BJT 516“Ngươi đứng ở không trung, có mùi hôi, toát ra mùi thối tha, và những con dòi rúc rỉa cái miệng có mùi hôi thối của ngươi; ngươi đã tạo nghiệp gì trước đây?
BJT 517Sau đó, chúng cầm lấy cây dao cắt xẻo lần này đến lần khác. Chúng rưới khắp (thân ngươi) với chất kiềm rồi cắt xẻo lần này đến lần khác.
BJT 518Vậy ác hạnh gì đã được làm, bởi thân bởi khẩu bởi ý? Do quả thành tựu của nghiệp gì mà ngươi lại trải nghiệm sự khổ đau này?”
BJT 519“Thưa ngài, ở thành Rājagaha đáng yêu, nơi Giribbaja xinh xắn, tôi đã là chủ nhân của tài sản và lúa gạo vô cùng dồi dào.
BJT 520Người vợ này của tôi đây, con gái và con dâu của tôi, trong khi các cô ấy đang mang tràng hoa, luôn cả hoa sen xanh, và dầu thoa đắt giá đến ngôi bảo tháp, tôi đã ngăn cản; việc xấu xa ấy đã do tôi gây ra.
BJT 521Tám mươi sáu ngàn người chúng tôi có cảm thọ (khổ) riêng biệt, sau khi chê bai việc cúng dường đến ngôi bảo tháp, chúng tôi bị nung nấu dữ dội ở địa ngục.
BJT 522Và trong khi lễ hội của bậc A-la-hán đang được cử hành, những kẻ nào công bố điều bất lợi đối với việc cúng dường ngôi bảo tháp, quý vị hãy tách ly những kẻ ấy khỏi nơi đó.
BJT 523Và quý vị hãy nhìn xem các cô nàng đang đi đến, có mang tràng hoa, đã được trang điểm, các cô ấy hưởng thụ quả thành tựu về tràng hoa, có sự thành công, có danh tiếng.
BJT 524Và sau khi nhìn thấy điều kỳ diệu, phi thường, khiến nổi da gà ấy, các bậc có trí tuệ thực hiện việc nghiêng mình đảnh lễ ngài, bậc đại hiền trí.
BJT 525Chắc chắn rằng chính tôi đây, sau khi đi khỏi nơi này, sau khi đạt được sự xuất thân thuộc loài người, sẽ thực hiện việc đảnh lễ ngôi bảo tháp, không bị xao lãng, lần này đến lần khác.”
Chuyện Ngạ Quỷ Do Chê Bai Xá-Lợi là thứ mười.
Tiểu Phẩm là thứ ba.
TÓM LƯỢC PHẨM NÀY
Chuyện không làm (mặt) nước bị vỡ ra, vị Koṇḍañña, ở hồ Rathakāra, và với vỏ trấu, đứa bé trai, luôn cả cô kỹ nữ, hai người thợ săn, (nói xấu) sau lưng, cúng dường; bởi vậy phẩm được gọi tên thế ấy.
“Antalikkhasmiṁ tiṭṭhanto,
Duggandho pūti vāyasi;
Mukhañca te kimayo pūtigandhaṁ,
Khādanti kiṁ kammamakāsi pubbe.
Tato satthaṁ gahetvāna,
okkantanti punappunaṁ;
Khārena paripphositvā,
okkantanti punappunaṁ.
Kiṁ nu kāyena vācāya,
manasā dukkaṭaṁ kataṁ;
Kissa kammavipākena,
idaṁ dukkhaṁ nigacchasī”ti.
“Ahaṁ rājagahe ramme,
ramaṇīye giribbaje;
Issaro dhanadhaññassa,
supahūtassa mārisa.
Tassāyaṁ me bhariyā ca,
dhītā ca suṇisā ca me;
Tā mālaṁ uppalañcāpi,
paccagghañca vilepanaṁ;
Thūpaṁ harantiyo vāresiṁ,
taṁ pāpaṁ pakataṁ mayā.
Chaḷāsītisahassāni,
mayaṁ paccattavedanā;
Thūpapūjaṁ vivaṇṇetvā,
paccāma niraye bhusaṁ.
Ye ca kho thūpapūjāya,
vattante arahato mahe;
Ādīnavaṁ pakāsenti,
vivecayetha ne tato.
Imā ca passa āyantiyo,
Māladhārī alaṅkatā;
Mālāvipākaṁnubhontiyo,
Samiddhā ca tā yasassiniyo.
Tañca disvāna accheraṁ,
abbhutaṁ lomahaṁsanaṁ;
Namo karonti sappaññā,
vandanti taṁ mahāmuniṁ.
Sohaṁ nūna ito gantvā,
yoniṁ laddhāna mānusiṁ;
Thūpapūjaṁ karissāmi,
appamatto punappunan”ti.
Dhātuvivaṇṇapetavatthu dasamaṁ.
Cūḷavaggo tatiyo.
Tassuddānaṁ
Abhijjamāno kuṇḍiyo,
rathakārī bhusena ca;
Kumāro gaṇikā ceva,
dve luddā piṭṭhipūjanā;
Vaggo tena pavuccatīti.
Monk:
While you are floating in the air, a bad smell comes out of you. Worms are eating your mouth. What evil deed did you do in your previous life?
Afterwards, a group of ghosts slice your mouth with knives. They slice again and again placing salt on the wounds. What evil deed did you commit by body, speech, or mind in your previous life? What is that the result of?
Ghost:
In the city of Rajagaha I was an extremely wealthy person. One day my wife, daughter, and daughter-in-law were ready to go to worship a stupa that held relics of the Buddha. They had prepared lotus flowers, garlands made of flowers, and incense. I stopped them from going there. That was the evil deed I did.
There are about eighty-six thousand ghosts here suffering each in their own way. They all committed the same evil deed of insulting the worshipping of the Buddha’s relics. We are suffering intensely in this ghost world as if we were in hell.
If one criticizes worshipping the relics of the Supreme Buddha, that person loses a great meritorious opportunity.
Look at those female deities travelling in the sky, decorated with garlands and flowers. They enjoy this great happiness as a result of offering flowers to the relics of the Supreme Buddha. Having seen this marvelous, amazing, and hair raising result of merit, wise people salute and pay homage to the great sage, the Buddha.
When I am released from this ghost world and reborn in the human world, I will diligently worship again and again the stupas of the relics of the Supreme Buddha.
BJT 516“Ngươi đứng ở không trung, có mùi hôi, toát ra mùi thối tha, và những con dòi rúc rỉa cái miệng có mùi hôi thối của ngươi; ngươi đã tạo nghiệp gì trước đây?
BJT 517Sau đó, chúng cầm lấy cây dao cắt xẻo lần này đến lần khác. Chúng rưới khắp (thân ngươi) với chất kiềm rồi cắt xẻo lần này đến lần khác.
BJT 518Vậy ác hạnh gì đã được làm, bởi thân bởi khẩu bởi ý? Do quả thành tựu của nghiệp gì mà ngươi lại trải nghiệm sự khổ đau này?”
BJT 519“Thưa ngài, ở thành Rājagaha đáng yêu, nơi Giribbaja xinh xắn, tôi đã là chủ nhân của tài sản và lúa gạo vô cùng dồi dào.
BJT 520Người vợ này của tôi đây, con gái và con dâu của tôi, trong khi các cô ấy đang mang tràng hoa, luôn cả hoa sen xanh, và dầu thoa đắt giá đến ngôi bảo tháp, tôi đã ngăn cản; việc xấu xa ấy đã do tôi gây ra.
BJT 521Tám mươi sáu ngàn người chúng tôi có cảm thọ (khổ) riêng biệt, sau khi chê bai việc cúng dường đến ngôi bảo tháp, chúng tôi bị nung nấu dữ dội ở địa ngục.
BJT 522Và trong khi lễ hội của bậc A-la-hán đang được cử hành, những kẻ nào công bố điều bất lợi đối với việc cúng dường ngôi bảo tháp, quý vị hãy tách ly những kẻ ấy khỏi nơi đó.
BJT 523Và quý vị hãy nhìn xem các cô nàng đang đi đến, có mang tràng hoa, đã được trang điểm, các cô ấy hưởng thụ quả thành tựu về tràng hoa, có sự thành công, có danh tiếng.
BJT 524Và sau khi nhìn thấy điều kỳ diệu, phi thường, khiến nổi da gà ấy, các bậc có trí tuệ thực hiện việc nghiêng mình đảnh lễ ngài, bậc đại hiền trí.
BJT 525Chắc chắn rằng chính tôi đây, sau khi đi khỏi nơi này, sau khi đạt được sự xuất thân thuộc loài người, sẽ thực hiện việc đảnh lễ ngôi bảo tháp, không bị xao lãng, lần này đến lần khác.”
Chuyện Ngạ Quỷ Do Chê Bai Xá-Lợi là thứ mười.
Tiểu Phẩm là thứ ba.
TÓM LƯỢC PHẨM NÀY
Chuyện không làm (mặt) nước bị vỡ ra, vị Koṇḍañña, ở hồ Rathakāra, và với vỏ trấu, đứa bé trai, luôn cả cô kỹ nữ, hai người thợ săn, (nói xấu) sau lưng, cúng dường; bởi vậy phẩm được gọi tên thế ấy.
“Antalikkhasmiṁ tiṭṭhanto,
Duggandho pūti vāyasi;
Mukhañca te kimayo pūtigandhaṁ,
Khādanti kiṁ kammamakāsi pubbe.
Tato satthaṁ gahetvāna,
okkantanti punappunaṁ;
Khārena paripphositvā,
okkantanti punappunaṁ.
Kiṁ nu kāyena vācāya,
manasā dukkaṭaṁ kataṁ;
Kissa kammavipākena,
idaṁ dukkhaṁ nigacchasī”ti.
“Ahaṁ rājagahe ramme,
ramaṇīye giribbaje;
Issaro dhanadhaññassa,
supahūtassa mārisa.
Tassāyaṁ me bhariyā ca,
dhītā ca suṇisā ca me;
Tā mālaṁ uppalañcāpi,
paccagghañca vilepanaṁ;
Thūpaṁ harantiyo vāresiṁ,
taṁ pāpaṁ pakataṁ mayā.
Chaḷāsītisahassāni,
mayaṁ paccattavedanā;
Thūpapūjaṁ vivaṇṇetvā,
paccāma niraye bhusaṁ.
Ye ca kho thūpapūjāya,
vattante arahato mahe;
Ādīnavaṁ pakāsenti,
vivecayetha ne tato.
Imā ca passa āyantiyo,
Māladhārī alaṅkatā;
Mālāvipākaṁnubhontiyo,
Samiddhā ca tā yasassiniyo.
Tañca disvāna accheraṁ,
abbhutaṁ lomahaṁsanaṁ;
Namo karonti sappaññā,
vandanti taṁ mahāmuniṁ.
Sohaṁ nūna ito gantvā,
yoniṁ laddhāna mānusiṁ;
Thūpapūjaṁ karissāmi,
appamatto punappunan”ti.
Dhātuvivaṇṇapetavatthu dasamaṁ.
Cūḷavaggo tatiyo.
Tassuddānaṁ
Abhijjamāno kuṇḍiyo,
rathakārī bhusena ca;
Kumāro gaṇikā ceva,
dve luddā piṭṭhipūjanā;
Vaggo tena pavuccatīti.