BJT 487“Đang tuổi thanh xuân, được tôn vinh bởi các người nam người nữ, ngươi chói sáng với các loại dục lạc vào ban đêm, và chịu đựng khổ hình vào ban ngày; ngươi đã làm việc gì trong kiếp sống trước dây?”
BJT 488“Ở thành Rājagaha đáng yêu, nơi Giribbaja xinh xắn, tôi trước đây đã là người thợ săn tàn bạo, có bàn tay vấy máu.
BJT 489Có tâm ý độc ác đối với các loài sinh vật không gây hại, đối với các chúng sanh thông thường, khi ấy tôi đã đi đó đây, vô cùng tàn bạo, thích thú trong việc hãm hại kẻ khác, không tự kiềm chế.
BJT 490Tôi đây có người bạn tâm huyết là nam cư sĩ có đức tin. Trong khi thương xót đến tôi, vị ấy cũng đã cản ngăn lần này đến lần khác:
BJT 491‘Này bạn thân, bạn chớ tạo nghiệp ác, chớ đi đến cảnh giới khổ đau. Nếu bạn mong muốn sự an lạc sau khi chết, bạn hãy lánh xa việc giết hại mạng sống, việc không tự kiềm chế.’
BJT 492Sau khi lắng nghe lời nói của vị ấy, người có lòng mong mỏi hạnh phúc, có lòng thương tưởng đến điều lợi ích (cho tôi), (tuy nhiên) là người thích thú việc ác trong thời gian dài, không có sự sáng suốt, tôi đã không làm theo toàn bộ lời khuyên bảo.
BJT 493Vị ấy, có trí thông minh bao la, vì lòng thương xót đã quy định thêm cho tôi về sự tự kiềm chế: ‘Nếu bạn giết hại các sanh mạng vào ban ngày, thì bạn hãy có sự tự kiềm chế vào ban đêm.’
BJT 494Tôi đây, sau khi giết chết các mạng sống vào ban ngày, đã lánh xa, đã tự kiềm chế vào ban đêm. (Giờ đây) vào ban đêm tôi hoàn toàn hài lòng, vào ban ngày tôi đi đến khổ cảnh, bị nhai nghiến.
BJT 495Do nghiệp thiện ấy, tôi hưởng thụ (dục lạc) không thuộc loài người vào ban đêm, vào ban ngày các con chó vừa mới bị đánh đập chạy đến gần (tôi) để nhai nghiến khắp mọi chỗ.
BJT 496Và những vị nào thường xuyên đeo đuổi, luôn luôn gắn bó vào lời dạy của đấng Thiện Thệ, tôi nghĩ rằng những người ấy chứng đắc trọn vẹn chính trạng thái Bất Tử, vị thế không còn tạo tác.”
Chuyện Ngạ Quỷ Người Thợ Săn Thú là thứ bảy.
“Naranāripurakkhato yuvā,
Rajanīyehi kāmaguṇehi sobhasi;
Divasaṁ anubhosi kāraṇaṁ,
Kimakāsi purimāya jātiyā”ti.
“Ahaṁ rājagahe ramme,
ramaṇīye giribbaje;
Migaluddo pure āsiṁ,
lohitapāṇi dāruṇo.
Avirodhakaresu pāṇisu,
Puthusattesu paduṭṭhamānaso;
Vicariṁ atidāruṇo sadā,
Parahiṁsāya rato asaññato.
Tassa me sahāyo suhadayo,
Saddho āsi upāsako;
Sopi maṁ anukampanto,
Nivāresi punappunaṁ.
‘Mākāsi pāpakaṁ kammaṁ,
Mā tāta duggatiṁ agā;
Sace icchasi pecca sukhaṁ,
Virama pāṇavadhā asaṁyamā’.
Tassāhaṁ vacanaṁ sutvā,
Sukhakāmassa hitānukampino;
Nākāsiṁ sakalānusāsaniṁ,
Cirapāpābhirato abuddhimā.
So maṁ puna bhūrisumedhaso,
Anukampāya saṁyame nivesayi;
‘Sace divā hanasi pāṇino,
Atha te rattiṁ bhavatu saṁyamo’.
Svāhaṁ divā hanitvā pāṇino,
Virato rattimahosi saññato;
Rattāhaṁ paricāremi,
Divā khajjāmi duggato.
Tassa kammassa kusalassa,
Anubhomi rattiṁ amānusiṁ;
Divā paṭihatāva kukkurā,
Upadhāvanti samantā khādituṁ.
Ye ca te satatānuyogino,
Dhuvaṁ payuttā sugatassa sāsane;
Maññāmi te amatameva kevalaṁ,
Adhigacchanti padaṁ asaṅkhatan”ti.
Migaluddakapetavatthu sattamaṁ.
Man:
You are young and surrounded by male and female deities. You look very happy with all the pleasures that you have. But in the daytime, you experience very painful feelings. What did you do in your previous life?
Ghost:
I was a cruel deer hunter living in the city of Rajagaha. I was always looking for something to kill. I did not have any pity on innocent beings.
I had a friend who was very compassionate, a disciple of the Supreme Buddha. He always said, “Do not do evil deeds my friend; do not be reborn in a bad world. If you wish to go to a happy world after death, then stop killing living beings.”
I did not listen to his advice because I took pleasure in killing and was very foolish.
My friend again advised me saying “If you must kill in the daytime, then please at least stop killing at night.”
So I killed living beings in the daytime and stopped during the night.
That is why I enjoy heavenly pleasures at night, but in the day, dogs come and tear off my flesh.
Even though I only restrained from killing at night, I still gained good results from it. Now I imagine the disciples of the Supreme Buddha who practice the Dhamma diligently throughout their lives surely will attain the supreme bliss of Nibbana.
BJT 487“Đang tuổi thanh xuân, được tôn vinh bởi các người nam người nữ, ngươi chói sáng với các loại dục lạc vào ban đêm, và chịu đựng khổ hình vào ban ngày; ngươi đã làm việc gì trong kiếp sống trước dây?”
BJT 488“Ở thành Rājagaha đáng yêu, nơi Giribbaja xinh xắn, tôi trước đây đã là người thợ săn tàn bạo, có bàn tay vấy máu.
BJT 489Có tâm ý độc ác đối với các loài sinh vật không gây hại, đối với các chúng sanh thông thường, khi ấy tôi đã đi đó đây, vô cùng tàn bạo, thích thú trong việc hãm hại kẻ khác, không tự kiềm chế.
BJT 490Tôi đây có người bạn tâm huyết là nam cư sĩ có đức tin. Trong khi thương xót đến tôi, vị ấy cũng đã cản ngăn lần này đến lần khác:
BJT 491‘Này bạn thân, bạn chớ tạo nghiệp ác, chớ đi đến cảnh giới khổ đau. Nếu bạn mong muốn sự an lạc sau khi chết, bạn hãy lánh xa việc giết hại mạng sống, việc không tự kiềm chế.’
BJT 492Sau khi lắng nghe lời nói của vị ấy, người có lòng mong mỏi hạnh phúc, có lòng thương tưởng đến điều lợi ích (cho tôi), (tuy nhiên) là người thích thú việc ác trong thời gian dài, không có sự sáng suốt, tôi đã không làm theo toàn bộ lời khuyên bảo.
BJT 493Vị ấy, có trí thông minh bao la, vì lòng thương xót đã quy định thêm cho tôi về sự tự kiềm chế: ‘Nếu bạn giết hại các sanh mạng vào ban ngày, thì bạn hãy có sự tự kiềm chế vào ban đêm.’
BJT 494Tôi đây, sau khi giết chết các mạng sống vào ban ngày, đã lánh xa, đã tự kiềm chế vào ban đêm. (Giờ đây) vào ban đêm tôi hoàn toàn hài lòng, vào ban ngày tôi đi đến khổ cảnh, bị nhai nghiến.
BJT 495Do nghiệp thiện ấy, tôi hưởng thụ (dục lạc) không thuộc loài người vào ban đêm, vào ban ngày các con chó vừa mới bị đánh đập chạy đến gần (tôi) để nhai nghiến khắp mọi chỗ.
BJT 496Và những vị nào thường xuyên đeo đuổi, luôn luôn gắn bó vào lời dạy của đấng Thiện Thệ, tôi nghĩ rằng những người ấy chứng đắc trọn vẹn chính trạng thái Bất Tử, vị thế không còn tạo tác.”
Chuyện Ngạ Quỷ Người Thợ Săn Thú là thứ bảy.
“Naranāripurakkhato yuvā,
Rajanīyehi kāmaguṇehi sobhasi;
Divasaṁ anubhosi kāraṇaṁ,
Kimakāsi purimāya jātiyā”ti.
“Ahaṁ rājagahe ramme,
ramaṇīye giribbaje;
Migaluddo pure āsiṁ,
lohitapāṇi dāruṇo.
Avirodhakaresu pāṇisu,
Puthusattesu paduṭṭhamānaso;
Vicariṁ atidāruṇo sadā,
Parahiṁsāya rato asaññato.
Tassa me sahāyo suhadayo,
Saddho āsi upāsako;
Sopi maṁ anukampanto,
Nivāresi punappunaṁ.
‘Mākāsi pāpakaṁ kammaṁ,
Mā tāta duggatiṁ agā;
Sace icchasi pecca sukhaṁ,
Virama pāṇavadhā asaṁyamā’.
Tassāhaṁ vacanaṁ sutvā,
Sukhakāmassa hitānukampino;
Nākāsiṁ sakalānusāsaniṁ,
Cirapāpābhirato abuddhimā.
So maṁ puna bhūrisumedhaso,
Anukampāya saṁyame nivesayi;
‘Sace divā hanasi pāṇino,
Atha te rattiṁ bhavatu saṁyamo’.
Svāhaṁ divā hanitvā pāṇino,
Virato rattimahosi saññato;
Rattāhaṁ paricāremi,
Divā khajjāmi duggato.
Tassa kammassa kusalassa,
Anubhomi rattiṁ amānusiṁ;
Divā paṭihatāva kukkurā,
Upadhāvanti samantā khādituṁ.
Ye ca te satatānuyogino,
Dhuvaṁ payuttā sugatassa sāsane;
Maññāmi te amatameva kevalaṁ,
Adhigacchanti padaṁ asaṅkhatan”ti.
Migaluddakapetavatthu sattamaṁ.