Tôi nghe như vầy:
Một thời, Phật ở tại nước Minh-ninh, đất A-nậu-di. Cùng với chúng đại Tỳ-kheo một ngàn hai trăm năm mươi người.
Bấy giờ, Thế Tôn khoác y cầm bát vào thành A-nậu-di khất thực. Rồi Thế Tôn thầm nghĩ: “Bây giờ còn quá sớm để di khất thực. Ta hãy đến khu vườn của Phạm-chí Phòng-già-bà. Tỳ-kheo cần phải đúng giờ mới đi khất thực”.
Thế Tôn đi đến khu vườn kia. Khi ấy Phạm-chí từ xa trông thấy Phật liền đứng dậy nghinh tiếp, cùng chào hỏi, rằng: “Hoan nghinh Cù-đàm. Từ lâu không đến. Nay do duyên gì lại khuất tất đến đây? Xin mời Cù-đàm ngồi chỗ này.”
Thế Tôn liền ngồi vào chỗ ấy. Phạm-chí ngồi một bên, bạch Thế Tôn:
“Đêm hôm qua có Tỳ-kheo Thiện Tú người Lệ-xa đến chỗ tôi nói rằng: ‘Đại sư, tôi không theo Phật tu phạm hạnh nữa. Sở dĩ vậy là vì Phật bỏ tôi ra ngoài.’ Người ấy nói với tôi những khuyết điểm của Cù-đàm. Tuy có nói như vậy, nhưng tôi không chấp nhận.”
Phật nói với Phạm-chí:
“Ta biết ông không chấp nhận điều mà Thiện Tú kia nói. Xưa, một thời, Ta đang ở trên Tập pháp đường, bên bờ hồ Di hầu, thuộc Tỳ-da-li. Khi ấy Thiện Tú này đi đến chỗ Ta, nói với Ta rằng: ‘Như Lai bỏ con ra ngoài. Con không theo Như Lai tu phạm hạnh nữa.’ Ta khi ấy nói rằng: ‘Ngươi vì sao nói rằng ‘Con không theo Như Lai tu phạm hạnh nữa, vì Như Lai bỏ con ra ngoài’?’ Thiện Tú đáp: ‘Như Lai không hiện thần túc biến hóa cho con thấy.’
“Ta khi ấy nói rằng: ‘Ta có vời ngươi đến trong pháp Ta tịnh tu phạm hạnh, rằng Ta sẽ hiện thần túc cho ngươi thấy không? Hoặc ngươi có nói với Ta rằng ‘Nếu Như Lai hiện thần túc biến hóa cho con thấy, nhiên hậu con mới tu phạm hạnh’ chăng?’ Khi ấy Thiện Tú trả lời Ta rằng: ‘Không, bạch Thế Tôn’.”
Phật nói với Thiện Tú:
“Ta cũng không nói với ngươi: ‘Ngươi hãy ở trong Pháp của Ta mà tịnh tu phạm hạnh, Ta sẽ hiện thần túc biến hóa cho thấy.’ Ngươi cũng không nói: ‘Hãy hiện thần túc cho con thấy, con sẽ tu phạm hạnh.’ Thế nào, Thiện Tú, theo ý ngươi, dù Như Lai có hiện thần thông hay không, pháp mà Ta giảng thuyết, pháp ấy có khả năng dẫn đến xuất ly, tận cùng biên tế của khổ chăng?”
Thiện Tú bạch Phật:
“Đúng vậy, Thế Tôn. Dù Như Lai có thị hiện thần túc hay không, pháp được giảng dạy đều có khả năng dẫn đến xuất ly, diệt tận biên tế của khổ, chứ không phải không diệt tận.”
“Cho nên, này Thiện Tú, ai tu hành phạm hạnh theo pháp mà Ta giảng dạy thì có thể hiện thần túc chứ không phải không thể. Vì pháp ấy dẫn đến xuất ly, không phải không thể xuất ly. Ngươi còn mong cầu cái gì đối với pháp ấy?”
Thiện Tú nói:
“Thế Tôn không tùy thời dạy con bí thuật của cha con mà Thế Tôn biết hết nhưng vì keo kiệt nên không dạy cho con.”
Phật nói:
“Thiện Tú, Ta có bao giờ nói với ngươi rằng: Ngươi hãy ở trong pháp Ta tu phạm hạnh, Ta sẽ dạy cho ngươi bí thuật của cha ngươi chăng?”
Đáp: “Không”.
“Cho nên, này Thiện Tú, trước đây Ta không nói như vậy. Ngươi cũng không nói. Vậy tại sao nay nói như thế?
“Thế nào, Thiện Tú, dù Như Lai có nói bí thuật của cha ngươi, hay không nói, pháp mà Ta giảng dạy có dẫn đến xuất ly, diệt tận biên tế của khổ chăng?”
Thiện Tú nói:
“Như Lai có nói bí thuật của cha con hay không nói, pháp đã được giảng dạy có thể dẫn đến xuất ly, diệt tận biên tế của khổ, chứ không phải không thể.”
Phật lại bảo Thiện Tú:
“Dù Ta có nói bí thuật của cha ngươi hay không, nhưng pháp mà Ta nói có thể dẫn đện sự xuất ly, sự lìa khổ, thì ngươi còn tỳm cái gì trong pháp của Ta?”
Phật lại nói với Thiện Tú:
“Ngươi, trước kia ở trong lãnh thổ của người Bạt-xà, thuộc Tỳ-xá-li, đã bằng vô số phương tiện xưng tán Như Lai, xưng tán Chánh pháp, xưng tán Chúng tăng. Cũng như một người khen ngợi một cái ao trong mát kia bằng tám cách khiến mọi người ưa thích: một, lạnh; hai, nhẹ, ba, mềm, bốn, trong; năm, ngọt; sáu, không bẩn; bảy, uống không chán; tám, khỏe người. Ngươi cũng vậy, ở trong lãnh thổ Bạt-xà, Tỳ-xá-li, xưng tán Như Lai, xưng tán Chánh pháp, xưng tán Chúng tăng, khiến mọi người tin vui. Thiện Tú, nên biết, ngày nay ngươi bị lui sụt, người đời sẽ nói rằng: ‘Tỳ-kheo Thiện Tú được nhiều người biết đến, lại thân cận Thế Tôn, và cũng là đệ tử Thế Tôn; nhưng không thể trọn đời tịnh tu phạm hạnh; đã xả giới, hoàn tục, sống đời sống thấp hèn.’ Phạm-chí, nên biết, khi ấy Ta nói đủ lời, nhưng Thiện Tú không thuận lời dạy của Ta, mà đã xả giới hoàn tục.
“Phạm-chí, một thời Ta ở tại Tập pháp đường bên bờ hồ Di hầu; khi ấy có Ni-kiền Tử tên là Già-la-lâu dừng chân tại chỗ kia, được mọi người sùng kính, tiếng tăm đồn xa, được nhiều người biết đến, lợi dưỡng đầy đủ. Khi ấy Tỳ-kheo Thiện Tú khoác y cầm bát vào thành Tỳ-xá-li khất thực; đi lần đến chỗ Ni-kiền Tử. Bấy giờ, Thiện Tú hỏi Ni-kiền Tử bằng ý nghĩa sâu xa. Ni-kiền Tử ấy không đáp được, liền sanh tâm sân hận. Thiện Tú nghĩ thầm: ‘Ta làm người này bực bội, sẽ phải chịu quả báo lâu dài chăng?’ Phạm-chí, nên biết, Tỳ-kheo Thiện Tú sau khi khất thực về, cầm y bát đến chỗ Ta, đầu mặt lễ dưới chân, rồi ngồi xuống một bên. Thiện Tú khi ấy không đem duyên cớ ấy mà kể lại với Ta. Ta nói với Thiện Tú rằng: ‘Người ngu kia, ngươi há có thể tự nhận mình là Sa-môn Thích tử chăng?’ Thiện Tú giây lát hỏi Ta rằng: ‘Thế Tôn vì duyên cớ gì mà gọi con là người ngu? Không vô biên xứng đáng tự nhận là Sa-môn Thích tử?’ Ta nói: ‘Người ngu kia, có phải ngươi đã đến Ni-kiền Tử mà hỏi ý nghĩa sâu xa, nhưng người kia không đáp được bèn sanh sân hận. Ngươi nghĩ thầm: ‘Ta nay làm người này bực bội, há sẽ phải chịu quả báo đau khổ lâu dài chăng?’ Ngươi có nghĩ như vậy không?’ Thiện Tú bạch Phật rằng: ‘Người kia là A-la-hán. Sao Thế Tôn có tâm ganh tị, thù ghét ấy?’ Ta khi ấy trả lời rằng: ‘Người ngu kia, La-hán làm sao lại có tâm ganh tị, thù ghét? Ta, La-hán, không có tâm ganh tị, thù ghét. Ngươi nay tự cho người kia là La-hán. Người kia có bảy sự khổ hạnh đã được gìn giữ lâu ngày. Bảy khổ hạnh ấy là gì? Một, suốt đời không mặc quần áo. Hai, suốt đời không uống rượu, ăn thịt, cũng không ăn cơm và bột các thứ. Ba, suốt đời không vi phạm phạm hạnh. Bốn, trọn đời không rời bốn tháp bằng đá ở Tỳ-xá-li; phía Đông là tháp Ưu viên, phía Nam tháp Voi, phía Tây tháp Đa tử, phía Bắc tháp Thất tụ. Trọn đời không rời khỏi bốn tháp ấy, coi đó là bốn sự khổ hạnh. Nhưng người ấy về sau vi phạm bảy khổ hạnh này và mạng chung ở ngoài thành Tỳ-xá-li. Cũng như con chó sói bịnh suy vì ghẻ lỡ mà chết trong bãi tha ma. Ni-kiền Tử kia cũng vậy. Tự mình đặt cấm pháp, sau lại phạm hết. Trước tự thề rằng suốt đời không mặc quần áo, sau đó lại mặc. Trước tự mình thề rằng suốt đời không uống rượu, ăn thịt và không ăn các thứ bột, nhưng về sau lại ăn hết. Trước vốn tự mình thề rằng suốt đời không vượt qua khỏi bốn cái tháp: phía đông tháp Ưu viên, nam tháp Voi, tây tháp Đa tử, bắc tháp Thất tụ. Nay trái lời hết, rời xa không còn gần gũi nữa. Người ấy sau khi vi phạm bảy lời thề ấy rồi, ra khỏi thành Tỳ-xá-li, chết trong bãi tha ma.’ Phật bảo Thiện Tú: ‘Người ngu kia, ngươi không tin lời Ta. Ngươi hãy tự mình đi xem, sẽ tự mình biết’.”
Phật nói với Phạm-chí:
“Một thời, Tỳ-kheo Thiện Tú khoác y cầm bát vào thành khất thực. Khất thực xong, lại ra khỏi thành, đi đến một khoảng trống trong bãi tha ma, thấy Ni-kiền Tử kia chết ở đó. Sau khi thấy như vậy, về đến chỗ Ta, đầu mặt lễ dưới chân, rồi ngồi sang một bên, nhưng không kể lại chuyện ấy với Ta. Phạm-chí, nên biết, lúc ấy Ta nói với Thiện Tú: ‘Thế nào, Thiện Tú, những điều Ta ghi nhận về Ni-kiền Tử trước đây, có đúng như vậy không?’ Đáp rằng: ‘Đúng vậy, đúng như lời Thế Tôn đã nói.’ Phạm-chí, nên biết, Ta đã hiện thần thông chứng minh cho Thiện Tú, nhưng kia lại nói: ‘Thế Tôn không thị hiện thần thông cho con’.”
“Lại một thời, Ta ở tại ấp Bạch thổ nước Minh-ninh, lúc bấy giờ có Ni-kiền Tử tên là Cứu-la-đế, trú tại Bạch thổ, được mọi người sùng kính, tiếng tăm đồn xa, được nhiều lợi dưỡng. Khi ấy, Ta khoác y cầm bát vào thành khất thực. Tỳ-kheo Thiện Tú lúc bấy giờ đi theo Ta, thấy Ni-kiền Tử Cứu-la-đế đang nằm phục trên một đống phân mà liếm bã trấu. Phạm-chí, nên biết, khi Tỳ-kheo Thiện Tú thấy Ni-kiền Tử này nằm phục trên đống phân mà ăn bã trấu, liền suy nghĩ rằng: ‘Các A-la-hán hay những vị đang hướng đến quả A-la-hán trong thế gian không ai kịp vị này. Đạo của vị Ni-kiền Tử này là bậc nhất hơn hết. Vì sao? Người khổ hạnh mới được như vậy, dứt bỏ kiêu mạn, nằm trên đống phân mà liếm bã trấu.’
“Phạm-chí, bấy giờ Ta xoay người theo hướng phải, nói với Thiện Tú rằng: ‘Người ngu kia, ngươi há có thể tự nhận là Thích tử chăng?’ Thiện Tú bạch Phật rằng: ‘Thế Tôn, vì sao gọi con là người ngu, không vô biên xứng đáng tự nhận là Thích tử?’ Phật nói với Thiện Tú: ‘Ngươi ngu si, ngươi quan sát Cứu-la-đế này ngồi chồm hỗm trên đống phân mà ăn bã trấu liền nghĩ rằng: Trong các A-la-hán hay những vị đang hướng đến quả La hán, Cứu-la-đế này là tối tôn, tối thượng. Vì sao? Nay Cứu-la-đế này có thể hành khổ hạnh, trừ kiêu mạn, ngồi chồm hỗm trên đống phân mà ăn bã trấu. Ngươi có ý nghĩ như vậy không?’ Đáp rằng: ‘Thật vậy.’ Thiện Tú lại nói: ‘Thế Tôn vì sao sanh tâm ganh tị với một vị A-la-hán?’ Phật nói: ‘Người ngu kia, Ta không hề sanh tâm ganh tị đối với một vị A-la-hán. Tại sao nay lại sanh tâm tật đố đối với một vị A-la-hán? Ngươi, người ngu kia, bảo Cứu-la-đế là một vị chân A-la-hán. Nhưng người này sau bảy ngày nữa sẽ sình bụng mà chết, tái sanh làm quỉ đói thây ma biết đi, thường chịu khổ vì đói. Sau khi mạng chung, được buộc bằng cọng lau mà lôi vào bãi tha ma. Nếu người không tin, hãy đến báo trước cho người ấy biết.’
“Rồi Thiện Tú liền đi đến chỗ Cứu-la-đế, bảo rằng: ‘Sa-môn Cù-đàm kia tiên đoán rằng bảy ngày nữa ông sẽ bị sình bụng mà chết, sanh vào trong loài quỉ đói thây ma biết đi; sau khi chết, được buộc bằng sợi dây lau và lôi vào bãi tha ma.’ Thiện Tú lại dặn: ‘Ông hãy ăn uống cẩn thận, chớ để lời ấy đúng.’ Phạm-chí, nên biết, qua bảy ngày, Cứu-la-đế bị sình bụng mà chết, tức thì sanh vào trong loài quỉ đói thây ma; sau khi chết, được buộc bằng dây lau và lôi vào bãi tha ma. Thiện Tú sau khi nghe Phật nói, co ngón tay tính ngày. Cho đến ngày thứ bảy, Tỳ-kheo Thiện Tú đi đến xóm lõa hình, hỏi người trong xóm: ‘Này các bạn, Cứu-la-đế nay đang ở đâu?’ Đáp rằng: ‘Chết rồi.’ Hỏi: ‘Vì sao chết?’ Đáp: ‘Bị sình bụng.’ Hỏi: ‘Chôn cất thế nào?’ Đáp: ‘Được buộc bằng dây lau và lôi vào bãi tha ma.’
“Phạm-chí, Thiện Tú sau khi nghe như vậy, liền đi đến bãi tha ma. Khi sắp sửa đến nơi, hai đầu gối của thây ma động đậy, rồi bồng nhiên ngồi chồm hỗm dậy. Tỳ-kheo Thiện Tú vẫn cứ đi đến trước thây ma, hỏi: ‘Cứu-la-đế, ông chết rồi phải không?’ Thây ma đáp: ‘Ta chết rồi.’ Hỏi: ‘Ông đau gì mà chết?’ Đáp: ‘Cù-đàm đã tiên đoán ta sau bảy ngày sình bụng mà chết. Quả như lời, qua bảy ngày, ta sình bụng mà chết.’ Thiện Tú lại hỏi: ‘Ông sanh vào chỗ nào?’ Đáp: ‘Như Cù-đàm tiên đoán, ta sẽ sanh vào loài quỉ đói thây ma biết đi. Nay ta sanh vào trong quỉ đói làm thây ma biết đi.’ Thiện Tú hỏi: ‘Khi ông chết, được chôn cất như thế nào?’ Thây ma đáp: ‘Như Cù-đàm đã tiên đoán, ta sẽ được buộc bằng dây lau rồi lôi vào bãi tha ma. Quả như lời, ta được buộc bằng dây lau rồi lôi vào bãi tha ma.’ Rồi thây ma nói với Thiện Tú: ‘Ngươi tuy xuất gia mà không được điều thiện lợi. Sa-môn Cù-đàm nói như vậy, mà ngươi thường không tin.’ Nói xong, thây ma lại nằm xuống.
“Phạm-chí, bấy giờ Tỳ-kheo Thiện Tú đi đến chỗ Ta, đảnh lễ xong, ngồi xuống một bên, nhưng không kể lại chuyện ấy với Ta. Ta liền nói: ‘Như lời Ta tiên đoán, Cứu-la-đế có thật như vậy không?’ Đáp: ‘Thật vậy, đúng như Thế Tôn nói.’ Phạm-chí, Ta nhiều lần như vậy thị hiện thần thông chứng cho Tỳ-kheo Thiện Tú, nhưng kia vẫn nói: ‘Thế Tôn không hiện thần thông cho con thấy’.”
Phật lại nói với Phạm-chí:
“Một thời, Ta ở tại Tập pháp đường, bên bờ hồ Di hầu. Khi ấy có Phạm-chí tên là Ba-lê Tử, đang ngụ tại chỗ kia, được mọi người sùng kính, có nhiều lợi dưỡng. Người ấy ở giữa quần chúng Tỳ-xá-li nói như vậy: ‘Sa-môn Cù-đàm tự nhận là có trí tuệ; ta cũng có trí tuệ. Sa-môn Cù-đàm tự nhận có thần túc; ta cũng có thần túc. Sa-môn Cù-đàm đã đạt được đạo siêu việt; ta cũng đạt được đạo siêu việt. Ta sẽ cùng ông ấy hiện thần thông. Sa-môn hiện một, ta sẽ hiện hai. Sa-môn hiện hai, ta sẽ hiện bốn. Sa-môn hiện tám, ta sẽ hiện mười sáu. Sa-môn hiện mười sáu, ta sẽ hiện ba mươi hai. Sa môn hiện ba mươi hai, ta hiện sáu mươi tư. Tùy theo Sa-môn ấy hiện nhiều hay ít, ta sẽ hiện gấp đôi.’
“Phạm-chí, khi ấy Tỳ-kheo Thiện Tú khoác y cầm bát vào thành khất thực. Trông thấy Phạm-chí Ba-lê Tử đang nói như vậy giữa quần chúng: ‘Sa-môn Cù-đàm tự nhận là có trí tuệ; ta cũng có trí tuệ. Sa-môn Cù-đàm tự nhận có thần túc; ta cũng có thần túc. Sa-môn Cù-đàm đã đạt được đạo siêu việt; ta cũng đạt được đạo siêu việt. Ta sẽ cùng ông ấy hiện thần thông. Sa-môn hiện một, ta sẽ hiện hai. Sa-môn hiện hai, ta sẽ hiện bốn. Sa-môn hiện tám, ta sẽ hiện mười sáu. Sa-môn hiện mười sáu, ta sẽ hiện ba mươi hai. Sa môn hiện ba mươi hai, ta hiện sáu mươi tư. Tùy theo Sa-môn ấy hiện nhiều hay ít, ta sẽ hiện gấp đôi.’ Tỳ-kheo Thiện Tú sau khi khất thực xong, về đến chỗ Ta, đảnh lễ rồi ngồi xuống một bên, nói với Ta rằng: ‘Sáng nay, con khoác y cầm bát vào thành khất thực, nghe Ba-lê Tử ở Tỳ-xá-li đang nói như vầy: ‘Sa-môn Cù-đàm tự nhận là có trí tuệ; ta cũng có trí tuệ. Sa-môn Cù-đàm tự nhận có thần túc; ta cũng có thần túc. Sa-môn Cù-đàm đã đạt được đạo siêu việt; ta cũng đạt được đạo siêu việt. Ta sẽ cùng ông ấy hiện thần thông. Sa-môn hiện một, ta sẽ hiện hai; cho đến, tùy theo Sa-môn ấy hiện nhiều hay ít, ta sẽ hiện gấp đôi.’ Sự việc ấy được kể lại cho Ta đầy đủ. Ta nói với Thiện Tú: ‘Ba-lê Tử ở giữa quần chúng, nếu không từ bỏ lời ấy mà đi đến Ta, sẽ không có trường hợp ấy. Nếu người kia nghĩ rằng: ‘Ta không từ bỏ lời ấy, không từ bỏ quan điểm ấy, không xả bỏ kiêu mạn ấy, mà cứ đi đến Sa-môn Cù-đàm, thì đầu ông ấy sẽ bị vỡ làm bảy mảnh. Không có trường hợp người ấy không từ bỏ lời ấy, không từ bỏ kiêu mạn ấy, mà vẫn đi đến Ta.’
“Thiện Tú nói: ‘Thế Tôn hãy giữ miệng. Như Lai hãy giữ miệng.’ Phật hỏi Thiện Tú: ‘Vì sao ngươi nói: Thế Tôn hãy giữ miệng. Như Lai hãy giữ miệng?’ Thiện Tú nói: ‘Ba-lê Tử kia có uy thần lớn, có uy lực lớn. Giả sử ông ấy đến thật, há không phải Thế Tôn hư dối sao?’ Phật bảo Thiện Tú: ‘Như Lai có bao giờ nói hai lời không?’ Đáp: ‘Không.’ Phật lại bảo Thiện Tú: ‘Nếu không có hai lời, tại sao ngươi lại nói: Thế Tôn hãy giữ miệng. Như Lai hãy giữ miệng?’ Thiện Tú bạch Phật: ‘Thế Tôn do tự mình thấy biết Ba-lê Tử, hay do Chư Thiên nói?’ Phật nói: ‘Ta tự mình biết, và cũng do Chư Thiên đến nói cho nên biết. Đại tướng A-do-đà ở Tỳ-xá-li này sau khi thân hoại mạng chung sanh vào trời Đao-lị. Ông đến nói với Ta rằng: ‘Phạm-chí Ba-lê Tử kia không biết xấu hổ, phạm giới, vọng ngữ, ở Tỳ-xá-li, giữa quần chúng, nói lời phỉ báng như vầy: Đại tướng A-do-đà sau khi thân hoại mạng chung sanh vào loài quỷ thây ma biết đi. Nhưng thật sự con thân hoại mạng chung sanh vào trời Đao-lị.’ Ta đã tự mình biết trước việc Ba-lê Tử, và cũng do Chư Thiên nói lại nên biết.’”
Phật nói:
“Kẻ ngu si, Thiện Tú, ngươi không tin Ta, thì hãy vào thành Tỳ-xá-li, tùy ý mà rao lên. Ta sau bữa ăn sẽ đi đến chỗ Phạm-chí Ba-lê Tử.’”
Phật lại nói với Phạm-chí:
“Bấy giờ, Thiện Tú kia sau khi qua đêm khoác y cầm bát vào thành khất thực. Khi ấy Thiện Tú kia hướng đến các Bà-la-môn, Sa-môn, Phạm-chí trong thành Tỳ-xá-li kể đủ câu chuyện rằng: ‘Phạm-chí Ba-lê Tử ở giữa đại chúng đã tuyên bố lời này: ‘Sa-môn Cù-đàm tự nhận là có trí tuệ;ta cũng có trí tuệ. Sa-môn Cù-đàm có đại uy lực; ta cũng có đại uy lực. Sa-môn Cù-đàm tự nhận có Đại thần túc; ta cũng có Đại thần túc. Sa-môn hiện một, ta sẽ hiện hai; cho đến, tùy theo Sa-môn ấy hiện nhiều hay ít, ta sẽ hiện gấp đôi.’ Nhưng nay Sa-môn Cù-đàm sẽ đi đến chỗ Ba-lê Tử kia. Các vị cũng nên đến đó hết.’
“Khi ấy Phạm-chí Ba-lê đang đi trên đường. Thiện Tú trông thấy, vội vã đến gần, nói rằng: ‘Ông ở giữa đám đông của Tỳ-xá-li đã tuyên bố như vầy: ‘Sa-môn Cù-đàm có đại trí tuệ, ta cũng có đại trí tuệ, cho đến, tùy theo Sa-môn ấy hiện nhiều hay ít, ta sẽ hiện gấp đôi.’ Sa-môn Cù-đàm nghe lời tuyên bố ấy, nay muốn đến chỗ ông. Ông hãy về nhanh đi.’ Đáp rằng: ‘Ta sẽ về ngay. Ta sẽ về ngay.’ Nói như thế rồi, giây lát cảm thấy hoảng sợ, lông tóc dựng đứng, không trở về chỗ cũ, mà đi đến khu rừng của Phạm-chí Đạo-đầu-ba-lê, ngồi trên võng, rầu rĩ, mê loạn.”
Phật bảo Phạm-chí:
“Ta, sau bữa ăn, cùng với nhiều người Lệ-xa, Sa-môn, Bà-la-môn, Phạm-chí, Cư sĩ, đi đến trú xứ của Ba-lê-tử, ngồi lên chỗ ngồi. Trong đám đông ấy có một Phạm-chí tên là Giá-la. Khi ấy, mọi người kêu Giá-la, bảo rằng: ‘Ông hãy đi đến rừng Đạo-đầu nói với Ba-lê Tử: ‘Nay nhiều người Lệ-xa, Sa-môn, Bà-la-môn, Phạm-chí, Cư sĩ đều tụ tập hết nơi rừng của ông. Mọi người cùng bàn luận rằng, Phạm-chí Ba-lê ở giữa đám đông tự mình xướng lên lời này: ‘Sa-môn Cù-đàm có đại trí tuệ, ta cũng có đại trí tuệ, cho đến, tùy theo Sa-môn ấy hiện nhiều hay ít, ta sẽ hiện gấp đôi.’ Sa-môn Cù-đàm vì vậy đã đến nơi rừng của ông. Ông hãy đến xem.’ Rồi thì, Già-la sau khi nghe mọi người nói, bèn đi đến rừng bảo Đạo-đầu Ba-lê Tử rằng: ‘Nay nhiều người Lệ-xa, Sa-môn, Bà-la-môn, Phạm-chí, Cư sĩ đều tụ tập hết nơi rừng của ông. Mọi người cùng bàn luận rằng, Phạm-chí Ba-lê ở giữa đám đông tự mình xướng lên lời này: ‘Sa-môn Cù-đàm có đại trí tuệ, ta cũng có đại trí tuệ, cho đến, tùy theo Sa-môn ấy hiện nhiều hay ít, ta sẽ hiện gấp đôi.’ Sa-môn Cù-đàm nay đang ở nơi rừng kia. Ba-lê, ông có về không?’ Khi ấy, Phạm-chí Ba-lê liền đáp: ‘Sẽ về. Sẽ về.’ Nói như vậy xong, ở trên võng mà day trở không yên. Bấy giờ, võng lại làm cho vướng chân, khiến ông không thể rời khỏi võng, huống hồ đi đến Thế Tôn.
“Thế rồi, Già-la nói với Phạm-chí Ba-lê: ‘Ngươi tự vô trí, chỉ có tiếng nói rỗng không: ‘Sẽ về. Sẽ về.’ Nhưng vẫn không thể rời khỏi cái võng ấy, sao có thể đi đến chỗ đại chúng?’ Trách mắng Ba-lê Tử xong, ông bèn trở về chỗ đại chúng, báo rằng: ‘Tôi nhân danh đại chúng, đi đến đó nói với Ba-lê Tử. Y trả lời: ‘Sẽ về. Sẽ về.’ Ngay lúc ấy, ônt ta ở trên võng chuyển động thân thể, nhưng võng dính vào chân không rời được. Y còn không thể rời khỏi cái võng, sao có thể đến đại chúng này được?’
“Bấy giờ, có một Lệ-xa Tử là Đầu-ma đang ngồi trong chúng, liền đứng dậy, trịch áo bày vai phải, quỳ dài, chắp tay, bạch đại chúng rằng: ‘Đại chúng hãy đợi một lát. Tôi sẽ tự mình đến dẫn người ấy lại đây’.”
Phật nói:
“Ta khi ấy nói với Lệ-xa Tử Đầu-ma rằng: ‘Người kia đã tuyên bố như vậy, ôm giữ kiến giải như vậy, khởi kiêu mạn như vậy; mà muốn khiến cho người ấy đi đến chỗ Phật, thì không thể được. Đầu-ma Tử, giả sử ông lấy dây quấn nhiều lớp, rồi khiến bầy bò cùng kéo, cho đến thân thể người ấy bị rã rời, cuối cùng người ấy vẫn sẽ không thể từ bỏ lời nói như vậy, kiến giải như vậy, kiêu mạn như vậy, để đến chỗ Ta. Nếu không tin lời Ta, ngươi hãy đến đó tự mình khắc biết.’
“Bấy giờ, Lệ-xa Tử Đầu-ma vẫn cố đi đến chỗ Ba-lê-tử, nói với Ba-lê Tử rằng: ‘Nhiều người Lệ-xa, Sa-môn, Bà-la-môn, Phạm-chí, cư sĩ đều tụ tập hết nơi rừng của ông. Mọi người cùng bàn luận rằng, Phạm-chí Ba-lê ở giữa đám đông tự mình xướng lên lời này: ‘Sa-môn Cù-đàm có đại trí tuệ, ta cũng có đại trí tuệ, cho đến, tùy theo Sa-môn ấy hiện nhiều hay ít, ta sẽ hiện gấp đôi.’Sa-môn Cù-đàm nay đang ở nơi rừng kia. Ông hãy về đi.’ Lúc ấy, Ba-lê Tử đáp: ‘Sẽ về. Sẽ về.’ Nói như vậy rồi, ông ở trên võng mà chuyển động thân mình, nhưng khi ấy võng lại vướng vào chân, khiến ông không thể rời khỏi võng, huống nữa là đi đến chỗ Thế Tôn.
“Thế rồi, Đầu-ma nói với Ba-lê Tử rằng: ‘Ngươi tự vô trí, chỉ có tiếng nói rỗng không: Sẽ về, sẽ về. Nhưng tự mình còn không thể rời khỏi cái võng này, đâu có thể đi đến chỗ đại chúng!’
“Đầu-ma lại nói với Ba-lê Tử: ‘Những người có trí, do thí dụ mà được hiểu rõ. Thuở lâu xa xưa có một sư tử chúa tể loài thú sống trong rừng sâu. Vào buổi sáng sớm, sư tử ra khỏi hang, nhìn ngắm bốn phía, vươn mình rống lên ba tiếng, sau đó rảo quanh kiếm thịt mà ăn. Này Ba-lê Tử, sư tử chúa tể loài thú kia ăn xong rồi trở về rừng, thường có một con dã can đi theo sau ăn tàn, khí lực sung mãn, bèn tự bảo: Sư tử trong rừng kia cuối cùng là con thú gì? Hơn ta được chăng? Nay ta hãy độc chiếm một khu rừng, sáng sớm ra khỏi hang, nhìn quanh bốn phía, vươn mình rống lên ba tiếng, sau đó rảo quanh. Nó muốn học tiếng rống sư tử, nhưng lại ré lên tiếng dã can. Này Ba-lê Tử, ngươi ở đây cũng vậy. Nhờ uy đức của Phật mà sống còn ở đời, được người cúng dường; nhưng nay lại tranh đua với Như Lai.’ Rồi Đầu-ma nói bài kệ chỉ trích:
Dã can xưng sư tử
Tự cho mình vua thú
Muốn rống tiếng sư tử
Lại ré tiếng dã can.
Một mình trong rừng vắng
Tự cho mình vua thú
Muốn rống tiếng sư tử
Lại ré tiếng dã can.
Quỳ xuống kiếm chuột hang,
Tha ma tỳm xác chết;
Muốn rống tiếng sư tử,
Lại ré tiếng dã can.
“Đầu-ma nói rằng: ‘Ngươi cũng vậy. Nhờ ơn Phật mà sống còn ở đời, được người cúng dường; nhưng nay lại tranh đua với Như Lai.’ Khi ấy Đầu-ma lấy bốn thí dụ, trách mắng thẳng mặt, sau đó, trở về chỗ đại chúng, báo rằng: ‘Tôi đã nhân danh đại chúng đi gọi Ba-lê Tử. Người kia trả lời tôi: ‘Sẽ về. Sẽ về.’ Rồi ông ta ở trên võng chuyển động thân, nhưng võng liền vướng chân không thể rời ra được. Ông ta vẫn không thể rời khỏi võng, nói gì chuyện đi đến đại chúng này!’
“Bấy giờ Thế Tôn nói với Đầu-ma: ‘Ta đã nói trước với ngươi, muốn cho người ấy đi đến chỗ Phật, không thể được. Giả sử ngươi lấy sợi dây da bó nhiều lớp rồi cho bầy bò kéo, cho đến thân thể rã rời, cuối cùng ông kia vẫn không xả bỏ lời ấy, kiến giải ấy, kiêu mạn ấy, để đi đến Ta.’
“Này Phạm-chí, bấy giờ, Ta liền thuyết nhiều pháp khác nhau cho đại chúng, khai thị, giáo huấn, làm cho ích lợi, hoan hỷ. Ở trong chúng, Ta ba lần cất tiếng rống sư tử, rồi cất mình bay lên hư không, Ta trở về chỗ cũ.”
Phật nói với Phạm-chí:
“Hoặc có Sa-môn, Bà-la-môn nói rằng: ‘Tất cả thế gian đều do Phạm-Tự tại thiên sáng tạo.’Ta hỏi họ: ‘Hết thảy thế gian có thật do Phạm-Tự tại thiên sáng tạo chăng?’ Họ không thể trả lời, nhưng lại hỏi Ta rằng: ‘Cù-đàm, sự ấy là thế nào?’
“Ta trả lời họ:
“Có một thời, khi thế giới này bắt đầu hủy diệt, có một chúng sanh nọ mà mạng hết, hành hết, từ trời Quang Âm mạng chung, sanh đến trú xứ Phạm thiên còn trống không. Rồi ở nơi đó, nó khởi tham ái, sanh tâm đắm trước, lại mong muốn có chúng sanh khác cũng sanh đến chỗ này. Những chúng sanh khác khi mạng hết, hành hết, lại sanh vào chỗ này. Bấy giờ, chúng sanh kia tự nghĩ như vầy: ‘Ta nay là Đại Phạm vương, ngẫu nhiên mà hiện hữu, không do ai sáng tạo. Ta có thể thấu suốt mục đích của các ý nghĩa, tuyệt đối tự tại trong một nghìn thế giới, có thể tác thành, có thể biến hóa, vi diệu bậc nhất, là tổ phụ của loài người. Ta đến đây trước nhất, một mình không bầu bạn; do năng lực của ta mà có chúng sanh này. Ta sáng tạo ra chúng sanh này.’ Các chúng sanh còn lại kia cũng thuận tòng, gọi đó là Phạm vương, ngẫu nhiên hiện hữu, có thể thấu suốt mục đích của các ý nghĩa, tuyệt đối tự tại trong một nghìn thế giới, có thể tác thành, có thể biến hóa, vi diệu bậc nhất, là cha mẹ của người, là vị duy nhất hiện hữu trước, còn chúng ta hiện hữu sau. Chúng ta do vị Đại Phạm vương ấy sáng tạo.’ Các chúng sanh này tùy theo khi tuổi thọ của chúng hết, tái sanh vào thế gian này; rồi dần dần trưởng thành, cạo bỏ râu tóc, bận ba pháp y, xuất gia tu đạo. Vị ấy nhập định ý tam-muội, tùy với tâm định tĩnh mà nhớ đời sống trước của mình. Vị ấy nói như vậy: ‘Vị Đại Phạm vương này ngẫu nhiên mà hiện hữu, không do ai sáng tạo; có thể thấu suốt mục đích của các ý nghĩa; tuyệt đối tự tại trong một nghìn thế giới; có thể tác thành, có thể biến hóa, vi diệu bậc nhất, là cha mẹ của người. Đại Phạm thiên kia thường trụ, không biến chuyển, không phải là pháp biến dịch. Chúng ta đều do Phạm thiên sáng tạo, cho nên không thường hằng, không tồn tại lâu dài, là pháp biến dịch.’ Như vậy, Phạm-chí, các Sa-môn, Bà-la-môn kia do duyên này, thảy đều nói Phạm-Tự tại thiên sáng tạo thế giới này. Này Phạm-chí, sự sáng tạo của thế giới không phải là điều mà những vị ấy có thể vươn tới; duy chỉ Phật mới có thể biết. Lại còn vượt qua sự ấy, Phật cũng đều biết cả. Tuy biết nhưng không tham trước, mà biết một cách như thật về khổ, tập khởi, diệt khổ, vị ngọt, tai hoạn, và sự xuất yếu; bằng chánh quán mà giải thoát vô dư. Ấy gọi là Như Lai.”
Phật bảo Phạm-chí:
“Hoặc có Sa-môn, Bà-la-môn nói như vầy: ‘Hý tiếu và giải đãi là khởi thủy của chúng sanh.’ Ta nói với họ: ‘Có thật các ngươi nói rằng: Hý tiếu và giải đãi là khởi thủy của chúng sanh?’ Họ không thể trả lời mà hỏi ngược lại rằng: ‘Cù-đàm, sự ấy là thế nào?’ Ta đáp: ‘Một số chúng sanh ở trời Quang Âm do chơi bời và biếng nhác, khi thân hoại mạng chung, tái sanh vào thế gian này; rồi dần trưởng thành, cạo bỏ râu tóc, bận ba pháp y, xuất gia tu đạo, cho đến khi nhập tâm định tam-muội; do năng lực tam-muội, nhận thức được đời sống trước, bèn nói như vầy: ‘Các chúng sanh kia do không chơi bời biếng nhác nên thường hằng ở chỗ ấy, tồn tại lâu dài, không biến chuyển. Chúng ta do thường xuyên chơi bời dẫn đến pháp vô thường, biến dịch này.’ Như vậy, Phạm-chí, Sa-môn, Bà-la-môn kia do duyên ấy nói rằng hý tiếu là khởi thủy của chúng sanh. Những điều ấy Phật biết tất cả, lại còn biết hơn thế nữa. Biết nhưng không đắm trước, do không đắm trước mà như thật biết khổ, sự tập khởi, sự diệt trừ, vị ngọt, tai hoạn, sự xuất yếu; bằng chánh quán mà giải thoát vô dư. Ấy gọi là Như Lai.”
Phật nói với Phạm-chí:
“Hoặc có Sa-môn, Bà-la-môn nói rằng: ‘Thất ý là khởi thủy của chúng sanh.’ Ta nói với họ: ‘Có thật các ngươi nói rằng sự thất ý là khởi thủy của chúng sanh chăng?’ Họ không biết trả lời, bèn hỏi lại Ta rằng: ‘Cù-đàm, sư ấy thế nào?’ Ta nói với họ: ‘Một số chúng sanh do dòm ngó nhau một thời gian sau bèn thất ý; do thế, mạng chung tái sanh vào thế gian này; rồi lớn dần, cạo bỏ râu tóc, bận ba pháp y, xuất gia tu đạo, bèn nhập tâm định tam-muội; do năng lực tam-muội vị ấy nhận thức được đời sống trước, bèn nói như vầy: Như chúng sanh kia do không dòm ngó nhau nên không thất ý, do vậy mà mà thường hằng bất biến. Chúng ta do thường xuyên dòm ngó nhau bèn thất ý; do thế dẩn đến pháp vô thường, biến dịch.’ Như vậy, Phạm-chí, Sa-môn, Bà-la-môn kia do duyên ấy nói rằng sự thất ý là khởi thủy của chúng sanh. Điều như vậy, duy Phật mới biết; lại còn biết hơn thế nữa. Biết nhưng không đắm trước; do không đắm trước mà như thật biết khổ, sự tập khởi, sự diệt tận, vị ngọt, tai hoạn, sự xuất yếu; do chánh quán mà giải thoát vô dư.”
Phật nói với Phạm-chí:
“Hoặc có Sa-môn, Bà-la-môn nói: ‘Ta xuất hiện từ vô nhân.’ Ta đến nói với họ rằng: ‘Có thật các ông nói: bản lai do vô nhân mà xuất hiện chăng?’ Họ không thể trả lời Ta được, mà lại hỏi ngược lại Ta. Khi ấy Ta trả lời họ rằng:
“Hoặc có chúng sanh vô tưởng vô tri. Khi chúng sanh ấy khởi tưởng thì mạng chung mà tái sanh vào thế gian này. Rồi người ấy trưởng thành dần dần, sau đó cạo bỏ râu tóc, bận ba pháp ya, xuất gia tu đạo, bèn nhập tam muội tâm định. Do lực của tam-muội mà biết được đời sống trước kia, vị ấy bèn nói như vầy: ‘Ta trước kia không, nay hốt nhiên có. Thế gian này trước kia, nay có. Đây là sự thật.’ “Này Phạm-chí, Sa-môn, Bà-la-môn do bởi duyên này mà nói sự xuất hiện là vô nhân. Duy Phật biết rõ điểu đó; lại còn biết hơn thế nữa. Biết vậy rồi nhưng không nhiễm trước. Sau khi như thật biết khổ, sự tập khởi, sự diệt tận, sự xuất yếu, bằng chánh quán mà giải thoát vô dư. Do đo hiệu là Như Lai.”
Phật nói với Phạm-chí:
“Những điều Ta thuyết là như vậy. Hoặc có Sa-môn, Bà-la-môn ở sau lưng Ta mà chê bai Ta rằng: ‘Sa-môn Cù-đàm tự cho rằng đệ tử mình chứng nhập giải thoát thanh tịnh, thành tựu hành thanh tịnh. Vị ấy biết sự thanh tịnh, thì biết khắp cả đều bất tịnh.’ Nhưng Ta không nói như vậy: ‘Đệ tử của Ta khi chứng nhập giải thoát thanh tịnh, thành tựu hành thanh tịnh, vị ấy khi biết thanh tịnh, thì biết khắp cả đều bất tịnh. ’ Này Phạm-chí, chính Ta nói rằng: ‘Đệ tử Ta chứng nhập giải thoát thanh tịnh, thành tựu hành thanh tịnh; vị ấy biết thanh tịnh, thì cũng biết tất cả đều thanh tịnh ’.”
Lúc bấy giờ, Phạm-chí bạch Phật:
“Người kia không được thiện lợi khi phỉ báng Sa-môn Cù-đàm rằng: ‘Sa-môn Cù-đàm tự nói đệ tử của mình nhập giải thoát thanh tịnh, thành tựu hành thanh tịnh; vị ấy khi biết thanh tịnh, thì biết khắp cả đều bất tịnh.’ Nhưng Thế Tôn không nói như vậy. Chính Thế Tôn nói: ‘Đệ tử Ta chứng nhập giải thoát thanh tịnh, thành tựu hành thanh tịnh; vị ấy biết thanh tịnh, thì cũng biết tất cả đều thanh tịnh.”
Rồi ông lại bạch Phật:
“Tôi cũng sẽ nhập nhập giải thoát thanh tịnh, thành tựu hành thanh tịnh này, để biết tất cả đều thanh tịnh.”
Phật bảo Phạm-chí:
“Ngươi muốn nhập, quả thật rất khó. Ngươi do kiến giải dị biệt, kham nhẫn dị biệt, sở hành dị biệt, mà muốn y trên kiến giải đó để chứng nhập giải thoát thah tịnh, thì thật là quá khó. Nhưng nếu ngươi tin vui nơi Phật, tâm không đoạn tuyệt, thì trong lâu dài sẽ luôn luôn được an lạc.”
Bấy giờ, Phạm-chí Phòng-già-bà, sau khi nghe những điều Phật nói, hoan hỷ phụng hành.
SC 1Thus I have heard: One time, the Buddha was staying in the land of Anomiya of Maineya. He was accompanied by a large assembly of 1,250 monks.
Why Sunakṣatra Returned to the Lay Life
SC 2It was then that the Bhagavān put on his robe and took his bowl into the city of Anomiya to solicit alms. The Bhagavān then silently thought, “It’s too early in the day to solicit alms now. It would be better to visit the Wanderer Bhārgava’s park. I’ll solicit alms when it’s the right time for a monk to do so.”
SC 3The Bhagavān then went to that park. The wanderer there saw the Buddha coming from a distance, got up to meet him respectfully, and exchanged greetings with him. “Welcome, Gautama! It’s been a while since you’ve been here. What brings you to visit me? Please, Gautama, make yourself a seat here!” The Bhagavān then prepared a seat for himself.
SC 4The wanderer sat to one side and said to the Bhagavān, “Last night, the Licchavi monk Sunakṣatra visited me. He said, ‘Great teacher, I’m not practicing the religious life under the Buddha. Why is that? The Buddha is estranged from me.’ That man openly spoke of you as mistaken, though I didn’t accept it on his word.”
SC 5The Buddha told the wanderer, “I knew you wouldn’t accept what Sunakṣatra says. Once when I was staying near Monkey Lake of Vaiśālī, there was a meeting in the Dharma hall. This Sunakṣatra came to me and said, ‘The Tathāgata is estranged from me. I won’t practice the religious life under Gautama.’
SC 6“I asked him, ‘Why do you say, “I won’t practice the religious life under the Tathāgata because the he is estranged from me”?’
“Sunakṣatra replied to me, ‘The Tathāgata hasn’t demonstrated miraculous abilities or miracles for me.’
SC 7“I said, ‘Did I ask that you to purely cultivate the religious life according to my teaching if I demonstrate my miraculous abilities for you? Did you say to me, “I will practice the religious life after the Tathāgata demonstrates miraculous abilities and miracles for me”?’
“Sunakṣatra replied, ‘No, Bhagavān.’
SC 8“I told Sunakṣatra, ‘But I didn’t say to you, ‘You practice the religious life under my teaching, and I will demonstrate miraculous abilities and miracles for you.’ Nor did you say, ‘I’ll cultivate the religious life when you demonstrate miraculous abilities for me.’
SC 9“‘How is it, Sunakṣatra? What do you think? Can the Tathāgata demonstrate miraculous abilities, or can’t he? Can one use the Dharma that I teach to escape and reach the end of suffering?’
“Sunakṣatra said to me, ‘Yes, Bhagavān. The Tathāgata can demonstrate miraculous abilities. It’s not that he can’t. One can use the Dharma that he teaches to escape and reach the end of suffering. It’s not that they can’t.’
SC 10“‘So, Sunakṣatra, someone who cultivates the religious life under my teaching can demonstrate miraculous abilities. It’s not that they can’t. They can escape from suffering. It’s not that they can’t escape it. What do you seek from this teaching?’
“‘Sunakṣatra said, ‘Bhagavān, you aren’t able to teach me the mystery of my father at the appropriate time. The Bhagavān fully knows it, but he holds back and doesn’t teach it to me.’
SC 11“‘I said, ‘Sunakṣatra, did I say before, “If you practice the religious life under my teaching, I will teach you the mystery of your father?” Did you say, “Teach me the mystery of my father, and I will practice the religious life under the Buddha.”’
“He answered, ‘No.’
SC 12“‘Therefore, Sunakṣatra, I said none of these things before, and you said none of them. Why are you saying this now? How is it, Sunakṣatra? Do you think the Tathāgata can teach you the mystery of your father, or can’t he? Can one use the Dharma he teaches to escape and reach the end of suffering?’
“Sunakṣatra replied, ‘The Tathāgata can teach me the mystery of my father. It’s not that he can’t. One can use his Dharma to escape and reach the end of suffering. It’s not that they can’t.’
SC 13“I asked Sunakṣatra, ‘If I can teach you the mystery of your father, and one can use the Dharma I teach to escape from suffering, then what more do you seek from my teaching?’
SC 14“I also told Sunakṣatra, ‘Back at Vaiśālī in the land of the Vṛji, you praised the Tathāgata, the correct Dharma, and the Saṅgha in countless ways. It was like someone praising the eight ways that a clear pool delights people: “It’s cool, light, gentle, clear, sweet, and clean. One can drink it without tire, and it refreshes the body.’ You were likewise. At Vaiśālī in the land of the Vṛji, you praised the Tathāgata, the correct Dharma, and the Saṅgha, which made people feel confident about them.
SC 15“Sunakṣatra, you should know that now you’ve reversed yourself, the world will again say, ‘The monk Sunakṣatra has many friends. He’s close to the Bhagavān, and he’s the Bhagavān’s disciple, but he can’t purely practice the religious life his entire life. He’ll abandon the precepts and return to the lay life and inferior practices.’”
SC 16“Wanderer, you should know that after I had this talk with him, he didn’t follow my instruction. He abandoned the precepts and returned to the lay life.
Sunakṣatra and the Nirgrantha Disciple Kalāra
SC 17“Wanderer, I was once at the Dharma meeting hall that’s beside Monkey Lake. There was a Nirgrantha disciple named Kalāra who had stopped there. He was respected by people, and his fame was far-reaching. He had many friends who provided him with offerings. At the time, the monk Sunakṣatra had put on his robe and took his bowl into Vaiśālī to solicit alms. He made his way on the alms round until he met this Nirgrantha disciple.
SC 18“Sunakṣatra then asked the Nirgrantha disciple about a profound subject. He couldn’t answer and became angry. Sunakṣatra thought to himself, ‘I’ve bothered this man. Won’t this lead to a result of suffering that will last a long time?’
SC 19“Wanderer, you should know that when the monk Sunakṣatra was finished soliciting alms, he took his robe and bowl and returned to me. He bowed to my feet and sat to one side. Sunakṣatra then told me about what had happened. I said to him, ‘You fool! Wouldn’t you rather call yourself an ascetic Śākyan disciple?’
“Sunakṣatra quickly replied, ‘Bhagavān, why call me a fool? Shouldn’t I call myself a Śākyan disciple?’
SC 20“I told him, ‘Fool, you’ve already gone and questioned that Nirgrantha disciple about a profound subject. He couldn’t answer it, so he became angry. Then you thought to yourself, ‘Now, I’ve bothered this Nirgrantha disciple. Won’t this lead to a result of suffering that will last a long time?’ You had that thought, didn’t you?”
“Sunakṣatra said to me, ‘He was an arhat. What reason was there for him to feel hateful?’
SC 21“I then answered, ‘Fool, what reason is there for an arhat to feel hateful? No arhat of mine has hateful feelings. Now, you say yourself, ‘He is an arhat.’ He practices the seven kinds of asceticism, which he has upheld for a long time. What are the seven?
SC 22“First, one doesn’t wear clothing for their entire life. Second, one doesn’t drink alcohol, eat meat, or eat rice or wheat flour for their entire life. Third, one doesn’t violate the religious life for their entire life. Fourth [to seventh], one doesn’t go beyond the four shrines of Vaiśālī, which are the eastern stone shrine called Mourning Park, the southern stone shrine called Elephant, the western stone shrine called Many Children, and the northern stone shrine called Seven Copse. They do this their entire life. This makes four ascetic practices. He’ll violate these seven ascetic practices and die while living outside of Vaiśālī.
SC 23“‘That Nirgrantha disciple will be like a jackal weakened by a skin disease when he dies on a burial mound in a cemetery. He’ll violate all his own teaching’s rules. He vowed to himself, ‘I won’t wear clothes for my entire life,’ but he’ll return to wearing clothes. He vowed to himself, ‘I won’t drink alcohol, eat meat, or eat rice or wheat flour,’ but he’ll eat all of them. He vowed to himself, ‘I won’t violate the religious life,’ but he’ll violate it. He vowed, ‘I won’t go beyond the four shrines, the eastern Mourning Park shrine, the southern Elephant shrine, the western Many Children shrine, and the northern Seven Copse shrine.’ But far from them and doesn’t stay nearby. That man will contradict his own seven vows, leave the city of Vaiśālī, and his life will end in a cemetery.’
SC 24“I told Sunakṣatra, ‘Fool, if you don’t believe what I say, go investigate it and realize it for yourself.’
SC 25The Buddha told the wanderer, “One day, the monk Sunakṣatra put on his robe and took his bowl into the city to solicit alms. After soliciting alms, he left the city as he returned. He saw the Nirgrantha disciple’s life had ended in an empty cemetery. Seeing that, he came to me, bowed his head at my feet, and sat to one side, but that wasn’t what he spoke to me about.
SC 26“Wanderer, you should know, I said to Sunakṣatra, ‘How is it, Sunakṣatra? Did my prediction about that Nirgrantha disciple turn out to be true?’
“He replied, ‘Yes, it was as the Bhagavān said.’
SC 27“Wanderer, you should know, I had demonstrated evidence of my miraculous abilities to Sunakṣatra, yet he said, ‘The Bhagavān didn’t demonstrate them for me.’
Sunakṣatra and the Nirgrantha Disciple Khoradattika
SC 28“Another time, I was at a town of the White Land in Maineya. A Nirgrantha disciple named Khoradattika was living there at the time. He was respected by people, his fame was far-reaching, and he received many offerings. I put on my robe and took my bowl into town to solicit alms, and the monk Sunakṣatra followed me. We saw the Nirgrantha disciple Khoradattika on a mound of refuse licking up coarse food.
SC 29“Wanderer, you should know that when the monk Sunakṣatra saw this Nirgrantha disciple doing that, he thought, ‘Whether or not there are arhats in the world who follow the arhat’s path, this Nirgrantha disciple’s path is supreme. Why is that? This man’s asceticism is such that he abandons his pride and squats on a mound of refuse licking up coarse food.”
SC 30“Wanderer, when he was walking on my right, I told Sunakṣatra, ‘You fool, wouldn’t you rather call yourself a Śākyan disciple?’
“Sunakṣatra said to me, ‘Why do you call me a fool, Bhagavān? Shouldn’t I call myself a Śākyan disciple?’
SC 31“I told Sunakṣatra, ‘You fool, look at this Khoradattika squatting on a mound of refuse eating coarse food. Seeing that, you thought, “Whether the world has arhats and those who follow the arhat’s path, this Khoradattika is supreme. Why is that? Now, this Khoradattika’s asceticism can abandon pride and squat on a mound of refuse licking up coarse food.” Didn’t you have that thought?’
“He answered me, ‘That’s true.’
SC 32“Sunakṣatra also said, ‘Why does the Bhagavān feel jealous of an arhat?’
“I told that fool, ‘It’s not that I feel jealous of an arhat. How could I be jealous of an arhat? You’re a fool, taking that Khoradattika to be a real arhat. In seven days, that man’s belly will swell up, and his life will end. He’ll be born as a corporeal hungry ghost that constantly suffers from hunger and thirst. After his life ends, he’ll be dragged to the cemetery with a reed cord. If you don’t believe me, you can go and tell him beforehand.’
SC 33“Sunakṣatra then visited Khoradattika and told him, ‘The ascetic Gautama has predicted that in seven days your belly will swell up, and you’ll die. You’ll be born as a corporeal hungry ghost, and you’ll be dragged to a cemetery with a reed cord after you die.’
“Sunakṣatra also said, ‘You should examine your food to prevent what he says from happening.’
SC 34“Wanderer, you should know that when seven days had passed, Khoradattika’s belly swelled up, and he died. He was then born as a corporeal hungry ghost. When that corpse died, he was dragged to the cemetery with a reed cord.
SC 35“After Sunakṣatra heard what I said, he counted the days on his fingers. When the seventh days arrived, the monk Sunakṣatra went to the naked ascetic’s village. Upon arriving, he asked the villagers, ‘Good men, where is Khoradattika?’
“They replied, ‘His life has ended.’
SC 36“He asked, ‘What trouble caused his life to end?’
“They answered, ‘His belly swelled up.’
SC 37“He asked, ‘How was his body moved?’
“They answered, ‘He was dragged to the cemetery with a reed cord.’
SC 38“Wanderer, when he learned that, Sunakṣatra went to the cemetery. Before he reached it, that corpse moved its legs at the knee and suddenly squatted. Sunakṣatra then approached the corpse and said, ‘Khoradattika, has your life ended?’
“The corpse said, ‘My life has ended.’
SC 39“He asked, ‘What trouble caused your life to end?’
“The corpse answered, ‘Gautama predicted that in seven days my belly would swell up, and my life would end. It was as he said. When the seventh day arrived, my belly swelled up, and my life ended.’
SC 40“Sunakṣatra also asked, ‘Where were you born?’
“The corpse replied, ‘Just as Gautama predicted that I would be born among corporeal hungry ghosts, I was born today as a corporeal hungry ghost.’
SC 41“Sunakṣatra asked, ‘When your life ended, how was your body moved?’
“The corpse answered, ‘Just as Gautama predicted, it was dragged to the cemetery with a reed cord. It really was as he said. I was dragged to the cemetery with a reed cord.’
SC 42“The corpse said to Sunakṣatra, ‘Even though you left home, you’ve gotten no good benefit from it. The ascetic Gautama predicted these events, but you constantly disbelieve him.’ After saying that, the corpse laid back down.
SC 43“Wanderer, the monk Sunakṣatra then came to me, bowed his head at my feet, and sat to one side, but that wasn’t what he spoke to me about. I quickly said, ‘My prediction about Khoradattika turned out to be true, didn’t it?’
“He answered, ‘It really was as the Bhagavān said.’
SC 44“Wanderer, thus did I demonstrate evidence of my miraculous abilities to the monk Sunakṣatra on numerous occasions, yet he still says, ‘The Bhagavān didn’t demonstrate miraculous abilities for me.’”
Sunakṣatra and the Wanderer Pāṭiputra
SC 45The Buddha told the wanderer, “I was once in the Dharma meeting hall that’s beside Monkey Lake. At the time, a wanderer named Pāṭiputra had stopped there. He was respected by people, his fame was far-reaching, and he received many offerings. In a large crowd of Vaiśālīs, he made this statement: ‘The ascetic Gautama says he is wise. I am wise, too. The ascetic Gautama says he has miraculous abilities. I have miraculous abilities, too. The ascetic Gautama has achieved the transcendental path. I have achieved the transcendental path, too. He and I will demonstrate miraculous abilities together. The ascetic will demonstrate one ability, and then I will demonstrate two. When the ascetic demonstrates two, I will demonstrate four. When the ascetic demonstrates eight, I will demonstrate 16. When the ascetic demonstrates 16, I will demonstrate 32. When the ascetic demonstrates 32, I will demonstrate 64. However many that that ascetic demonstrates, I will demonstrate twice as many.’
SC 46“Wanderer, when the monk Sunakṣatra put on his robe and took his bowl into the city to solicit alms, he saw the wanderer Pāṭiputra in that large crowd making this statement, ‘The ascetic Gautama says he is wise. I am wise, too. The ascetic Gautama says he has miraculous abilities. I have miraculous abilities, too. The ascetic Gautama has achieved the transcendental path. I have achieved the transcendental path, too. He and I will demonstrate miraculous abilities together. The ascetic will demonstrate one ability, and then I will demonstrate two … When the ascetic demonstrates four, I will demonstrate eight … However many that that ascetic demonstrates, I will demonstrate twice as many.’
SC 47“After Sunakṣatra had solicited alms, he came to me, bowed his head, and sat to one side. He said to me, ‘In the early morning, I put on my robe and took my bowl into the city to solicit alms. I heard the Vaiśālī Pāṭiputra make this statement in a large crowd: “The ascetic Gautama has great wisdom. I have great wisdom, too. The ascetic Gautama has miraculous abilities. I have miraculous abilities, too. … If the ascetic demonstrates one ability, then I will demonstrate two … However many that that ascetic demonstrates, I will demonstrate twice as many.”’
SC 48“He came to tell me about these events. I said to Sunakṣatra, ‘That Pāṭiputra didn’t abandon this claim, didn’t abandon this view, and didn’t abandon this arrogance in a large crowd. He will never come to me. If he were to think, ‘I won’t abandon this claim, this view, or this arrogance, but I’ll go to the ascetic Gautama,’ his head would split into seven pieces. It isn’t possible for such a person to come to me who doesn’t abandon such a claim, view, and arrogance.’
SC 49“Sunakṣatra said, ‘Bhagavān, watch what you say! Tathāgata, watch what you say!’
SC 50“I asked Sunakṣatra, ‘Why do you say, “Bhagavān, watch what you say! Tathāgata, watch what you say!”?’
“Sunakṣatra said, ‘That Pāṭiputra has great power and great virtue. If he were free to come here, mightn’t he demonstrate that the Bhagavān is false?’
SC 51“I told Sunakṣatra, ‘Has the Tathāgata said that there could be two [Buddhas]?’
“He responded, ‘He hasn’t.’
SC 52“I told Sunakṣatra, ‘If there couldn’t be two [Buddhas], why are you saying, “Bhagavān, watch what you say! Tathāgata, watch what you say!”?’
“Sunakṣatra said to the Buddha, ‘The Bhagavān knows and sees himself that the gods come and talk to Pāṭiputra.’
SC 53“I said, ‘I know for myself, and I also know because gods come and talk to me. When the great Vaiśālī general Ajita’s body broke up and his life ended, he was born in the Trāyastriṃśa Heaven. He came to me and said, “The wanderer Pāṭiputra knows no modesty and violates the precept against false speech. In a large crowd at Vaiśālī, he thus slandered me, ‘When the great general Ajita’s body broke up and his life ended, he was born as a corporeal demon.’ But when my body broke up and my life ended, I was actually born in the Trāyastriṃśa Heaven.” I already knew about Pāṭiputra, and I knew because the gods came to tell me about him.’
“I told the fool Sunakṣatra, ‘If you don’t believe me, then go to Vaiśālī and make an announcement to them that I’ll visit Pāṭiputra after I’ve eaten.’
SC 54The Buddha told the wanderer, “After the night had passed, Sunakṣatra put on his robe and took his bowl into the city to solicit alms. When Sunakṣatra reached the center of Vaiśālī, there were many priests, ascetics, and wanderers. He told them all this, ‘The wanderer Pāṭiputra has made this claim in a large crowd: “The ascetic Gautama has great wisdom. I have great wisdom, too. The ascetic Gautama has great power. I have great power, too. The ascetic Gautama has great miraculous abilities. I have great miraculous abilities, too … The ascetic will demonstrate one ability, and then I will demonstrate two … However many abilities that ascetic demonstrates, I will always demonstrate twice as many.” Now, the ascetic Gautama is going visit Pāṭiputra. Everyone here can visit him, too!’
SC 55“The wanderer Pāṭiputra was walking on the road. When Sunakṣatra saw him, he hurried to Pāṭiputra and said, ‘You made this claim in a large crowd at Vaiśālī: “The ascetic Gautama has great wisdom … However many abilities that ascetic demonstrates, I will always demonstrate twice as many.” Gautama has heard about it, and now he’s coming visit you. You ought to quickly return home.’
SC 56“He responded, ‘I’ll return! I’ll return!’ After saying that, he suddenly felt afraid for himself, and his hair stood on end, so he didn’t go back to his home. Instead, he went to the Wanderer Pāṭiputra’s Malabar Ebony Grove. There, he sat on a rope seat, feeling miserable and distraught.”
SC 57The Buddha told the wanderer, “After eating, I went to Pāṭiputra’s dwelling, accompanied by many Licchavi ascetics, priests, wanderers, and householders. We prepared seats and sat down. There was a wanderer in the assembly named Cāla.
SC 58“A group of people called Cāla over to them and told him, ‘Go to Malabar Ebony Grove and tell Pāṭiputra this: ‘An assembly of many Licchavi ascetics, priests, wanderers, and householders has gathered at your grove. People in that assembly are telling each other, “The wanderer Pāṭiputra had announced in a crowd: ‘The ascetic Gautama has great wisdom. I have great wisdom, too … However many miraculous abilities that Gautama demonstrates, I will always demonstrate twice as many.’” The ascetic Gautama has come to your grove as a result. You can come and face him.’
SC 59“Hearing what they said, Cāla went to Malabar Ebony Grove and said to Pāṭiputra, ‘An assembly of many Licchavi ascetics, priests, wanderers, and householders has gathered at your grove. People in that assembly are telling each other, “The wanderer Pāṭiputra had announced in a crowd: ‘The ascetic Gautama has great wisdom. I have great wisdom, too … However many miraculous abilities that Gautama demonstrates, I will always demonstrate twice as many.’” The ascetic Gautama has come now to your grove as a result. Pāṭiputra, it would be best that you returned.’
SC 60“The wanderer Pāṭiputra replied to Cāla, ‘I’ll return! I’ll return!’ After saying this, he fidgeted uneasily on his rope seat. His foot became ensnared in the rope seat, and he couldn’t free it. How could he have gone to the Bhagavān?
SC 61“Cāla then said to Pāṭiputra, ‘You are ignorant, just saying these empty words, ‘I’ll return! I’ll return!’ Still, you can’t free yourself from this rope seat. How can you go to that large assembly?’
SC 62“After chastising Pāṭiputra, Cāla returned to the large assembly and reported, ‘I carried the assembly’s message to Pāṭiputra and told him. His response to me was ‘I’ll return! I’ll return!’” Then, he turned his body on that rope seat, and his foot was snared in the seat. He couldn’t free himself from it. He couldn’t free himself from the rope seat, so how will he come to this assembly?’
SC 63“There was then a Licchavi son named Dhūma in the assembly. He rose from his seat, adjusted his robe to bare his right shoulder, and knelt on his knee. With his palms together, he addressed the assembly, ‘I’m an insignificant servant to this great assembly. I’ll go and bring that man here.’”
SC 64The Buddha said, “I told that Licchavi son Dhūma, ‘That man has made such statements, held such views, and created such pride. It isn’t possible to make this man come to the Buddha. Dhūma, even if you tied him tightly with a leather cord and pulled him with a herd of cattle, his body would be torn apart. He’ll never abandon such statements, such views, and such pride to come to me. If you don’t believe what I say, go and find out for yourself.’
SC 65“The Licchavi son Dhūma went to Pāṭiputra and said to him, ‘An assembly of many Licchavi ascetics, priests, wanderers, and householders has gathered at your grove. People in that assembly are telling each other, “The wanderer Pāṭiputra had announced in a crowd: ‘The ascetic Gautama has great wisdom. I have great wisdom, too … However many miraculous abilities that Gautama demonstrates, I will always demonstrate twice as many.’” The ascetic Gautama has come now to your grove. You can return home.’
SC 66“The wanderer Pāṭiputra replied, ‘I’ll return! I’ll return!’ After saying this, he turned uneasily on his rope seat, and it snared his foot. He couldn’t free himself from the rope seat, so how could he travel on foot to the Bhagavān?
SC 67“Dhūma then said to Pāṭiputra, ‘You are ignorant, just saying these empty words, ‘I’ll return! I’ll return!’ Still, you can’t free yourself from this rope seat. How can you go to that large assembly?’
SC 68Dhūma also said to Pāṭiputra, ‘Some wise people use parables to understand things. Far away, there was a lion, a king of beasts, that lived in a deep forest. It came out of its cave at daybreak, surveyed the four directions, and boldly roared three times. Afterward, it would go wandering in search of meat to eat.
SC 69“‘Pāṭiputra, when that lion, that king of beasts, returned to its forest after eating, there would usually be a jackal that followed it to eat the leftovers. When the jackal was at full strength, it would say to itself, “What kind of animal is that forest lion, really? Could it best me? Now, I’d like to find my own forest. I’ll emerge from my cave at daybreak, survey the four directions, and roar three times. Afterward, I’ll go wandering in search of meat to eat.”
SC 70“‘It immediately went to live in a forest. It emerged from its cave at daybreak … boldly roared three times. Afterward, it went wandering, but it’s lion’s roar was a jackal’s bark.
SC 71“‘Pāṭiputra, you are likewise now. As a result of the Buddha’s magnanimity arising in the world, you’ve received people’s offerings, but now you compete with the Tathāgata.’
SC 72“That Licchavi son Dhūma then chastised him in verse:
“‘A jackal called itself a lion,
Saying it’s a king of beasts.
Wanting to roar the lion’s roar,
It could only bark like a jackal.
Living alone in an empty forest,
It said it was a king of beasts.
Wanting to roar the lion’s roar,
It could only bark like a jackal.
It crouched looking for rat holes,
Dug up graves searching for corpses.
Wanting to roar the lion’s roar,
It could only bark like a jackal.’
SC 73“That Licchavi son Dhūma told him, ‘You are likewise. As a result of the Buddha’s magnanimity arising in the world, you receive people’s offerings, but now you compete with the Tathāgata.’
SC 74“After chastising him with those four kinds of metaphor, the Licchavi son Dhūma returned to the large assembly and reported, ‘I carried the assembly’s message to Pāṭiputra and told him. His response to me was ‘I’ll return! I’ll return!’” Then, he turned his body on that rope seat, and his foot was snared in the seat. He couldn’t free himself from it. He couldn’t free himself from the rope seat, so how will he come to this assembly?’
SC 75“I told Dhūma’s son, ‘I told you before, it isn’t possible to make this man come to the Buddha. Even if you tied a leather cord to him tightly and pulled him with a herd of cattle, his body would be torn apart. He’ll never abandon such statements, such views, and pride to come to me.’
SC 76“Wanderer, I then explained a variety of teachings for that large assembly, instructing, benefiting, and making them rejoice. In that assembly, I roared the lion’s roar three times. I then ascended into the sky and returned home.”
The Origin of the World and Beings
SC 77The Buddha told the wanderer, “Sometimes ascetics and priests say, ‘The whole world was created by Brahmā, the Sovereign God.’
SC 78“I ask them, ‘Was the whole world really created by Brahmā, the Sovereign God?’
“They can’t answer, so they ask me a counter question: ‘Gautama, how is it, then?’
SC 79“I reply to them, ‘Sometimes, soon after this world is destroyed, there are other sentient beings whose life and actions come to an end. Their lives end in the Ābhāsvara Heaven, and then they are born in some empty Brahma abode. Craving arises in them there, and they become addicted to it. Again, they want other sentient beings to be reborn in that abode. When those other sentient beings’ lives and actions come to an end, they are reborn there.
SC 80“‘That sentient being then thinks to itself, “Now I am King Great Brahmā. I suddenly came into existence without a creator. I completely comprehend the meaning of everything. I am the supreme sovereign of a thousand worlds. What I make and create is sublime and supreme. I am both father and mother to people. I was the first to arrive here; I was alone without a companion. These sentient beings are here because of my power. I made these sentient beings. Those other sentient beings also followed them, and they call me: ‘King Brahmā who suddenly came into existence. He completely comprehends the meaning of everything. He’s the supreme sovereign of a thousand worlds. What he makes and creates is sublime and supreme. He’s both father and mother to people. At first, he was alone, then later there was us. This King Great Brahmā created us.’”
SC 81“‘When these sentient beings die, they are reborn here in the world. They slowly grow up, cut off their hair and beards, put on the three Dharma robes, and leave home for the path. They enter a samādhi of mind through which they recall their past births, and then they make the claim, “This god Great Brahmā suddenly came into existence without a creator. He completely comprehends the meaning of everything. He’s the supreme sovereign of a thousand worlds. What he makes and creates is sublime and supreme. He’s both father and mother to people. That god Great Brahmā always abides unperturbed, and he isn’t subject to change. We were created by that god Brahmā, but now we’re impermanent, don’t last long, and are subject to change.”
SC 82“Thus, wanderer, as a result of these events, those ascetics and priests each say, ‘That Brahmā, that Sovereign God, created this world.’ Wanderer, a creator of this world is something that’s only known to a Buddha and not by others. The Buddha also entirely knows what’s beyond this subject. Although he knows, he’s not attached to it. He truly knows suffering and its formation, cessation, enjoyment, danger, and escape. He’s called ‘Tathāgata’ because he was liberated without remainder by his equal observation.”
SC 83The Buddha told the wanderer, “Some ascetics and priests make this claim, ‘Frivolity and laziness are the source of sentient beings.’
SC 84“I say to them, ‘Do you really say that frivolity and laziness are the source of sentient beings?’
“They aren’t able to answer, so they ask me a counter question, ‘Gautama, how is it, then?’
SC 85“I reply to them, ‘Sometimes, the sentient beings of the Ābhāsvara Heaven are frivolous and lazy. When their bodies break up and their lives end, they’re reborn here. They slowly grow up, cut off their hair and beard, put on the three Dharma robes, and leave home for the path. They enter a samādhi of mind through which they recall their past births, and then they make the claim, “Those other sentient beings didn’t delight in frivolity, so they always reside in that abode, abiding forever and unchanging. We’ve come to this impermanence and are subject to change because we often delighted in frivolity.”’”
SC 86“Thus, wanderer, as a result of these events, those ascetics and priests say that frivolity is the source of sentient beings. The Buddha thus entirely knows this, and he also knows about what’s beyond it. He knows it but isn’t attached to it. He truly knows suffering and its formation, cessation, enjoyment, danger, and escape. He’s called ‘Tathāgata’ because he was liberated without remainder by his equal observation.”
SC 87The Buddha told the wanderer, “Some ascetics and priests say, ‘Losing mindfulness is the source of sentient beings.’
SC 88“I say to them, ‘Do you really say, ‘Losing mindfulness is the source of sentient beings?’
“They aren’t able to answer, so they ask me a counter question, ‘Gautama, how is it, then?’
SC 89“I say to them, ‘Some sentient beings lose their mindfulness after watching each other, one after the other. As a result, they’re born here when their lives end. They slowly grow up, cut off their hair and beards, put on the three Dharma robes, and leave home to cultivate the path. They enter a samādhi of mind through which they became aware of their past births, and then they say, “Those sentient beings that don’t lose their mindfulness while watching each other, one after the other, always abide unchanging. We frequently watched each other and lost our mindfulness after doing so. As a result, we’ve come to this impermanence and are subject to change.”’
SC 90“Thus, wanderer, as a result of these events, those ascetics and priests say that losing mindfulness is the source of sentient beings. Only a Buddha thus knows it, and he knows what’s beyond it. He knows it, but he isn’t attached to it. He truly knows suffering and its formation, cessation, enjoyment, danger, and escape. He’s called ‘Tathāgata’ because he was liberated without remainder by his equal observation.”
SC 91The Buddha told the wanderer, “Some ascetics and priests say, ‘I arose without cause.’
SC 92“I say to them, ‘Do you really say, “I arose without cause”?’
“They aren’t able to answer, so they ask me a counter question[, ‘Gautama, how is it, then?’]
SC 93“Then I reply, ‘Some sentient beings lack conception or perception. If those sentient beings give rise to concepts, then they’re reborn here when their lives end. They slowly grow up, cut off their hair and beards, put on the three Dharma robes, and leave home to cultivate the path. They enter a samādhi of mind through which they became aware of their past births, and then they say, “I didn’t exist in the past, but now I suddenly exist. This world didn’t exist in the past, but now it exists. This is true; the rest is false.”’
SC 94“Thus, wanderer, as a result of these events, ascetics and priests say that they arose without cause. Only the Buddha knows it, and he knows what’s beyond it. He knows it, but he isn’t attached to it. He truly knows suffering and its formation, cessation, enjoyment, danger, and escape. He’s called ‘Tathāgata’ because he was liberated without remainder by his equal observation.”
SC 95The Buddha told the wanderer, “I’ve explained such things, but some ascetics and priests slander me in private. They say, ‘The ascetic Gautama himself claims, “My disciples enter pure liberation and accomplish pure practice. They know purity, but they don’t completely know purity.”’
SC 96“But I don’t make the claim, ‘My disciples enter pure liberation and accomplish pure practice. They know purity, but they don’t completely know purity.’
SC 97“Wanderer, I myself say, ‘My disciples enter pure liberation and accomplish the pure practice. They know purity, being entirely and completely pure.’
SC 98The wanderer then said to the Buddha, “They can’t obtain good benefits, so they slander the ascetic Gautama by saying, ‘The ascetic himself says, ‘My disciples enter pure liberation and accomplish pure practice. They know purity, but they don’t completely know purity.’
SC 99“But the Bhagavān doesn’t say that. The Bhagavān himself says, ‘My disciples enter pure liberation and accomplish the pure practice. They know purity, being entirely and completely pure.’”
SC 100He also said to the Buddha, “I’ll also enter this pure liberation and accomplish pure practice. I’ll entirely and completely know it!”
SC 101The Buddha told the wanderer, “It would be very difficult for you to enter it. Your views are different, your patience is different, and your practice is different. It’s very difficult to enter pure liberation while relying on other views. If you keep delighting in the Buddha in your heart, then you’ll always be happy for a long time.”
SC 102When the wanderer Bhārgava heard what the Buddha taught, he rejoiced and approved.