BJT 95“Này cô nàng lòi cả xương sườn, gầy guộc, nàng là ai mà đứng ở nơi đây, lõa lồ, có vóc dáng xấu xí, ốm o, nổi đầy gân?”
BJT 96“Thưa ngài đại đức, con là nữ ngạ quỷ bị đọa đày, thuộc cõi Dạ-ma. Sau khi làm nghiệp ác, từ nơi đây con đã đi đến thế giới ngạ quỷ.”
BJT 97“Vậy ác hạnh gì đã được làm, bởi thân bởi khẩu bởi ý? Do quả thành tựu của nghiệp gì mà từ nơi đây nàng đã đi đến thế giới ngạ quỷ?”
BJT 98“Thưa ngài, cha và mẹ hoặc luôn cả các thân quyến đã không có lòng thương tưởng đến con, họ không khuyến khích con rằng: ‘Con hãy dâng vật thí đến các Sa-môn và Bà-la-môn với tâm tịnh tín.’
BJT 99Từ đây cho đến năm trăm năm, con lang thang, lõa lồ như thế này, trong khi bị ngấu nghiến bởi cơn đói và cơn khát; điều này là quả báo của nghiệp ác của con.
BJT 100Thưa chủ nhân, con xin đảnh lễ ngài với tâm tịnh tín. Thưa bậc sáng trí, có đại oai lực, xin ngài hãy thương xót con. Xin ngài hãy bố thí bất cứ vật gì rồi chỉ định việc ấy là dành cho con. Thưa ngài đại đức, xin ngài hãy giải thoát con khỏi cảnh giới khổ đau.”
BJT 101Sau khi đáp lại rằng: ‘Tốt lắm,’ vị Sāriputta ấy, bậc có lòng thương tưởng, đã dâng đến các vị tỳ khưu vắt cơm, mảnh vải cỡ bằng bàn tay, và tô nước uống, rồi đã chỉ định sự cúng dường là dành cho nữ ngạ quỷ ấy.
BJT 102Khi được chỉ định thì quả thành tựu đã được sanh lên ngay lập tức: vật thực, y phục, nước uống; quả báo này là do sự cúng dường.
BJT 103Do đó, nàng ấy (nữ ngạ quỷ) trở nên sạch sẽ, có y phục tinh khiết, có sự trang phục bằng vải hạng nhất của xứ Kāsī, có các đồ trang sức và các tấm vải nhiều màu sắc, đã đi đến gặp vị Sāriputta.
BJT 104“Hỡi nàng tiên, nàng đứng, với màu da nổi bật, khiến cho khắp các phương sáng rực lên, ví như ngôi sao osadhī.
BJT 105Do điều gì nàng có được màu da như thế ấy? Do điều gì mà (sự việc) được thành tựu cho nàng ở nơi đây? Và (do điều gì mà) các sự hưởng thụ thích ý sanh lên cho nàng?
BJT 106Hỡi nàng tiên có đại oai lực, ta hỏi nàng: ‘Khi là con người, nàng đã làm việc phước thiện gì? Do điều gì mà nàng có oai lực được rực sáng như vầy, và màu da của nàng chiếu sáng khắp các phương?’”
BJT 107“Bậc hiền trí, đấng bi mẫn ở thế gian, đã nhìn thấy con đây bị khổ sở, vàng vọt, ốm o, đói ăn, lõa lồ, có làn da nứt nẻ.
BJT 108Ngài đã dâng đến các vị tỳ khưu vắt cơm, mảnh vải cỡ bằng bàn tay, và tô nước uống, rồi đã chỉ định sự cúng dường là dành cho con.
BJT 109Xin ngài hãy nhìn xem quả báo của vắt cơm: Con thọ dụng bữa ăn có nhiều hương vị trong một ngàn năm, là người có dục lạc theo như ước muốn.
BJT 110-111Xin ngài hãy nhìn xem quả thành tựu của mảnh vải cỡ bằng bàn tay là như thế nào: Thưa ngài, các vải mặc ở lãnh thổ của đức vua Nanda nhiều chừng nào, thì các vải vóc và các y phục bằng tơ lụa, sợi len, sợi lanh, và bông vải của con còn nhiều hơn thế ấy.
BJT 112Chúng dư thừa và có trị giá cao, hơn nữa chúng treo lủng lẳng ở không trung; con đây chỉ khoác vào cái nào thích ý.
BJT 113Xin ngài hãy nhìn xem quả thành tựu của tô nước uống là như thế nào: Có các hồ sen sâu thẳm, hình chữ nhật, đã khéo được hóa hiện ra.
BJT 114Có nước trong, có những bến bãi xinh đẹp, mát mẻ, có mùi thơm, được che phủ bởi nhiều loại sen hồng và sen xanh, tràn ngập nước và phấn hoa.
BJT 115Con đây hưởng lạc, nô đùa, vui sướng, không có sự sợ hãi từ bất cứ đâu. Thưa ngài, con đi đến để đảnh lễ bậc hiền trí, đấng bi mẫn ở thế gian.”
Chuyện Ngạ Quỷ Saṁsāramocaka là thứ nhất.
“Naggā dubbaṇṇarūpāsi,
kisā dhamanisanthatā;
Upphāsulike kisike,
kā nu tvaṁ idha tiṭṭhasī”ti.
“Ahaṁ bhadante petīmhi,
duggatā yamalokikā;
Pāpakammaṁ karitvāna,
petalokaṁ ito gatā”ti.
“Kiṁ nu kāyena vācāya,
manasā dukkaṭaṁ kataṁ;
Kissa kammavipākena,
petalokaṁ ito gatā”ti.
“Anukampakā mayhaṁ nāhesuṁ bhante,
Pitā ca mātā athavāpi ñātakā;
Ye maṁ niyojeyyuṁ dadāhi dānaṁ,
Pasannacittā samaṇabrāhmaṇānaṁ.
Ito ahaṁ vassasatāni pañca,
Yaṁ evarūpā vicarāmi naggā;
Khudāya taṇhāya ca khajjamānā,
Pāpassa kammassa phalaṁ mamedaṁ.
Vandāmi taṁ ayya pasannacittā,
Anukampa maṁ vīra mahānubhāva;
Datvā ca me ādisa yaṁ hi kiñci,
Mocehi maṁ duggatiyā bhadante”ti.
Sādhūti so paṭissutvā,
sāriputtonukampako;
Bhikkhūnaṁ ālopaṁ datvā,
pāṇimattañca coḷakaṁ;
Thālakassa ca pānīyaṁ,
tassā dakkhiṇamādisi.
Samanantarānuddiṭṭhe,
vipāko udapajjatha;
Bhojanacchādanapānīyaṁ,
dakkhiṇāya idaṁ phalaṁ.
Tato suddhā sucivasanā,
kāsikuttamadhārinī;
Vicittavatthābharaṇā,
sāriputtaṁ upasaṅkami.
“Abhikkantena vaṇṇena,
yā tvaṁ tiṭṭhasi devate;
Obhāsentī disā sabbā,
osadhī viya tārakā.
Kena te tādiso vaṇṇo,
kena te idha mijjhati;
Uppajjanti ca te bhogā,
ye keci manaso piyā.
Pucchāmi taṁ devi mahānubhāve,
Manussabhūtā kimakāsi puññaṁ;
Kenāsi evaṁ jalitānubhāvā,
Vaṇṇo ca te sabbadisā pabhāsatī”ti.
“Uppaṇḍukiṁ kisaṁ chātaṁ,
naggaṁ sampatitacchaviṁ;
Muni kāruṇiko loke,
taṁ maṁ addakkhi duggataṁ.
Bhikkhūnaṁ ālopaṁ datvā,
pāṇimattañca coḷakaṁ;
Thālakassa ca pānīyaṁ,
mama dakkhiṇamādisi.
Ālopassa phalaṁ passa,
bhattaṁ vassasataṁ dasa;
Bhuñjāmi kāmakāminī,
anekarasabyañjanaṁ.
Pāṇimattassa coḷassa,
vipākaṁ passa yādisaṁ;
Yāvatā nandarājassa,
vijitasmiṁ paṭicchadā.
Tato bahutarā bhante,
vatthānacchādanāni me;
Koseyyakambalīyāni,
khomakappāsikāni ca.
Vipulā ca mahagghā ca,
tepākāsevalambare;
Sāhaṁ taṁ paridahāmi,
yaṁ yaṁ hi manaso piyaṁ.
Thālakassa ca pānīyaṁ,
vipākaṁ passa yādisaṁ;
Gambhīrā caturassā ca,
pokkharañño sunimmitā.
Setodakā suppatitthā,
sītā appaṭigandhiyā;
Padumuppalasañchannā,
vārikiñjakkhapūritā.
Sāhaṁ ramāmi kīḷāmi,
modāmi akutobhayā;
Muniṁ kāruṇikaṁ loke,
bhante vanditumāgatā”ti.
Saṁsāramocakapetivatthu paṭhamaṁ.
Sariputta Bhante sees a female ghost and asks,
Sariputta Bhante:
You are naked and very ugly, your veins are popping out. You thin person, with your ribs sticking out, who are you?
Ghost:
I am a ghost, sir. I am suffering in the world of Yama. I have done an evil deed as a human and have been reborn in the world of ghosts.
Sariputta Bhante:
Now what evil deed have you done by body, speech, or mind for you to have been born in the world of ghosts?
Ghost:
Nobody had sympathy for me. Neither my father, mother, nor relatives encouraged me to give alms to monks. Therefore, I did not give alms. I must wander around the world naked and always hungry for five hundred years. This is the result of my evil deed.
I pay respect to you good sir with a very happy mind. Please have compassion towards me, oh noble monk. Please offer something and share the merits with me. Please release me from this state of misery.
Sariputta Bhante:
Very well.
Out of kindness Sariputta Bhante offered a handful of rice, a piece of cloth and a bowl of water to monks. He then shared the merits with the female ghost. The result of that merit was received by the female ghost immediately in the form of food, drink, and clothing. She became clean and fresh with the cleanest and finest clothes. She approached Sariputta Bhante.
Sariputta Bhante:
Who are you, with heavenly beauty, shining in all directions like a star? Why are you so beautiful? What merit have you collected when you were a human?
Ghost:
Sariputta Bhante, you were very compassionate when you saw me in a miserable state: thin, starved, and naked with rough skin. You offered the monks a handful of rice, a piece of cloth, and a bowl of water then dedicated the merit to me.
Now look at the result of offering a handful of rice. For a thousand years I will eat delicious food whenever I want.
Look at the result of offering a piece of cloth. I have as many clothes as King Nanda. Still I have more clothes than that, made from silk, wool, linen, and cotton. There are lots of expensive clothes, so many they even hang from the sky. I can wear whatever I want.
Look at the result of offering a bowl of water. I have gained a beautiful pond with clear and cool water. It is surrounded by fine sand and there are fragrant lotuses and lilies with flower petals floating in the water. I am very happy playing in the water. I am not afraid of anything. You were very compassionate to me Bhante. I have come to worship you.
BJT 95“Này cô nàng lòi cả xương sườn, gầy guộc, nàng là ai mà đứng ở nơi đây, lõa lồ, có vóc dáng xấu xí, ốm o, nổi đầy gân?”
BJT 96“Thưa ngài đại đức, con là nữ ngạ quỷ bị đọa đày, thuộc cõi Dạ-ma. Sau khi làm nghiệp ác, từ nơi đây con đã đi đến thế giới ngạ quỷ.”
BJT 97“Vậy ác hạnh gì đã được làm, bởi thân bởi khẩu bởi ý? Do quả thành tựu của nghiệp gì mà từ nơi đây nàng đã đi đến thế giới ngạ quỷ?”
BJT 98“Thưa ngài, cha và mẹ hoặc luôn cả các thân quyến đã không có lòng thương tưởng đến con, họ không khuyến khích con rằng: ‘Con hãy dâng vật thí đến các Sa-môn và Bà-la-môn với tâm tịnh tín.’
BJT 99Từ đây cho đến năm trăm năm, con lang thang, lõa lồ như thế này, trong khi bị ngấu nghiến bởi cơn đói và cơn khát; điều này là quả báo của nghiệp ác của con.
BJT 100Thưa chủ nhân, con xin đảnh lễ ngài với tâm tịnh tín. Thưa bậc sáng trí, có đại oai lực, xin ngài hãy thương xót con. Xin ngài hãy bố thí bất cứ vật gì rồi chỉ định việc ấy là dành cho con. Thưa ngài đại đức, xin ngài hãy giải thoát con khỏi cảnh giới khổ đau.”
BJT 101Sau khi đáp lại rằng: ‘Tốt lắm,’ vị Sāriputta ấy, bậc có lòng thương tưởng, đã dâng đến các vị tỳ khưu vắt cơm, mảnh vải cỡ bằng bàn tay, và tô nước uống, rồi đã chỉ định sự cúng dường là dành cho nữ ngạ quỷ ấy.
BJT 102Khi được chỉ định thì quả thành tựu đã được sanh lên ngay lập tức: vật thực, y phục, nước uống; quả báo này là do sự cúng dường.
BJT 103Do đó, nàng ấy (nữ ngạ quỷ) trở nên sạch sẽ, có y phục tinh khiết, có sự trang phục bằng vải hạng nhất của xứ Kāsī, có các đồ trang sức và các tấm vải nhiều màu sắc, đã đi đến gặp vị Sāriputta.
BJT 104“Hỡi nàng tiên, nàng đứng, với màu da nổi bật, khiến cho khắp các phương sáng rực lên, ví như ngôi sao osadhī.
BJT 105Do điều gì nàng có được màu da như thế ấy? Do điều gì mà (sự việc) được thành tựu cho nàng ở nơi đây? Và (do điều gì mà) các sự hưởng thụ thích ý sanh lên cho nàng?
BJT 106Hỡi nàng tiên có đại oai lực, ta hỏi nàng: ‘Khi là con người, nàng đã làm việc phước thiện gì? Do điều gì mà nàng có oai lực được rực sáng như vầy, và màu da của nàng chiếu sáng khắp các phương?’”
BJT 107“Bậc hiền trí, đấng bi mẫn ở thế gian, đã nhìn thấy con đây bị khổ sở, vàng vọt, ốm o, đói ăn, lõa lồ, có làn da nứt nẻ.
BJT 108Ngài đã dâng đến các vị tỳ khưu vắt cơm, mảnh vải cỡ bằng bàn tay, và tô nước uống, rồi đã chỉ định sự cúng dường là dành cho con.
BJT 109Xin ngài hãy nhìn xem quả báo của vắt cơm: Con thọ dụng bữa ăn có nhiều hương vị trong một ngàn năm, là người có dục lạc theo như ước muốn.
BJT 110-111Xin ngài hãy nhìn xem quả thành tựu của mảnh vải cỡ bằng bàn tay là như thế nào: Thưa ngài, các vải mặc ở lãnh thổ của đức vua Nanda nhiều chừng nào, thì các vải vóc và các y phục bằng tơ lụa, sợi len, sợi lanh, và bông vải của con còn nhiều hơn thế ấy.
BJT 112Chúng dư thừa và có trị giá cao, hơn nữa chúng treo lủng lẳng ở không trung; con đây chỉ khoác vào cái nào thích ý.
BJT 113Xin ngài hãy nhìn xem quả thành tựu của tô nước uống là như thế nào: Có các hồ sen sâu thẳm, hình chữ nhật, đã khéo được hóa hiện ra.
BJT 114Có nước trong, có những bến bãi xinh đẹp, mát mẻ, có mùi thơm, được che phủ bởi nhiều loại sen hồng và sen xanh, tràn ngập nước và phấn hoa.
BJT 115Con đây hưởng lạc, nô đùa, vui sướng, không có sự sợ hãi từ bất cứ đâu. Thưa ngài, con đi đến để đảnh lễ bậc hiền trí, đấng bi mẫn ở thế gian.”
Chuyện Ngạ Quỷ Saṁsāramocaka là thứ nhất.
“Naggā dubbaṇṇarūpāsi,
kisā dhamanisanthatā;
Upphāsulike kisike,
kā nu tvaṁ idha tiṭṭhasī”ti.
“Ahaṁ bhadante petīmhi,
duggatā yamalokikā;
Pāpakammaṁ karitvāna,
petalokaṁ ito gatā”ti.
“Kiṁ nu kāyena vācāya,
manasā dukkaṭaṁ kataṁ;
Kissa kammavipākena,
petalokaṁ ito gatā”ti.
“Anukampakā mayhaṁ nāhesuṁ bhante,
Pitā ca mātā athavāpi ñātakā;
Ye maṁ niyojeyyuṁ dadāhi dānaṁ,
Pasannacittā samaṇabrāhmaṇānaṁ.
Ito ahaṁ vassasatāni pañca,
Yaṁ evarūpā vicarāmi naggā;
Khudāya taṇhāya ca khajjamānā,
Pāpassa kammassa phalaṁ mamedaṁ.
Vandāmi taṁ ayya pasannacittā,
Anukampa maṁ vīra mahānubhāva;
Datvā ca me ādisa yaṁ hi kiñci,
Mocehi maṁ duggatiyā bhadante”ti.
Sādhūti so paṭissutvā,
sāriputtonukampako;
Bhikkhūnaṁ ālopaṁ datvā,
pāṇimattañca coḷakaṁ;
Thālakassa ca pānīyaṁ,
tassā dakkhiṇamādisi.
Samanantarānuddiṭṭhe,
vipāko udapajjatha;
Bhojanacchādanapānīyaṁ,
dakkhiṇāya idaṁ phalaṁ.
Tato suddhā sucivasanā,
kāsikuttamadhārinī;
Vicittavatthābharaṇā,
sāriputtaṁ upasaṅkami.
“Abhikkantena vaṇṇena,
yā tvaṁ tiṭṭhasi devate;
Obhāsentī disā sabbā,
osadhī viya tārakā.
Kena te tādiso vaṇṇo,
kena te idha mijjhati;
Uppajjanti ca te bhogā,
ye keci manaso piyā.
Pucchāmi taṁ devi mahānubhāve,
Manussabhūtā kimakāsi puññaṁ;
Kenāsi evaṁ jalitānubhāvā,
Vaṇṇo ca te sabbadisā pabhāsatī”ti.
“Uppaṇḍukiṁ kisaṁ chātaṁ,
naggaṁ sampatitacchaviṁ;
Muni kāruṇiko loke,
taṁ maṁ addakkhi duggataṁ.
Bhikkhūnaṁ ālopaṁ datvā,
pāṇimattañca coḷakaṁ;
Thālakassa ca pānīyaṁ,
mama dakkhiṇamādisi.
Ālopassa phalaṁ passa,
bhattaṁ vassasataṁ dasa;
Bhuñjāmi kāmakāminī,
anekarasabyañjanaṁ.
Pāṇimattassa coḷassa,
vipākaṁ passa yādisaṁ;
Yāvatā nandarājassa,
vijitasmiṁ paṭicchadā.
Tato bahutarā bhante,
vatthānacchādanāni me;
Koseyyakambalīyāni,
khomakappāsikāni ca.
Vipulā ca mahagghā ca,
tepākāsevalambare;
Sāhaṁ taṁ paridahāmi,
yaṁ yaṁ hi manaso piyaṁ.
Thālakassa ca pānīyaṁ,
vipākaṁ passa yādisaṁ;
Gambhīrā caturassā ca,
pokkharañño sunimmitā.
Setodakā suppatitthā,
sītā appaṭigandhiyā;
Padumuppalasañchannā,
vārikiñjakkhapūritā.
Sāhaṁ ramāmi kīḷāmi,
modāmi akutobhayā;
Muniṁ kāruṇikaṁ loke,
bhante vanditumāgatā”ti.
Saṁsāramocakapetivatthu paṭhamaṁ.