BJT 815“Tại sao ngươi bỏ chạy như có vẻ điên khùng, tựa như con nai bị lạc lối? Đương nhiên là kẻ có hành động ác xấu, tại sao ngươi lại gây tiếng ồn?”
BJT 816“Thưa ngài đại đức, tôi là ngạ quỷ bị đọa đày, thuộc cõi Dạ-ma. Sau khi làm nghiệp ác, từ nơi đây tôi đã đi đến thế giới ngạ quỷ.
BJT 817Tổng cộng là đầy đủ sáu mươi ngàn quả búa tạ rơi xuống đầu của tôi; và chúng làm vỡ cái đầu (của tôi).”
BJT 818“Vậy ác hạnh gì đã được làm, bởi thân bởi khẩu bởi ý? Do quả thành tựu của nghiệp gì mà ngươi lại trải nghiệm sự khổ đau này?
BJT 819Tổng cộng là đầy đủ sáu mươi ngàn quả búa tạ rơi xuống đầu của ngươi; và chúng làm vỡ cái đầu (của ngươi).”
BJT 820“Khi ấy, tôi đã nhìn thấy đấng Giác Ngộ Sunetta, có giác quan đã được tu tập, ngồi ở gốc cây, đang tham thiền, không có sự sợ hãi từ bất cứ đâu.
BJT 821Bằng việc ném đá, tôi đã làm vỡ cái đầu của vị ấy. Do quả thành tựu của nghiệp ấy mà tôi trải nghiệm sự khổ đau này.
BJT 822Tổng cộng là đầy đủ sáu mươi ngàn quả búa tạ rơi xuống đầu của tôi; và chúng làm vỡ cái đầu (của tôi).”
BJT 823“Này kẻ xấu xa, một cách hợp lẽ đối với ngươi. Tổng cộng là đầy đủ sáu mươi ngàn quả búa tạ rơi xuống đầu của ngươi; và chúng làm vỡ cái đầu (của ngươi).”
Chuyện Ngạ Quỷ với Sáu Mươi Ngàn Quả Búa Tạ là thứ mười sáu.
Đại Phẩm là thứ tư.
TÓM LƯỢC PHẨM NÀY
(Chuyện) Ambasakkhara, Serissaka, Piṅgala, Revatī, những kẻ ăn mía, hai người thanh niên, hai kẻ ăn phân, nhóm (ngạ quỷ), Pāṭaliputta, và hồ sen, cây xoài, gom góp của cải, con trai nhà triệu phú, sáu mươi (ngàn) quả búa tạ, như vậy là mười sáu câu chuyện; bởi vậy phẩm được gọi tên thế ấy.
CHUYỆN NGẠ QUỶ ĐƯỢC ĐẦY ĐỦ.
“Kiṁ nu ummattarūpova,
Migo bhantova dhāvasi;
Nissaṁsayaṁ pāpakammanto,
Kiṁ nu saddāyase tuvan”ti.
“Ahaṁ bhadante petomhi,
duggato yamalokiko;
Pāpakammaṁ karitvāna,
petalokaṁ ito gato.
Saṭṭhi kūṭasahassāni,
paripuṇṇāni sabbaso;
Sīse mayhaṁ nipatanti,
te bhindanti ca matthakan”ti.
“Kiṁ nu kāyena vācāya,
manasā dukkaṭaṁ kataṁ;
Kissa kammavipākena,
idaṁ dukkhaṁ nigacchasi.
Saṭṭhi kūṭasahassāni,
paripuṇṇāni sabbaso;
Sīse tuyhaṁ nipatanti,
te bhindanti ca matthakan”ti.
“Athaddasāsiṁ sambuddhaṁ,
sunettaṁ bhāvitindriyaṁ;
Nisinnaṁ rukkhamūlasmiṁ,
jhāyantaṁ akutobhayaṁ.
Sālittakappahārena,
bhindissaṁ tassa matthakaṁ;
Tassa kammavipākena,
idaṁ dukkhaṁ nigacchisaṁ.
Saṭṭhi kūṭasahassāni,
Paripuṇṇāni sabbaso;
Sīse mayhaṁ nipatanti,
Te bhindanti ca matthakan”ti.
“Dhammena te kāpurisa,
saṭṭhikūṭasahassāni;
Paripuṇṇāni sabbaso,
sīse tuyhaṁ nipatanti;
Te bhindanti ca matthakan”ti.
Saṭṭhikūṭapetavatthu soḷasamaṁ.
Mahāvaggo catuttho.
Tassuddānaṁ
Ambasakkaro serīsako,
piṅgalo revati ucchu;
Dve kumārā duve gūthā,
gaṇapāṭaliambavanaṁ.
Akkharukkhabhogasaṁharā,
seṭṭhiputtasaṭṭhikūṭā;
Iti soḷasavatthūni,
vaggo tena pavuccati.
Atha vagguddānaṁ
Urago uparivaggo,
cūḷamahāti catudhā;
Vatthūni ekapaññāsaṁ,
catudhā bhāṇavārato.
Petavatthupāḷi niṭṭhitā.
English translation not yet available.
BJT 815“Tại sao ngươi bỏ chạy như có vẻ điên khùng, tựa như con nai bị lạc lối? Đương nhiên là kẻ có hành động ác xấu, tại sao ngươi lại gây tiếng ồn?”
BJT 816“Thưa ngài đại đức, tôi là ngạ quỷ bị đọa đày, thuộc cõi Dạ-ma. Sau khi làm nghiệp ác, từ nơi đây tôi đã đi đến thế giới ngạ quỷ.
BJT 817Tổng cộng là đầy đủ sáu mươi ngàn quả búa tạ rơi xuống đầu của tôi; và chúng làm vỡ cái đầu (của tôi).”
BJT 818“Vậy ác hạnh gì đã được làm, bởi thân bởi khẩu bởi ý? Do quả thành tựu của nghiệp gì mà ngươi lại trải nghiệm sự khổ đau này?
BJT 819Tổng cộng là đầy đủ sáu mươi ngàn quả búa tạ rơi xuống đầu của ngươi; và chúng làm vỡ cái đầu (của ngươi).”
BJT 820“Khi ấy, tôi đã nhìn thấy đấng Giác Ngộ Sunetta, có giác quan đã được tu tập, ngồi ở gốc cây, đang tham thiền, không có sự sợ hãi từ bất cứ đâu.
BJT 821Bằng việc ném đá, tôi đã làm vỡ cái đầu của vị ấy. Do quả thành tựu của nghiệp ấy mà tôi trải nghiệm sự khổ đau này.
BJT 822Tổng cộng là đầy đủ sáu mươi ngàn quả búa tạ rơi xuống đầu của tôi; và chúng làm vỡ cái đầu (của tôi).”
BJT 823“Này kẻ xấu xa, một cách hợp lẽ đối với ngươi. Tổng cộng là đầy đủ sáu mươi ngàn quả búa tạ rơi xuống đầu của ngươi; và chúng làm vỡ cái đầu (của ngươi).”
Chuyện Ngạ Quỷ với Sáu Mươi Ngàn Quả Búa Tạ là thứ mười sáu.
Đại Phẩm là thứ tư.
TÓM LƯỢC PHẨM NÀY
(Chuyện) Ambasakkhara, Serissaka, Piṅgala, Revatī, những kẻ ăn mía, hai người thanh niên, hai kẻ ăn phân, nhóm (ngạ quỷ), Pāṭaliputta, và hồ sen, cây xoài, gom góp của cải, con trai nhà triệu phú, sáu mươi (ngàn) quả búa tạ, như vậy là mười sáu câu chuyện; bởi vậy phẩm được gọi tên thế ấy.
CHUYỆN NGẠ QUỶ ĐƯỢC ĐẦY ĐỦ.
“Kiṁ nu ummattarūpova,
Migo bhantova dhāvasi;
Nissaṁsayaṁ pāpakammanto,
Kiṁ nu saddāyase tuvan”ti.
“Ahaṁ bhadante petomhi,
duggato yamalokiko;
Pāpakammaṁ karitvāna,
petalokaṁ ito gato.
Saṭṭhi kūṭasahassāni,
paripuṇṇāni sabbaso;
Sīse mayhaṁ nipatanti,
te bhindanti ca matthakan”ti.
“Kiṁ nu kāyena vācāya,
manasā dukkaṭaṁ kataṁ;
Kissa kammavipākena,
idaṁ dukkhaṁ nigacchasi.
Saṭṭhi kūṭasahassāni,
paripuṇṇāni sabbaso;
Sīse tuyhaṁ nipatanti,
te bhindanti ca matthakan”ti.
“Athaddasāsiṁ sambuddhaṁ,
sunettaṁ bhāvitindriyaṁ;
Nisinnaṁ rukkhamūlasmiṁ,
jhāyantaṁ akutobhayaṁ.
Sālittakappahārena,
bhindissaṁ tassa matthakaṁ;
Tassa kammavipākena,
idaṁ dukkhaṁ nigacchisaṁ.
Saṭṭhi kūṭasahassāni,
Paripuṇṇāni sabbaso;
Sīse mayhaṁ nipatanti,
Te bhindanti ca matthakan”ti.
“Dhammena te kāpurisa,
saṭṭhikūṭasahassāni;
Paripuṇṇāni sabbaso,
sīse tuyhaṁ nipatanti;
Te bhindanti ca matthakan”ti.
Saṭṭhikūṭapetavatthu soḷasamaṁ.
Mahāvaggo catuttho.
Tassuddānaṁ
Ambasakkaro serīsako,
piṅgalo revati ucchu;
Dve kumārā duve gūthā,
gaṇapāṭaliambavanaṁ.
Akkharukkhabhogasaṁharā,
seṭṭhiputtasaṭṭhikūṭā;
Iti soḷasavatthūni,
vaggo tena pavuccati.
Atha vagguddānaṁ
Urago uparivaggo,
cūḷamahāti catudhā;
Vatthūni ekapaññāsaṁ,
catudhā bhāṇavārato.
Petavatthupāḷi niṭṭhitā.