BJT 746“Rừng mía rộng lớn này sanh lên cho tôi là quả phước không phải ít, mà giờ đây nó không đem lại (cho tôi) việc thọ hưởng. Thưa ngài, xin ngài hãy nói cho đây là quả thành tựu của việc gì?
BJT 747Tôi bị đánh đập và bị nhai nghiến. (Khi) tôi ra sức, cố gắng thọ dụng cái gì đó, thì tôi đây có sức lực bị đứt đoạn, thê thảm, nên than vãn; đây là quả thành tựu của việc gì?
BJT 748Và bị đánh đập, tôi ngã quỵ ở mặt đất. Tôi lăn quay trong sự nóng bức tựa như loài cá (ở đất khô nóng bỏng). Và trong khi khóc lóc, nước mắt của tôi nhỏ xuống. Thưa ngài, xin ngài hãy nói cho đây là quả thành tựu của việc gì?
BJT 749Bị đói, bị nhọc mệt, và bị khát, bị hoảng sợ, tôi không tìm thấy thoải mái, an lạc. Thưa ngài đại đức, tôi hỏi ngài về việc này, làm thế nào tôi có thể đạt được việc thọ dụng mía?”
BJT 750“Trước đây, ngươi đã đích thân tạo nghiệp khi là con người trong kiếp sống trước đây. Và ta nói cho ngươi về việc này. Sau khi lắng nghe, ngươi hãy nhận biết về việc này.
BJT 751Ngươi đã bước đi trong lúc nhai mía. Và người đàn ông đã đi theo sau lưng ngươi. Trong lúc mong mỏi, người ấy đã nói với ngươi, ngươi đã không nói điều gì với người ấy.
BJT 752Và trong lúc ngươi không nói, người ấy đã cầu xin và đã nói với ngươi rằng: ‘Này ông, xin ông cho mía.’ Ngươi đã cho người ấy cây mía ở sau lưng của ngươi; đây là quả thành tựu của nghiệp ấy.
BJT 753‘Này, ông hãy cầm lấy cây mía ở sau lưng, sau khi cầm lấy ông hãy ăn tùy theo ý thích. Do chính điều ấy, ông sẽ hoan hỷ, vui mừng, phấn khởi, và hứng thú.’
BJT 754Người ấy đã đi đến cầm lấy (cây mía) ở sau lưng, sau khi cầm lấy đã nhai nó tùy theo ý thích. Do chính điều ấy, ông ấy đã trở nên hoan hỷ, vui mừng, phấn khởi, và hứng thú.”
Chuyện Ngạ Quỷ Mía là thứ năm.
“Idaṁ mama ucchuvanaṁ mahantaṁ,
Nibbattati puññaphalaṁ anappakaṁ;
Taṁ dāni me na paribhogameti,
Ācikkha bhante kissa ayaṁ vipāko.
Haññāmi khajjāmi ca vāyamāmi,
Parisakkāmi paribhuñjituṁ kiñci;
Svāhaṁ chinnathāmo kapaṇo lālapāmi,
Kissa kammassa ayaṁ vipāko.
Vighāto cāhaṁ paripatāmi chamāyaṁ,
Parivattāmi vāricarova ghamme;
Rudato ca me assukā niggalanti,
Ācikkha bhante kissa ayaṁ vipāko.
Chāto kilanto ca pipāsito ca,
Santassito sātasukhaṁ na vinde;
Pucchāmi taṁ etamatthaṁ bhadante,
Kathaṁ nu ucchuparibhogaṁ labheyyan”ti.
“Pure tuvaṁ kammamakāsi attanā,
Manussabhūto purimāya jātiyā;
Ahañca taṁ etamatthaṁ vadāmi,
Sutvāna tvaṁ etamatthaṁ vijāna.
Ucchuṁ tuvaṁ khādamāno payāto,
Puriso ca te piṭṭhito anvagacchi;
So ca taṁ paccāsanto kathesi,
Tassa tuvaṁ na kiñci ālapittha.
So ca taṁ abhaṇantaṁ ayāci,
‘Dehayya ucchun’ti ca taṁ avoca;
Tassa tuvaṁ piṭṭhito ucchuṁ adāsi,
Tassetaṁ kammassa ayaṁ vipāko.
Iṅgha tvaṁ gantvāna piṭṭhito gaṇheyyāsi,
Gahetvāna taṁ khādassu yāvadatthaṁ;
Teneva tvaṁ attamano bhavissasi,
Haṭṭho cudaggo ca pamodito cā”ti.
Gantvāna so piṭṭhito aggahesi,
Gahetvāna taṁ khādi yāvadatthaṁ;
Teneva so attamano ahosi,
Haṭṭho cudaggo ca pamodito cāti.
Ucchupetavatthu pañcamaṁ.
Ghost:
Bhante, as a result of my meritorious deeds, a large farm of sugar cane has appeared for me. Unfortunately, I am unable to eat from it. Please tell me why I cannot eat them. Even though I try very hard to pluck out a stalk, I fail every time. Leaves of the sugar cane cut my body and I become very weak and faint. I am suffering very much. Please tell me what bad deed I did in the past.
With a weak body I collapse on the ground. I tremble like a fish thrown to the hot ground. I am crying. Please tell me why this is happening to me.
I am starving, thirsty, and weak. Overcome by extreme thirst, I have never experienced any happiness. Please Bhante, tell me how I can eat the sugar cane.
Monk:
You have done an evil deed when you were in the human world. I will tell you what that is.
One day, you were going somewhere while chewing a sugar cane. Another person came up behind you with the idea that you would share with him. But you did not pay attention to him. Then he begged for a sugar cane saying, “Good sir, please give me some sugar cane.” With an angry mind, reluctantly, you passed back a sugar cane without looking at him. That is the karma that you are experiencing now. Therefore, now you should also turn your back to the sugar cane and try to pluck it. Then you will be able to eat as much as you wish. In this way you will be happy and satisfied.
So the ghost turned his back to the sugar cane and plucked it out of the ground. He ate as much as he wished. In this way he became happy and satisfied.
BJT 746“Rừng mía rộng lớn này sanh lên cho tôi là quả phước không phải ít, mà giờ đây nó không đem lại (cho tôi) việc thọ hưởng. Thưa ngài, xin ngài hãy nói cho đây là quả thành tựu của việc gì?
BJT 747Tôi bị đánh đập và bị nhai nghiến. (Khi) tôi ra sức, cố gắng thọ dụng cái gì đó, thì tôi đây có sức lực bị đứt đoạn, thê thảm, nên than vãn; đây là quả thành tựu của việc gì?
BJT 748Và bị đánh đập, tôi ngã quỵ ở mặt đất. Tôi lăn quay trong sự nóng bức tựa như loài cá (ở đất khô nóng bỏng). Và trong khi khóc lóc, nước mắt của tôi nhỏ xuống. Thưa ngài, xin ngài hãy nói cho đây là quả thành tựu của việc gì?
BJT 749Bị đói, bị nhọc mệt, và bị khát, bị hoảng sợ, tôi không tìm thấy thoải mái, an lạc. Thưa ngài đại đức, tôi hỏi ngài về việc này, làm thế nào tôi có thể đạt được việc thọ dụng mía?”
BJT 750“Trước đây, ngươi đã đích thân tạo nghiệp khi là con người trong kiếp sống trước đây. Và ta nói cho ngươi về việc này. Sau khi lắng nghe, ngươi hãy nhận biết về việc này.
BJT 751Ngươi đã bước đi trong lúc nhai mía. Và người đàn ông đã đi theo sau lưng ngươi. Trong lúc mong mỏi, người ấy đã nói với ngươi, ngươi đã không nói điều gì với người ấy.
BJT 752Và trong lúc ngươi không nói, người ấy đã cầu xin và đã nói với ngươi rằng: ‘Này ông, xin ông cho mía.’ Ngươi đã cho người ấy cây mía ở sau lưng của ngươi; đây là quả thành tựu của nghiệp ấy.
BJT 753‘Này, ông hãy cầm lấy cây mía ở sau lưng, sau khi cầm lấy ông hãy ăn tùy theo ý thích. Do chính điều ấy, ông sẽ hoan hỷ, vui mừng, phấn khởi, và hứng thú.’
BJT 754Người ấy đã đi đến cầm lấy (cây mía) ở sau lưng, sau khi cầm lấy đã nhai nó tùy theo ý thích. Do chính điều ấy, ông ấy đã trở nên hoan hỷ, vui mừng, phấn khởi, và hứng thú.”
Chuyện Ngạ Quỷ Mía là thứ năm.
“Idaṁ mama ucchuvanaṁ mahantaṁ,
Nibbattati puññaphalaṁ anappakaṁ;
Taṁ dāni me na paribhogameti,
Ācikkha bhante kissa ayaṁ vipāko.
Haññāmi khajjāmi ca vāyamāmi,
Parisakkāmi paribhuñjituṁ kiñci;
Svāhaṁ chinnathāmo kapaṇo lālapāmi,
Kissa kammassa ayaṁ vipāko.
Vighāto cāhaṁ paripatāmi chamāyaṁ,
Parivattāmi vāricarova ghamme;
Rudato ca me assukā niggalanti,
Ācikkha bhante kissa ayaṁ vipāko.
Chāto kilanto ca pipāsito ca,
Santassito sātasukhaṁ na vinde;
Pucchāmi taṁ etamatthaṁ bhadante,
Kathaṁ nu ucchuparibhogaṁ labheyyan”ti.
“Pure tuvaṁ kammamakāsi attanā,
Manussabhūto purimāya jātiyā;
Ahañca taṁ etamatthaṁ vadāmi,
Sutvāna tvaṁ etamatthaṁ vijāna.
Ucchuṁ tuvaṁ khādamāno payāto,
Puriso ca te piṭṭhito anvagacchi;
So ca taṁ paccāsanto kathesi,
Tassa tuvaṁ na kiñci ālapittha.
So ca taṁ abhaṇantaṁ ayāci,
‘Dehayya ucchun’ti ca taṁ avoca;
Tassa tuvaṁ piṭṭhito ucchuṁ adāsi,
Tassetaṁ kammassa ayaṁ vipāko.
Iṅgha tvaṁ gantvāna piṭṭhito gaṇheyyāsi,
Gahetvāna taṁ khādassu yāvadatthaṁ;
Teneva tvaṁ attamano bhavissasi,
Haṭṭho cudaggo ca pamodito cā”ti.
Gantvāna so piṭṭhito aggahesi,
Gahetvāna taṁ khādi yāvadatthaṁ;
Teneva so attamano ahosi,
Haṭṭho cudaggo ca pamodito cāti.
Ucchupetavatthu pañcamaṁ.