Tôi nghe như vầy:
Một thời, Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ. Bấy giờ Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Nên xa lìa tà kiến, nên đoạn trừ tà kiến. Nếu tà kiến mà không thể đoạn trừ được, thì Ta đã không bao giờ nói nên xa lìa tà kiến. Vì tà kiến có thể đoạn trừ được, nên Ta nói Tỳ-kheo hãy xa lìa tà kiến. Nếu không xa lìa tà kiến, thì tà kiến sẽ tạo ra cái khổ phi nghĩa, không lợi ích. Cho nên Ta nói hãy xa lìa tà kiến. Cũng vậy tà chí, tà ngữ, tà nghiệp, tà mạng, tà phương tiện, tà niệm, tà định cũng nói như vậy.
“Này các Tỳ-kheo, khi xa lìa tà kiến rồi, nên tu tập chánh kiến. Nếu chánh kiến tu không được, Ta đã không bao giờ nói tu tập chánh kiến. Vì tu tập chánh kiến được, nên Ta nói Tỳ-kheo hãy tu tập chánh kiến. Nếu không tu tập chánh kiến, thì sẽ tạo ra cái khổ phi nghĩa không lợi ích. Vì không tu tập chánh kiến tạo ra cái khổ phi nghĩa, không lợi ích, cho nên Ta nói phải tu tập chánh kiến, vì mục đích lợi ích, luôn được an lạc. Cho nên Tỳ-kheo hãy tu tập chánh kiến. Cũng vậy, chánh chí, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh phương tiện, chánh niệm, chánh định cũng nói như vậy.”
Sau khi Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật đã dạy, đều hoan hỷ phụng hành.
如是我聞:
一時,佛住舍衛國祇樹給T 0201a10孤獨園。
爾時,世尊告諸比丘:「應離邪見,應T 0201a11斷邪見,若邪見不可斷者,我終不說應T 0201a12離、斷邪見。以邪見可斷故,我說比丘當T 0201a13離邪見。若不離邪見者,邪見當作非義T 0201a14不饒益苦,是故我說當離邪見。如是邪志、T 0201a15邪語、邪業、邪命、邪方便、邪念、邪定亦如是說。
T 0201a16「諸比丘!離邪見已,當修正見,若不得修T 0201a17正見者,我終不說修習正見。以得修正T 0201a18見故,我說比丘應修正見。若不修正見者,T 0201a19當作非義不饒益苦,以不修正見,作非義T 0201a20不饒益苦故,是故我說當修正見,以義饒T 0201a21益,常得安樂。是故,比丘!當修正見。如是正T 0201a22志、正語、正業、正命、正方便、正念、正定亦如是T 0201a23說。」
佛說此經已,諸比丘聞佛所說,歡喜奉T 0201a24行。
T 0201a25 Thus I have heard:
One time, the Buddha was staying at Anāthapiṇḍada’s Park in Jeta’s Grove of Śrāvastī.
It was then that the Bhagavān addressed the monks,
“You must part with wrong views; you must stop wrong views.
If stopping wrong views wasn’t possible, then I would never say that you must part with and stop wrong views.
It’s because wrong views can be stopped that I say monks should part with wrong views.
If they don’t part with wrong views, then wrong views will make them undertake what’s aimless, unbeneficial, and painful.
I therefore say you must part with wrong views.
Thus, wrong intention, wrong speech, wrong action, wrong livelihood, wrong effort, wrong mindfulness, and wrong concentration are likewise explained.
“Monks, after you part with wrong views, you must cultivate right views.
If cultivating right views wasn’t possible, I would never say that you must cultivate right views.
It’s because right views can be cultivated that I say monks must cultivate right views.
If they don’t cultivate right views, they will undertake what’s aimless, unbeneficial, and painful.
Because not cultivating right views undertakes what’s aimless, unbeneficial, and painful, I therefore say you must cultivate right views.
Because they are purposeful and beneficial, you’ll always attain well-being.
Therefore, monks, you must cultivate right views.
Thus, right intention, right speech, right action, right livelihood, right effort, right mindfulness, and right concentration are likewise explained.”
After the Buddha taught this sūtra, the monks who heard what he taught rejoiced and approved.
Tôi nghe như vầy:
Một thời, Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ. Bấy giờ Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Nên xa lìa tà kiến, nên đoạn trừ tà kiến. Nếu tà kiến mà không thể đoạn trừ được, thì Ta đã không bao giờ nói nên xa lìa tà kiến. Vì tà kiến có thể đoạn trừ được, nên Ta nói Tỳ-kheo hãy xa lìa tà kiến. Nếu không xa lìa tà kiến, thì tà kiến sẽ tạo ra cái khổ phi nghĩa, không lợi ích. Cho nên Ta nói hãy xa lìa tà kiến. Cũng vậy tà chí, tà ngữ, tà nghiệp, tà mạng, tà phương tiện, tà niệm, tà định cũng nói như vậy.
“Này các Tỳ-kheo, khi xa lìa tà kiến rồi, nên tu tập chánh kiến. Nếu chánh kiến tu không được, Ta đã không bao giờ nói tu tập chánh kiến. Vì tu tập chánh kiến được, nên Ta nói Tỳ-kheo hãy tu tập chánh kiến. Nếu không tu tập chánh kiến, thì sẽ tạo ra cái khổ phi nghĩa không lợi ích. Vì không tu tập chánh kiến tạo ra cái khổ phi nghĩa, không lợi ích, cho nên Ta nói phải tu tập chánh kiến, vì mục đích lợi ích, luôn được an lạc. Cho nên Tỳ-kheo hãy tu tập chánh kiến. Cũng vậy, chánh chí, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh phương tiện, chánh niệm, chánh định cũng nói như vậy.”
Sau khi Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật đã dạy, đều hoan hỷ phụng hành.
Thus I have heard:
One time, the Buddha was staying at Anāthapiṇḍada’s Park in Jeta’s Grove of Śrāvastī.
It was then that the Bhagavān addressed the monks,
“You must part with wrong views; you must stop wrong views.
If stopping wrong views wasn’t possible, then I would never say that you must part with and stop wrong views.
It’s because wrong views can be stopped that I say monks should part with wrong views.
If they don’t part with wrong views, then wrong views will make them undertake what’s aimless, unbeneficial, and painful.
I therefore say you must part with wrong views.
Thus, wrong intention, wrong speech, wrong action, wrong livelihood, wrong effort, wrong mindfulness, and wrong concentration are likewise explained.
“Monks, after you part with wrong views, you must cultivate right views.
If cultivating right views wasn’t possible, I would never say that you must cultivate right views.
It’s because right views can be cultivated that I say monks must cultivate right views.
If they don’t cultivate right views, they will undertake what’s aimless, unbeneficial, and painful.
Because not cultivating right views undertakes what’s aimless, unbeneficial, and painful, I therefore say you must cultivate right views.
Because they are purposeful and beneficial, you’ll always attain well-being.
Therefore, monks, you must cultivate right views.
Thus, right intention, right speech, right action, right livelihood, right effort, right mindfulness, and right concentration are likewise explained.”
After the Buddha taught this sūtra, the monks who heard what he taught rejoiced and approved.