BJT 508“Ngươi có tràng hoa, có đội mão, có vòng xuyến, các phần thân thể của ngươi có chất bôi thơm là trầm hương, ngươi có sắc diện tươi tỉnh, ngươi chói sáng tựa như màu sắc của mặt trời.
BJT 509Các tùy tùng nam của ngươi thuộc tập thể không phải nhân loại, các hầu cận nữ của ngươi là mười ngàn thiếu nữ.
BJT 510Các cô ấy có mang các vòng xuyến bằng vàng, được điểm trang với vòng hoa đội đầu bằng vàng. Ngươi có đại oai lực, có dáng vóc khiến nổi da gà, ngươi tự mình rứt ra rồi ngấu nghiến các miếng thịt lưng của mình.
BJT 511Vậy ác hạnh gì đã được làm, bởi thân bởi khẩu bởi ý? Do quả thành tựu của nghiệp gì mà ngươi lại tự mình rứt ra rồi ngấu nghiến các miếng thịt lưng của mình?”
BJT 512“Trong cuộc sống ở thế gian, tôi đã cư xử bằng sự đâm thọc và lời nói dối, bằng sự gian trá và lừa gạt đem lại điều không lợi ích cho bản thân.
BJT 513Tại nơi ấy, sau khi đi đến tập thể vào thời điểm (xác định) sự thật đã được thiết lập, tôi đã không đếm xỉa đến phương thức có sự lợi ích, tôi đã hành xử theo điều sai trái.
BJT 514Như thế, kẻ nào là người nói xấu sau lưng, kẻ ấy ngấu nghiến bản thân, giống như tôi hôm nay ngấu nghiến các miếng thịt lưng của mình.
BJT 515Thưa ngài Nārada, việc này đây đã được ngài đích thân nhìn thấy. Những người có lòng thương xót, tốt lành có thể nói rằng: ‘Chớ nói đâm thọc và chớ nói lời dối trá, đúng vậy ngươi chớ là kẻ nói xấu sau lưng.’”
Chuyện Ngạ Quỷ có sự Quyết Đoán Sái Quấy là thứ chín.
“Mālī kiriṭī kāyūrī,
gattā te candanussadā;
Pasannamukhavaṇṇosi,
sūriyavaṇṇova sobhasi.
Amānusā pārisajjā,
ye teme paricārakā;
Dasa kaññāsahassāni,
yā temā paricārikā;
Tā kambukāyūradharā,
kañcanāveḷabhūsitā.
Mahānubhāvosi tuvaṁ,
lomahaṁsanarūpavā;
Piṭṭhimaṁsāni attano,
sāmaṁ ukkacca khādasi.
Kiṁ nu kāyena vācāya,
manasā dukkuṭaṁ kataṁ;
Kissa kammavipākena,
piṭṭhimaṁsāni attano;
Sāmaṁ ukkacca khādasī”ti.
“Attanohaṁ anatthāya,
jīvaloke acārisaṁ;
Pesuññamusāvādena,
nikativañcanāya ca.
Tatthāhaṁ parisaṁ gantvā,
Saccakāle upaṭṭhite;
Atthaṁ dhammaṁ nirākatvā,
Adhammamanuvattisaṁ.
Evaṁ so khādatattānaṁ,
yo hoti piṭṭhimaṁsiko;
Yathāhaṁ ajja khādāmi,
piṭṭhimaṁsāni attano.
Tayidaṁ tayā nārada sāmaṁ diṭṭhaṁ,
Anukampakā ye kusalā vadeyyuṁ;
Mā pesuṇaṁ mā ca musā abhāṇi,
Mā khosi piṭṭhimaṁsiko tuvan”ti.
Kūṭavinicchayikapetavatthu navamaṁ.
Narada Bhante:
You are wearing many garlands, a crown, and many other types of jewelry on your hands and legs. Your body is covered with sandalwood cream. Your facial expression is very pleasant and your body shines very brightly just like the sun.
You are surrounded by ten thousand divine maidens who serve you whatever you want.
They wear bracelets and have golden wreaths on their heads. You look very mighty and your appearance is very majestic. When people look at you they are stunned by your appearance and their body hairs stand on end.
But you eat the flesh off your own back. What evil deed have you committed by body speech or mind to make you eat your own flesh?
Ghost:
When I was living in the human world I lied, broke friendships using divisive words, cheated others, and did lots of cunning deeds. In the middle of large gatherings of people, when I was asked to tell the truth, I lied.
I insulted others behind their backs. As a result of speaking behind others backs, today I have to eat the flesh off my own back.
You have seen how I am suffering, Narada Bhante. Now I see the truth of the words of the wise and compassionate Buddhas. I can tell you now, do not break friendships, do not tell lies, and may you not have to eat the flesh off your own back like I do!
BJT 508“Ngươi có tràng hoa, có đội mão, có vòng xuyến, các phần thân thể của ngươi có chất bôi thơm là trầm hương, ngươi có sắc diện tươi tỉnh, ngươi chói sáng tựa như màu sắc của mặt trời.
BJT 509Các tùy tùng nam của ngươi thuộc tập thể không phải nhân loại, các hầu cận nữ của ngươi là mười ngàn thiếu nữ.
BJT 510Các cô ấy có mang các vòng xuyến bằng vàng, được điểm trang với vòng hoa đội đầu bằng vàng. Ngươi có đại oai lực, có dáng vóc khiến nổi da gà, ngươi tự mình rứt ra rồi ngấu nghiến các miếng thịt lưng của mình.
BJT 511Vậy ác hạnh gì đã được làm, bởi thân bởi khẩu bởi ý? Do quả thành tựu của nghiệp gì mà ngươi lại tự mình rứt ra rồi ngấu nghiến các miếng thịt lưng của mình?”
BJT 512“Trong cuộc sống ở thế gian, tôi đã cư xử bằng sự đâm thọc và lời nói dối, bằng sự gian trá và lừa gạt đem lại điều không lợi ích cho bản thân.
BJT 513Tại nơi ấy, sau khi đi đến tập thể vào thời điểm (xác định) sự thật đã được thiết lập, tôi đã không đếm xỉa đến phương thức có sự lợi ích, tôi đã hành xử theo điều sai trái.
BJT 514Như thế, kẻ nào là người nói xấu sau lưng, kẻ ấy ngấu nghiến bản thân, giống như tôi hôm nay ngấu nghiến các miếng thịt lưng của mình.
BJT 515Thưa ngài Nārada, việc này đây đã được ngài đích thân nhìn thấy. Những người có lòng thương xót, tốt lành có thể nói rằng: ‘Chớ nói đâm thọc và chớ nói lời dối trá, đúng vậy ngươi chớ là kẻ nói xấu sau lưng.’”
Chuyện Ngạ Quỷ có sự Quyết Đoán Sái Quấy là thứ chín.
“Mālī kiriṭī kāyūrī,
gattā te candanussadā;
Pasannamukhavaṇṇosi,
sūriyavaṇṇova sobhasi.
Amānusā pārisajjā,
ye teme paricārakā;
Dasa kaññāsahassāni,
yā temā paricārikā;
Tā kambukāyūradharā,
kañcanāveḷabhūsitā.
Mahānubhāvosi tuvaṁ,
lomahaṁsanarūpavā;
Piṭṭhimaṁsāni attano,
sāmaṁ ukkacca khādasi.
Kiṁ nu kāyena vācāya,
manasā dukkuṭaṁ kataṁ;
Kissa kammavipākena,
piṭṭhimaṁsāni attano;
Sāmaṁ ukkacca khādasī”ti.
“Attanohaṁ anatthāya,
jīvaloke acārisaṁ;
Pesuññamusāvādena,
nikativañcanāya ca.
Tatthāhaṁ parisaṁ gantvā,
Saccakāle upaṭṭhite;
Atthaṁ dhammaṁ nirākatvā,
Adhammamanuvattisaṁ.
Evaṁ so khādatattānaṁ,
yo hoti piṭṭhimaṁsiko;
Yathāhaṁ ajja khādāmi,
piṭṭhimaṁsāni attano.
Tayidaṁ tayā nārada sāmaṁ diṭṭhaṁ,
Anukampakā ye kusalā vadeyyuṁ;
Mā pesuṇaṁ mā ca musā abhāṇi,
Mā khosi piṭṭhimaṁsiko tuvan”ti.
Kūṭavinicchayikapetavatthu navamaṁ.