể vỡ hay sứt mẻ.
BJT 607Trẫm lập tức kiêng chừa việc giết hại mạng sống, xa lánh vật chưa được cho (việc trộm cắp) ở trên đời, không có việc uống chất say và không nói lời dối trá, trẫm vui thích (chỉ) riêng với người vợ của mình. Trẫm thọ trì việc thiện đưa đến sự an lạc, được gắn liền với tám chi phần cao quý thánh thiện này.”
BJT 608-609Được vui thích ở lời dạy của chư Phật, trẫm còn dâng cúng y phục và vật thực, vật dụng, chỗ nằm ngồi, cơm ăn, nước uống, vật thực cứng, vải vóc và chỗ trú ngụ đến các vị tỳ khưu đầy đủ giới hạnh, đã xa lìa luyến ái, có sự học rộng.”
BJT 610(Đức vua) Licchavi Ambasakkhara là như thế ấy, một vị cận sự nam khác nữa của thành Vesālī, có đức tin, nhu thuận, người làm công việc hỗ trợ, và từ đó đã hộ độ hội chúng tỳ khưu một cách nghiêm chỉnh.
BJT 611Còn người bị cắm ở cọc nhọn, sau khi hết bệnh, có sự chọn lựa, có sự an vui, đã đi đến việc xuất gia. Và nhờ vào vị tỳ khưu Kappinaka tối thượng, cả hai cũng đã chứng đạt các quả vị của Sa-môn.
BJT 612Việc thân cận với những bậc chân nhân như thế ấy, các bậc tốt lành có sự nhận thức, thì có quả báo lớn lao: Người bị cắm ở cọc nhọn đã chạm đến quả vị cao tột (A-la-hán), còn Ambasakkhara quả vị thấp nhất (Nhập Lưu).”
Chuyện Ngạ Quỷ của Ambasakkhara là thứ nhất.
Vesālī nāma nagaratthi vajjīnaṁ,
Tattha ahu licchavi ambasakkaro;
Disvāna petaṁ nagarassa bāhiraṁ,
Tattheva pucchittha taṁ kāraṇatthiko.
“Seyyā nisajjā nayimassa atthi,
Abhikkamo natthi paṭikkamo ca;
Asitapītakhāyitavatthabhogā,
Paricārikā sāpi imassa natthi.
Ye ñātakā diṭṭhasutā suhajjā,
Anukampakā yassa ahesuṁ pubbe;
Daṭṭhumpi te dāni na taṁ labhanti,
Virājitatto hi janena tena.
Na oggatattassa bhavanti mittā,
Jahanti mittā vikalaṁ viditvā;
Atthañca disvā parivārayanti,
Bahū mittā uggatattassa honti.
Nihīnatto sabbabhogehi kiccho,
Sammakkhito samparibhinnagatto;
Ussāvabindūva palimpamāno,
Ajja suve jīvitassūparodho.
Etādisaṁ uttamakicchappattaṁ,
Uttāsitaṁ pucimandassa sūle;
‘Atha tvaṁ kena vaṇṇena vadesi yakkha,
Jīva bho jīvitameva seyyo’”ti.
“Sālohito esa ahosi mayhaṁ,
Ahaṁ sarāmi purimāya jātiyā;
Disvā ca me kāruññamahosi rāja,
Mā pāpadhammo nirayaṁ patāyaṁ.
Ito cuto licchavi esa poso,
Sattussadaṁ nirayaṁ ghorarūpaṁ;
Upapajjati dukkaṭakammakārī,
Mahābhitāpaṁ kaṭukaṁ bhayānakaṁ.
Anekabhāgena guṇena seyyo,
Ayameva sūlo nirayena tena;
Ekantadukkhaṁ kaṭukaṁ bhayānakaṁ,
Ekantatibbaṁ nirayaṁ patāyaṁ.
Idañca sutvā vacanaṁ mameso,
Dukkhūpanīto vijaheyya pāṇaṁ;
Tasmā ahaṁ santike na bhaṇāmi,
Mā me kato jīvitassūparodho”.
“Aññāto eso purisassa attho,
Aññampi icchāmase pucchituṁ tuvaṁ;
Okāsakammaṁ sace no karosi,
Pucchāma taṁ no na ca kujjhitabban”ti.
“Addhā paṭiññā me tadā ahu,
Nācikkhanā appasannassa hoti;
Akāmā saddheyyavacoti katvā,
Pucchassu maṁ kāmaṁ yathā visayhan”ti.
“Yaṁ kiñcahaṁ cakkhunā passissāmi,
Sabbampi tāhaṁ abhisaddaheyyaṁ;
Disvāva taṁ nopi ce saddaheyyaṁ,
Kareyyāsi me yakkha niyassakamman”ti.
“Saccappaṭiññā tava mesā hotu,
Sutvāna dhammaṁ labha suppasādaṁ;
Aññatthiko no ca paduṭṭhacitto,
Yaṁ te sutaṁ asutañcāpi dhammaṁ;
Sabbampi akkhissaṁ yathā pajānanti”.
“Setena assena alaṅkatena,
Upayāsi sūlāvutakassa santike;
Yānaṁ idaṁ abbhutaṁ dassaneyyaṁ,
Kissetaṁ kammassa ayaṁ vipāko”ti.
“Vesāliyā nagarassa majjhe,
Cikkhallamagge narakaṁ ahosi;
Gosīsamekāhaṁ pasannacitto,
Setaṁ gahetvā narakasmiṁ nikkhipiṁ.
Etasmiṁ pādāni patiṭṭhapetvā,
Mayañca aññe ca atikkamimhā;
Yānaṁ idaṁ abbhutaṁ dassaneyyaṁ,
Tasseva kammassa ayaṁ vipāko”ti.
“Vaṇṇo ca te sabbadisā pabhāsati,
Gandho ca te sabbadisā pavāyati;
Yakkhiddhipattosi mahānubhāvo,
Naggo cāsi kissa ayaṁ vipāko”ti.
“Akkodhano niccapasannacitto,
Saṇhāhi vācāhi janaṁ upemi;
Tasseva kammassa ayaṁ vipāko,
Dibbo me vaṇṇo satataṁ pabhāsati.
Yasañca kittiñca dhamme ṭhitānaṁ,
Disvāna mantemi pasannacitto;
Tasseva kammassa ayaṁ vipāko,
Dibbo me gandho satataṁ pavāyati.
Sahāyānaṁ titthasmiṁ nhāyantānaṁ,
Thale gahetvā nidahissa dussaṁ;
Khiḍḍatthiko no ca paduṭṭhacitto,
Tenamhi naggo kasirā ca vuttī”ti.
“Yo kīḷamāno pakaroti pāpaṁ,
Tassedisaṁ kammavipākamāhu;
Akīḷamāno pana yo karoti,
Kiṁ tassa kammassa vipākamāhū”ti.
“Ye duṭṭhasaṅkappamanā manussā,
Kāyena vācāya ca saṅkiliṭṭhā;
Kāyassa bhedā abhisamparāyaṁ,
Asaṁsayaṁ te nirayaṁ upenti.
Apare pana sugatimāsamānā,
Dāne ratā saṅgahitattabhāvā;
Kāyassa bhedā abhisamparāyaṁ,
Asaṁsayaṁ te sugatiṁ upentī”ti.
“Taṁ kinti jāneyyamahaṁ avecca,
Kalyāṇapāpassa ayaṁ vipāko;
Kiṁ vāhaṁ disvā abhisaddaheyyaṁ,
Ko vāpi maṁ saddahāpeyya etan”ti.
“Disvā ca sutvā abhisaddahassu,
Kalyāṇapāpassa ayaṁ vipāko;
Kalyāṇapāpe ubhaye asante,
Siyā nu sattā sugatā duggatā vā.
No cettha kammāni kareyyuṁ maccā,
Kalyāṇapāpāni manussaloke;
Nāhesuṁ sattā sugatā duggatā vā,
Hīnā paṇītā ca manussaloke.
Yasmā ca kammāni karonti maccā,
Kalyāṇapāpāni manussaloke;
Tasmā hi sattā sugatā duggatā vā,
Hīnā paṇītā ca manussaloke.
Dvayajja kammānaṁ vipākamāhu,
Sukhassa dukkhassa ca vedanīyaṁ;
Tā devatāyo paricārayanti,
Paccanti bālā dvayataṁ apassino.
Na matthi kammāni sayaṅkatāni,
Datvāpi me natthi yo ādiseyya;
Acchādanaṁ sayanamathannapānaṁ,
Tenamhi naggo kasirā ca vuttī”ti.
“Siyā nu kho kāraṇaṁ kiñci yakkha,
Acchādanaṁ yena tuvaṁ labhetha;
Ācikkha me tvaṁ yadatthi hetu,
Saddhāyikaṁ hetuvaco suṇomā”ti.
“Kappitako nāma idhatthi bhikkhu,
Jhāyī susīlo arahā vimutto;
Guttindriyo saṁvutapātimokkho,
Sītibhūto uttamadiṭṭhipatto.
Sakhilo vadaññū suvaco sumukho,
Svāgamo suppaṭimuttako ca;
Puññassa khettaṁ araṇavihārī,
Devamanussānañca dakkhiṇeyyo.
Santo vidhūmo anīgho nirāso,
Mutto visallo amamo avaṅko;
Nirūpadhī sabbapapañcakhīṇo,
Tisso vijjā anuppatto jutimā.
Appaññāto disvāpi na ca sujāno,
Munīti naṁ vajjisu voharanti;
Jānanti taṁ yakkhabhūtā anejaṁ,
Kalyāṇadhammaṁ vicarantaṁ loke.
Tassa tuvaṁ ekayugaṁ duve vā,
Mamuddisitvāna sace dadetha;
Paṭiggahītāni ca tāni assu,
Mamañca passetha sannaddhadussan”ti.
“Kasmiṁ padese samaṇaṁ vasantaṁ,
Gantvāna passemu mayaṁ idāni;
Yo majja kaṅkhaṁ vicikicchitañca,
Diṭṭhīvisūkāni vinodayeyyā”ti.
“Eso nisinno kapinaccanāyaṁ,
Parivārito devatāhi bahūhi;
Dhammiṁ kathaṁ bhāsati saccanāmo,
Sakasmimācerake appamatto”ti.
“Tathāhaṁ kassāmi gantvā idāni,
Acchādayissaṁ samaṇaṁ yugena;
Paṭiggahitāni ca tāni assu,
Tuvañca passemu sannaddhadussan”ti.
“Mā akkhaṇe pabbajitaṁ upāgami,
Sādhu vo licchavi nesa dhammo;
Tato ca kāle upasaṅkamitvā,
Tattheva passāhi raho nisinnan”ti.
Tathāti vatvā agamāsi tattha,
Parivārito dāsagaṇena licchavi;
So taṁ nagaraṁ upasaṅkamitvā,
Vāsūpagacchittha sake nivesane.
Tato ca kāle gihikiccāni katvā,
Nhatvā pivitvā ca khaṇaṁ labhitvā;
Viceyya peḷāto ca yugāni aṭṭha,
Gāhāpayī dāsagaṇena licchavi.
So taṁ padesaṁ upasaṅkamitvā,
Taṁ addasa samaṇaṁ santacittaṁ;
Paṭikkantaṁ gocarato nivattaṁ,
Sītibhūtaṁ rukkhamūle nisinnaṁ.
Tamenamavoca upasaṅkamitvā,
Appābādhaṁ phāsuvihārañca pucchi;
“Vesāliyaṁ licchavihaṁ bhadante,
Jānanti maṁ licchavi ambasakkaro.
Imāni me aṭṭha yugā subhāni,
Paṭigaṇha bhante padadāmi tuyhaṁ;
Teneva atthena idhāgatosmi,
Yathā ahaṁ attamano bhaveyyan”ti.
“Dūratova samaṇabrāhmaṇā ca,
Nivesanaṁ te parivajjayanti;
Pattāni bhijjanti ca te nivesane,
Saṅghāṭiyo cāpi vidālayanti.
Athāpare pādakuṭhārikāhi,
Avaṁsirā samaṇā pātayanti;
Etādisaṁ pabbajitā vihesaṁ,
Tayā kataṁ samaṇā pāpuṇanti.
Tiṇena telampi na tvaṁ adāsi,
Muḷhassa maggampi na pāvadāsi;
Andhassa daṇḍaṁ sayamādiyāsi,
Etādiso kadariyo asaṁvuto tuvaṁ;
Atha tvaṁ kena vaṇṇena kimeva disvā,
Amhehi saha saṁvibhāgaṁ karosī”ti.
“Paccemi bhante yaṁ tvaṁ vadesi,
Vihesayiṁ samaṇe brāhmaṇe ca;
Khiḍḍatthiko no ca paduṭṭhacitto,
Etampi me dukkaṭameva bhante.
Khiḍḍāya yakkho pasavitvā pāpaṁ,
Vedeti dukkhaṁ asamattabhogī;
Daharo yuvā nagganiyassa bhāgī,
Kiṁ su tato dukkhatarassa hoti.
Taṁ disvā saṁvegamalatthaṁ bhante,
Tappaccayā vāpi dadāmi dānaṁ;
Paṭigaṇha bhante vatthayugāni aṭṭha,
Yakkhassimā gacchantu dakkhiṇāyo”ti.
“Addhā hi dānaṁ bahudhā pasatthaṁ,
Dadato ca te akkhayadhammamatthu;
Paṭigaṇhāmi te vatthayugāni aṭṭha,
Yakkhassimā gacchantu dakkhiṇāyo”ti.
Tato hi so ācamayitvā licchavi,
Therassa datvāna yugāni aṭṭha;
Paṭiggahitāni ca tāni assu,
Yakkhañca passetha sannaddhadussaṁ.
Tamaddasā candanasāralittaṁ,
Ājaññamārūḷhamuḷāravaṇṇaṁ;
Alaṅkataṁ sādhunivatthadussaṁ,
Parivāritaṁ yakkhamahiddhipattaṁ.
So taṁ disvā attamano udaggo,
Pahaṭṭhacitto ca subhaggarūpo;
Kammañca disvāna mahāvipākaṁ,
Sandiṭṭhikaṁ cakkhunā sacchikatvā.
Tamenamavoca upasaṅkamitvā,
“Dassāmi dānaṁ samaṇabrāhmaṇānaṁ;
Na cāpi me kiñci adeyyamatthi,
Tuvañca me yakkha bahūpakāro”ti.
“Tuvañca me licchavi ekadesaṁ,
Adāsi dānāni amoghametaṁ;
Svāhaṁ karissāmi tayāva sakkhiṁ,
Amānuso mānusakena saddhin”ti.
“Gatī ca bandhū ca parāyaṇañca,
Mitto mamāsi atha devatā me;
Yācāmi taṁ pañjaliko bhavitvā,
Icchāmi taṁ yakkha punāpi daṭṭhun”ti.
“Sace tuvaṁ assaddho bhavissasi,
Kadariyarūpo vippaṭipannacitto;
Tvaṁ neva maṁ lacchasi dassanāya,
Disvā ca taṁ nopi ca ālapissaṁ.
Sace pana tvaṁ bhavissasi dhammagāravo,
Dāne rato saṅgahitattabhāvo;
Opānabhūto samaṇabrāhmaṇānaṁ,
Evaṁ mamaṁ lacchasi dassanāya.
Disvā ca taṁ ālapissaṁ bhadante,
Imañca sūlato lahuṁ pamuñca;
Yatonidānaṁ akarimha sakkhiṁ,
Maññāmi sūlāvutakassa kāraṇā.
Te aññamaññaṁ akarimha sakkhiṁ,
Ayañca sūlato lahuṁ pamutto;
Sakkacca dhammāni samācaranto,
Mucceyya so nirayā ca tamhā;
Kammaṁ siyā aññatra vedanīyaṁ.
Kappitakañca upasaṅkamitvā,
Teneva saha saṁvibhajitvā kāle;
Sayaṁ mukhenūpanisajja puccha,
So te akkhissati etamatthaṁ.
Tameva bhikkhuṁ upasaṅkamitvā,
Pucchassu aññatthiko no ca paduṭṭhacitto;
So te sutaṁ asutañcāpi dhammaṁ,
Sabbampi akkhissati yathā pajānan”ti.
So tattha rahassaṁ samullapitvā,
Sakkhiṁ karitvāna amānusena;
Pakkāmi so licchavīnaṁ sakāsaṁ,
Atha bravi parisaṁ sannisinnaṁ.
“Suṇantu bhonto mama ekavākyaṁ,
Varaṁ varissaṁ labhissāmi atthaṁ;
Sūlāvuto puriso luddakammo,
Paṇihitadaṇḍo anusattarūpo.
Ettāvatā vīsatirattimattā,
Yato āvuto neva jīvati na mato;
Tāhaṁ mocayissāmi dāni,
Yathāmatiṁ anujānātu saṅgho”ti.
“Etañca aññañca lahuṁ pamuñca,
Ko taṁ vadetha tathā karontaṁ;
Yathā pajānāsi tathā karohi,
Yathāmatiṁ anujānāti saṅgho”ti.
So taṁ padesaṁ upasaṅkamitvā,
Sūlāvutaṁ mocayi khippameva;
“Mā bhāyi sammā”ti ca taṁ avoca,
Tikicchakānañca upaṭṭhapesi.
“Kappitakañca upasaṅkamitvā,
Teneva saha saṁvibhajitvā kāle;
Sayaṁ mukhenūpanisajja licchavi,
Tatheva pucchittha naṁ kāraṇatthiko.
Sūlāvuto puriso luddakammo,
Paṇihitadaṇḍo anusattarūpo;
Ettāvatā vīsatirattimattā,
Yato āvuto neva jīvati na mato.
So mocito gantvā mayā idāni,
Etassa yakkhassa vaco hi bhante;
Siyā nu kho kāraṇaṁ kiñcideva,
Yena so nirayaṁ no vajeyya.
Ācikkha bhante yadi atthi hetu,
Saddhāyikaṁ hetuvaco suṇoma;
Na tesaṁ kammānaṁ vināsamatthi,
Avedayitvā idha byantibhāvo”ti.
“Sace sa dhammāni samācareyya,
Sakkacca rattindivamappamatto;
Mucceyya so nirayā ca tamhā,
Kammaṁ siyā aññatra vedanīyan”ti.
“Aññāto eso purisassa attho,
Mamampi dāni anukampa bhante;
Anusāsa maṁ ovada bhūripañña,
Yathā ahaṁ no nirayaṁ vajeyyan”ti.
“Ajjeva buddhaṁ saraṇaṁ upehi,
Dhammañca saṅghañca pasannacitto;
Tatheva sikkhāya padāni pañca,
Akhaṇḍaphullāni samādiyassu.
Pāṇātipātā viramassu khippaṁ,
Loke adinnaṁ parivajjayassu;
Amajjapo mā ca musā abhāṇī,
Sakena dārena ca hohi tuṭṭho;
Imañca ariyaṁ aṭṭhaṅgavarenupetaṁ,
Samādiyāhi kusalaṁ sukhudrayaṁ.
Cīvaraṁ piṇḍapātañca,
paccayaṁ sayanāsanaṁ;
Annaṁ pānaṁ khādanīyaṁ,
vatthasenāsanāni ca;
Dadāhi ujubhūtesu,
vippasannena cetasā.
Bhikkhūpi sīlasampanne,
vītarāge bahussute;
Tappehi annapānena,
sadā puññaṁ pavaḍḍhati.
Evañca dhammāni samācaranto,
Sakkacca rattindivamappamatto;
Muñca tuvaṁ nirayā ca tamhā,
Kammaṁ siyā aññatra vedanīyan”ti.
“Ajjeva buddhaṁ saraṇaṁ upemi,
Dhammañca saṅghañca pasannacitto;
Tatheva sikkhāya padāni pañca,
Akhaṇḍaphullāni samādiyāmi.
Pāṇātipātā viramāmi khippaṁ,
Loke adinnaṁ parivajjayāmi;
Amajjapo no ca musā bhaṇāmi,
Sakena dārena ca homi tuṭṭho;
Imañca ariyaṁ aṭṭhaṅgavarenupetaṁ,
Samādiyāmi kusalaṁ sukhudrayaṁ.
Cīvaraṁ piṇḍapātañca,
paccayaṁ sayanāsanaṁ;
Annaṁ pānaṁ khādanīyaṁ,
vatthasenāsanāni ca.
Bhikkhū ca sīlasampanne,
vītarāge bahussute;
Dadāmi na vikampāmi,
buddhānaṁ sāsane rato”ti.
Etādiso licchavi ambasakkaro,
Vesāliyaṁ aññataro upāsako;
Saddho mudū kārakaro ca bhikkhu,
Saṅghañca sakkacca tadā upaṭṭhahi.
Sūlāvuto ca arogo hutvā,
Serī sukhī pabbajjaṁ upāgami;
Bhikkhuñca āgamma kappitakuttamaṁ,
Ubhopi sāmaññaphalāni ajjhaguṁ.
Etādisā sappurisāna sevanā,
Mahapphalā hoti sataṁ vijānataṁ;
Sūlāvuto aggaphalaṁ aphassayi,
Phalaṁ kaniṭṭhaṁ pana ambasakkaroti.
Ambasakkarapetavatthu paṭhamaṁ.