Chuyển đến nội dung chính

⚙️ Tùy Chỉnh Đọc

🎨 Giao diện
✍️ Kiểu chữ
NhỏLớn
ChặtRộng
📐 Bố cục
HẹpFull
SátRộng
Tam tạng sa701-800
SA711 Kinh 711. vô úy (1)
SA701 Kinh 701. như lai lực (1) SA702 Kinh 702. như lai lực (2) SA703 Kinh 703. như lai lực (3) SA704 Kinh 704. bất chánh tư duy SA705 Kinh 705. bất thoái SA706 Kinh 706. cái SA707 Kinh 707. chướng cái SA708 Kinh 708. thọ SA709 Kinh 709. thất giác chi SA710 Kinh 710. thính pháp SA711 Kinh 711. vô úy (1) SA712 Kinh 712. vô úy (2) SA713 Kinh 713. chuyển thú SA714 Kinh 714. hỏa SA715 Kinh 715. thực SA716 Kinh 716. pháp (1) SA717 Kinh 717. pháp (2) SA718 Kinh 718. xá-lợi-phất SA719 Kinh 719. ưu-ba-ma SA720 Kinh 720. a-na-luật SA721 Kinh 721. chuyển luân vương (1) SA722 Kinh 722. chuyển luân (2) SA723 Kinh 723. niên thiếu SA724 Kinh 724. quả báo phụng sự SA725 Kinh 725. bất thiện tụ SA726 Kinh 726. thiện tri thức SA727 Kinh 727. câu-di-na SA728 Kinh 728. thuyết SA729 Kinh 729. diệt SA730 Kinh 730. phân SA731 Kinh 731. chi tiết SA732 Kinh 732. khởi SA733 Kinh 733. thất đạo phẩm (1) SA734 Kinh 734. quả báo (1) SA735 Kinh 735. quả báo (2) SA736 Kinh 736. thất chủng quả SA737 Kinh 737. thất đạo phẩm (2) SA738 Kinh 738. quả báo (3) SA739 Kinh 739. quả báo (4) SA740 Kinh 740. quả báo (5) SA741 Kinh 741. bất tịnh quán SA742 Kinh 742. niệm tử tướng SA743 Kinh 743. từ (1) SA744 Kinh 744. từ (2) SA745 Kinh 745. không SA746 Kinh 746. an-na-ban-na niệm (1) SA747 Kinh 747. vô thường SA748 Kinh 748. nhật xuất SA749 Kinh 749. vô minh (1) SA750 Kinh 750. vô minh (2) SA751 Kinh 751. khởi SA752 Kinh 752. ca-ma SA753 Kinh 753. a-lê-sắt-tra SA754 Kinh 754. xá-lợi-phất SA755 Kinh 755–757. tỳ-kheo SA756 Kinh 755–757. tỳ-kheo SA757 Kinh 755–757. tỳ-kheo SA758 Kinh 758. úy SA759 Kinh 759. thọ SA760 Kinh 760. tam pháp SA761 Kinh 761. học SA762 Kinh 762. lậu tận SA763 Kinh 763. tám thánh đạo phần SA764 Kinh 764. tu (1) SA765 Kinh 765. tu (2) SA766 Kinh 766. thanh tịnh SA767 Kinh 767. tụ SA768 Kinh 768. bán SA769 Kinh 769. bà-la-môn SA770 Kinh 770. tà SA771 Kinh 771. bỉ ngạn SA772 KINH 772–774 SA773 KINH 772–774 SA774 KINH 772–774 SA775 Kinh 775. chánh bất chánh tư duy (1) SA776 Kinh 776. chánh bất chánh tư duy (2) SA777 Kinh 777. chánh bất chánh tư duy (3) SA778 Kinh 778. thiện ác tri thức (1) SA779 Kinh 779. thiện tri thức SA780 Kinh 780. thiện ác tri thức (2) SA781 Kinh 781. chánh bất chánh tư duy (4) SA782 Kinh 782. phi pháp thị pháp SA783 Kinh 783. đoạn tham SA784 Kinh 784. tà chánh SA785 Kinh 785. quảng thuyết bát thánh đạo SA786 Kinh 786. hướng tà SA787 Kinh 787. tà kiến chánh kiến (1) SA788 Kinh 788. tà kiến chánh kiến (2) SA789 Kinh 789. sanh văn SA790 Kinh 790. tà kiến (1) SA791 Kinh 791. tà kiến (2) SA792 Kinh 792. tà kiến (3) SA793 Kinh 793. thuận lưu nghịch lưu SA794 Kinh 794. sa-môn sa-môn pháp SA795 Kinh 795. sa-môn pháp sa-môn nghĩa SA796 Kinh 796. sa-môn sa-môn quả SA797 Kinh 797. sa-môn pháp sa-môn quả SA798 Kinh 798. sa-môn pháp sa-môn nghĩa SA799 Kinh 799. sa-môn quả SA800 Kinh 800. bà-la-môn
SA711

Kinh 711. vô úy (1)

Tôi nghe như vầy:

Một thời, Phật ở trong núi Kỳ-xà-quật, thành Vương xá. Bấy giờ có vương tử Vô Úy thường ngày đi bộ, thong thả dạo chơi, đi đến chỗ Đức Phật; sau khi diện kiến chào hỏi Thế Tôn xong, ngồi lui qua một bên, bạch Phật rằng:

“Bạch Thế Tôn, có Sa-môn, Bà-la-môn thấy như vầy, nói như vầy: ‘Chúng sanh phiền não, không nhân, không duyên; chúng sanh thanh tịnh, không nhân, không duyên.’ Còn Thế Tôn thì thế nào?”

Phật bảo Vô Úy:

“Vì các Sa-môn, Bà-la-môn nói những điều mà họ không suy nghĩ, ngu si, không phân biệt, không khéo léo, chẳng biết suy nghĩ, chẳng biết suy lường nên nói: ‘Chúng sanh phiền não, không nhân, không duyên; chúng sanh thanh tịnh, không nhân, không duyên.’ như vậy. Vì sao? Vì chúng sanh phiền não có nhân, có duyên và chúng sanh thanh tịnh, có nhân, có duyên.

“Chúng sanh phiền não có nhân gì, duyên gì? Chúng sanh thanh tịnh có nhân gì, duyên gì? Vì tham dục chúng sanh tăng thượng nên đối với của cải, đồ vật của người khác khởi lên lòng tham nói rằng: ‘Vật này là sở hữu của tôi thì tốt.’ Nó yêu thích không muốn xa lìa. Đối với chúng sanh khác khởi lên lòng sân hận, hung ác, toan tính, muốn đánh, muốn trói, chèn ép, gia tăng những việc trái đạo, tạo ra các nạn, không từ bỏ sân nhuế. Thân ham ngủ nghỉ, tâm lại lười biếng, tâm luôn dao động; bên trong không tịch tĩnh, tâm thường nghi hoặc, nghi quá khứ, nghi vị lai, nghi hiện tại. Này Vô Úy, vì những nhân như vậy, những duyên như vậy, nên chúng sanh phiền não. Vì những nhân như vậy, những duyên như vậy nên chúng sanh thanh tịnh.”

Vô Úy bạch Phật:

“Thưa Cù-đàm, một phần triền cái đã đủ là phiền não tâm, huống chi là tất cả!”

Vô Úy lại bạch Phật:

“Bạch Cù-đàm, chúng sanh thanh tịnh có nhân gì, có duyên gì?“

Phật bảo Vô Úy:

“Nếu Bà-la-môn nào có một niệm thù thắng, quyết định thành tựu; những việc đã làm từ lâu, những lời nói từ lâu, có thể tùy theo nhớ nghĩ, ngay lúc ấy tu tập Niệm giác chi. Khi Niệm giác chi đã tu tập rồi, thì niệm giác đầy đủ. Khi niệm giác đã đầy đủ rồi, thì có sự lựa chọn, phân biệt, tư duy, lúc bấy giờ tu tập Trạch pháp giác chi. Khi đã tu tập Trạch pháp giác chi rồi, thì trạch pháp giác đầy đủ. Khi đã lựa chọn, phân biệt, suy lường pháp rồi, thì sẽ nỗ lực tinh tấn; ở đây, tu tập Tinh tấn giác chi. Khi đã tu tập Tinh tấn giác chi rồi, thì tinh tấn giác đầy đủ. Khi đã nỗ lực tinh tấn rồi, thì hoan hỷ sẽ sanh, xa lìa các tưởng về thức ăn, tu hỷ giác chi. Khi đã tu Hỷ giác chi rồi, thì hỷ giác đầy đủ. Khi Hỷ giác chi đã đầy đủ rồi, thì thân và tâm khinh an; lúc ấy tu Khinh an giác chi. Khi đã tu Khinh an giác chi rồi, thì khinh an giác sẽ đầy đủ. Khi thân đã khinh an rồi, thì sẽ được an lạc và khi đã an lạc rồi thì tâm sẽ định; khi ấy tu Định giác chi. Khi đã tu Định giác chi rồi, thì định giác sẽ đầy đủ, Khi định giác chi đã đầy đủ rồi, thì tham ái sẽ bị diệt và tâm xả sanh ra; khi ấy tu Xả giác chi. Khi đã tu Xả giác chi rồi, thì xả giác sẽ đầy đủ. Như vậy, này Vô Úy, vì nhân này, duyên này mà chúng sanh thanh tịnh.”

Vô Úy bạch Cù-đàm:

“Nếu một phần (trong bảy Giác chi này) đầy đủ, thì cũng khiến cho chúng sanh thanh tịnh, huống chi là tất cả.”

Vô Úy bạch Phật:

“Bạch Cù-đàm, kinh này tên gì và phải phụng trì như thế nào?”

Phật bảo vương tử Vô Úy:

“Nên gọi đây là kinh Giác Chi.”

Vô Úy bạch Phật:

“Bạch Cù-đàm, đây là giác phần tối thắng. Bạch Cù-đàm, con là Vương tử, đã an lạc, mà vẫn thường cầu an lạc, nhưng ít khi ra vào. Nay lên trên núi, tứ chi tuy mỏi mệt, nhưng được nghe Cù-đàm nói kinh Giác Chi nên quên tất cả sự mệt nhọc.”

Sau khi Phật nói kinh này xong, vương tử Vô Úy nghe những gì Phật đã dạy, hoan hỷ tùy hỷ, từ chỗ ngồi đứng lên, cúi đầu lễ dưới chân Phật rồi lui.

⏳ Đang tải SA712...

⚙️ Tùy Chỉnh Đọc