Tôi nghe như vầy:
Một thời Phật ở tại Ương-già, cùng với chúng đại Tỳ-kheo một ngàn hai trăm năm mươi người, du hành trong nhân gian, nghỉ đêm tại thành Chiêm-bà bên bờ hồ Già-già.
Lúc ấy có Bà-la-môn tên Chủng Đức sống ở Chiêm-bà. Thành ấy nhân dân đông đúc, sầm uất, sung túc. Vua Ba-tư-nặc phong thành này cho Bà-la-môn ấy làm phạm phần.
Người Bà-la-môn này, bảy đời cha mẹ trở lại đều chơn chánh không bị người khác khi dễ, đọc tụng thông suốt ba bộ sách của dị học, có thể phân tích các thứ kinh thư; chỗ sâu xa của thế điển không thứ nào không nghiền ngẫm; lại giỏi xem tướng đại nhơn, xem thời tiết tốt xấu, nghi lễ tế tự. Ông có năm trăm đệ tử, dạy dỗ không bỏ phế.
Bấy giờ, trong thành Chiêm-bà các Bà-la-môn, trưởng giả, cư sĩ, nghe tin Sa-môn Cù-đàm, con nhà họ Thích, xuất gia và thành đạo, từ Ương-già, du hành trong nhân gian, đến thành Chiêm-bà, ở bên bờ hồ Già-già. Ngài có tiếng tăm lớn, đồn khắp thiên hạ, là Như Lai, Chí chơn, Đẳng Chánh Giác, đầy đủ mười hiệu, ở giữa Chư Thiên, người đời, Ma hoặc Ma thiên, Sa-môn, Bà-la-môn, tự thân chứng ngộ, rồi thuyết pháp cho người, lời nói khoảng đầu, khoảng giữa và khoảng cuối thảy đều chơn chánh, đầy đủ nghĩa và vị, phạm hạnh thanh tịnh. Bậc chơn nhơn như vậy nên đến viếng thăm. Nay ta cũng nên đến thăm Ngài.’ Nói như vậy xong, bèn rủ nhau ra khỏi thành Chiêm-bà, từng đoàn lũ lượt nối nhau, muốn đến chỗ Phật.
Lúc ấy, Bà-la-môn Chủng Đức đang ngồi trên đài cao, từ xa trông thấy đoàn người lũ lượt nối nhau, bèn quay hỏi người hầu:
“Những người ấy vì nhân duyên gì mà lũ lượt nối nhau, muốn đi đâu vậy?”
Người hầu thưa:
“Tôi nghe nói Sa-môn Cù-đàm, con nhà họ Thích, xuất gia và thành đạo, từ Ương-già, du hành trong nhân gian, đến thành Chiêm-bà, ở bên bờ hồ Già-già. Ngài có tiếng tăm lớn, đồn khắp thiên hạ, là Như Lai, Chí chơn, Đẳng Chánh Giác, đầy đủ mười hiệu, ở giữa Chư Thiên, người đời, Ma hoặc Ma thiên, Sa-môn, Bà-la-môn, tự thân chứng ngộ, rồi thuyết pháp cho người, lời nói khoảng đầu, khoảng giữa và khoảng cuối thảy đều chơn chánh, đầy đủ nghĩa và vị, phạm hạnh thanh tịnh. Các Bà-la-môn, trưởng giả, cư sĩ trong thành Chiêm-bà này tụ họp, nối nhau để đến thăm viếng Sa-môn Cù-đàm vậy.”
Rồi Bà-la-môn Chủng Đức liền ra lệnh cho người hầu rằng:
“Ngươi hãy nhanh chóng mang lời ta đến với các người ấy rằng: ‘Các khanh hãy dừng lại một lát, hãy đợi ta đến, rồi cùng đi đến chỗ Cù-đàm kia’.”
Người hầu tức thì mang lời của Chủng Đức đến nói với các người ấy rằng: “Các người hãy dừng lại một lát, hãy đợi ta đến, rồi cùng đi đến chỗ Cù-đàm kia.”
Lúc ấy, mọi người trả lời rằng:
“Ngươi hãy nhanh chóng trở về thưa với Bà-la-môn rằng, nay thật là phải thời, nên cùng nhau đi.”
Người hầu trở về thưa:
“Những người ấy đã dừng rồi. Họ nói: nay thật là phải thời, nên cùng nhau đi.”
Bà-la-môn liền xuống đài, đến đứng cửa giữa.
Bấy giờ có năm trăm Bà-la-môn khác, có chút duyên sự, trước đó đã tụ tập dưới cửa. Thấy Bà-la-môn Chủng Đức đến, thảy đều đứng dậy nghinh đón, hỏi rằng:
“Đại Bà-la-môn, ngài muốn đi đâu đây?”
Chủng Đức đáp:
“Có Sa-môn Cù-đàm, con nhà họ Thích, xuất gia và thành Đạo, từ Ương-già, du hành trong nhân gian, đến thành Chiêm-bà, ở bên bờ hồ Già-già. Ngài có tiếng tăm lớn, đồn khắp thiên hạ, là Như Lai, Chí Chơn, Đẳng Chánh Giác, đầy đủ mười hiệu, ở giữa Chư Thiên, người đời, Ma hoặc Ma thiên, Sa-môn, Bà-la-môn, tự thân chứng ngộ, rồi thuyết pháp cho người, lời nói khoảng đầu, khoảng giữa và khoảng cuối thảy đều chơn chánh, đầy đủ nghĩa và vị, phạm hạnh thanh tịnh. Bậc chơn nhơn như vậy nên đến viếng thăm. Nay ta muốn đến thăm Ngài.”
Năm trăm người Bà-la-môn liền thưa với Chủng Đức:
“Ngài chớ đi thăm. Vì sao? Kia nên đến đây chứ đây không nên đến kia. Nay Đại Bà-la-môn, bảy đời cha mẹ đều chơn chánh không bị người khác khinh chê. Nếu ngài đã có đủ điều kiện như vậy, thì đàng kia nên đến đây, chớ đây không nên đến kia. Lại nữa, Đại Bà-la-môn tụng đọc thông suốt ba bộ sách dị học, có thể phân tích các loại kinh thư, những chỗ sâu xa của thế điển, không chỗ nào không nghiền ngẫm. Lại giỏi xem tướng đại nhân, xem tướng tốt xấu, nghi lễ tế tự. Ngài đã thành tựu những pháp ấy, thì đàng kia nên đến đây, chứ đây không nên đến kia.
“Lại nữa, Đại Bà-la-môn dung mạo đoan chánh, có dáng vẻ của Phạm thiên. Ngài đã thành tựu pháp ấy thì đàng kia nên đến đây chớ đây không nên đến kia.
“Lại nữa, Đại Bà-la-môn có giới đức tăng thượng, trí tuệ thành tựu. Đã thành tựu pháp ấy, thì kia nên đến đây, chớ đây không nên đến kia.
“Lại nữa, Đại Bà-la-môn có lời nói nhu hòa, biện tài đầy đủ, nghĩa và vị thanh tịnh. Ngài đã thành tựu pháp ấy thì đàng kia nên đến đây chớ đây không nên đến kia.
“Lại nữa, Đại Bà-la-môn là đại tôn sư, có đông đệ tử. Ngài đã thành tựu pháp ấy thì đàng kia nên đến đây chớ đây không nên đến kia.
“Lại nữa, Đại Bà-la-môn thường dạy dỗ năm trăm Bà-la-môn. Đã thành tựu pháp ấy, thì kia nên đến đấy, chớ đây không nên đến kia.
“Lại nữa, Đại Bà-la-môn có học giả bốn phương đến xin thọ giáo; ai hỏi các kỹ thuật, các pháp tế tự, ngài thảy đều trả lời được cả. Ngài đã thành tựu pháp ấy thì đàng kia nên đến đây chớ đây không nên đến kia.
“Lại nữa, Đại Bà-la-môn được vua Ba-tư-nặc và vua Bình-sa cung kính cúng dường. Ngài đã thành tựu pháp ấy thì đàng kia nên đến đây chớ đây không nên đến kia.
“Lại nữa, Đại Bà-la-môn trí tuệ sáng suốt, nói năng thông lợi, không hề khiếp nhược. Ngài đã thành tựu pháp ấy thì đàng kia nên đến đây chớ đây không nên đến kia.”
Chủng Đức nói với các Bà-la-môn:
“Đúng vậy! Đúng vậy! Đúng như điều các ông nói. Tôi có đủ các đức ấy, chớ không phải không có. Nhưng các ông hãy nghe tôi nói. Sa-môn Cù-đàm có công đức mà chúng ta nên đến kia chớ đàng kia không nên đến đây. Sa-môn Cù-đàm từ bảy đời trở lại cha mẹ đều chơn chánh, không bị người khác khinh chê. Vị ấy đã thành tựu pháp này, chúng ta nên đến kia, chớ kia không nên đến đây.
“Lại nữa, Sa-môn Cù-đàm có dung mạo đoan chánh, xuất thân từ giai cấp Sát-lị. Đã thành tựu pháp này, chúng ta nên đến kia chớ kia không nên đến đây.
“Lại nữa, Sa-môn Cù-đàm sanh chỗ tôn quý, nhưng đã xuất gia hành đạo. Thành tựu pháp này, ta nên đến kia chớ kia không nên đến đây.
“Lại nữa, Sa-môn Cù-đàm sắc sáng đầy đủ, chủng tánh chơn chánh, nhưng đã xuất gia tu đạo. Đã thành tựu pháp này, thì ta nên đến kia chớ kia không nên đến đây.
“Lại nữa, Sa-môn Cù-đàm sanh vào gia đình giàu có, có uy lực lớn, nhưng đã xuất gia hành đạo. Đã thành tựu pháp này, ta nên đến kia chớ kia không nên đến đây.
“Lại nữa, Sa-môn Cù-đàm có đủ giới Hiền Thánh, thành tựu trí tuệ. Đã thành tựu pháp này, ta nên đến kia chớ kia không nên đến đây.
“Lại nữa, Sa-môn Cù-đàm khéo léo nơi ngôn ngữ, dịu dàng hòa nhã. Đã thành tựu pháp này, thì ta nên đến kia chớ kia không nên đến đây.
“Lại nữa, Sa-môn Cù-đàm là bậc Đạo sư của đại chúng, có đông đệ tử. Đã thành tựu pháp này, ta nên đến kia chớ kia không nên đến đây.
“Lại nữa, Sa-môn Cù-đàm vĩnh viễn diệt trừ dục ái, không có sơ suất thô tháo, ưu tư và sợi hãi đã trừ, lông tóc không dựng đứng, hoan hỷ, hòa vui; được mọi người khen ngợi, khéo nói quả báo của hành vi, không chê bai đạo khác. Đã thành tựu pháp này, thì ta nên đến kia chớ kia không nên đến đây.
“Lại nữa, Sa-môn Cù-đàm thường được vua Ba-tư-nặc và vua Bình-sa lễ kính cúng dường. Đã thành tựu pháp này, thì ta nên đến kia, chớ kia không nên đến đây.
“Lại nữa, Sa-môn Cù-đàm được Bà-la-môn Phất-già-la-sa-la lễ kính cúng dường; cũng được Bà-la-môn Phạm, Bà-la-môn Đa-lị-già, Bà-la-môn Cứ Xỉ, Thủ-ca Ma-nạp Đô-da Tử thăm gặp cúng dường. Đã thành tựu pháp ấy, thì ta nên đến kia chớ kia không nên đến đây.
“Lại nữa, Sa-môn Cù-đàm được Thanh-văn đệ tử sùng phụng, lễ kính cúng dường; cũng được Chư Thiên và các chúng quỷ thần khác cung kính. Các dòng họ Thích-ca, Câu-lị, Minh-ninh, Bạt-kỳ, Mạt-la, Tô-ma, thảy đều tông phụng. Đã thành tựu pháp này, ta nên đến kia chớ kia không nên đến ta.
“Lại nữa, Sa-môn Cù-đàm truyền trao cho vua Ba-tư-nặc và vua Bình-sa ba quy và năm giới. Đã thành tựu pháp này, ta nên đến kia chớ kia không nên đến đây.
“Lại nữa, Sa-môn Cù-đàm truyền trao ba quy năm giới cho Bà-la-môn Phất-già-la-sa-la vân vân. Đã thành tựu pháp này, ta nên đến kia chớ kia không nên đến đây.
“Lại nữa, đệ tử của Sa-môn Cù-đàm thọ ba quy năm giới; Chư Thiên, dòng họ Thích, Câu-lị, vân vân, thảy đều thọ ba quy năm giới. Đã thành tựu pháp này, ta nên đến kia chớ kia không nên đến đây.
“Lại nữa, Sa-môn Cù-đàm khi du hành được hết thảy mọi người cung kính cúng dường. Đã thành tựu pháp này, ta nên đến kia chớ kia không nên đến đây.
“Lại nữa, những thành quách, tụ lạc mà Sa-môn Cù-đàm đã đến, đều được mọi người cúng dường. Đã thành tựu pháp này, ta nên đến kia chớ kia không nên đến đây.
“Lại nữa, những nơi Sa-môn Cù-đàm đi đến, các loài phi nhân, quỷ thần không dám xúc nhiễu. Đã thành tựu pháp này, ta nên đến kia chớ kia không nên đến đây.
“Lại nữa, những nơi Sa-môn Cù-đàm đi đến, nhân dân ở đó đều thấy ánh sáng, nghe âm nhạc trời. Đã thành tựu pháp này thì ta nên đến kia chớ kia không nên đến ta.
“Lại nữa, Sa-môn Cù-đàm khi muốn rời khỏi chỗ đã đến, mọi người đều luyến mộ, khóc lóc mà tiễn đưa. Đã thành tựu pháp này thì ta nên đến kia chớ kia không nên đến đây.
“Sa-môn Cù-đàm khi mới xuất gia, cha mẹ khóc lóc, thương nhớ tiếc nuối. Đã thành tựu pháp này thì ta nên đến kia chớ kia không nên đến ta.
“Sa-môn Cù-đàm xuất gia khi còn trai trẻ, dẹp bỏ các thứ trang sức, voi, ngựa, xe báu, ngũ dục, anh lạc. Đã thành tựu pháp này, thì ta nên đến kia chớ kia không nên đến đây.
“Lại nữa, Sa-môn Cù-đàm khước từ ngôi vị Chuyển luân vương, xuất gia hành đạo. Nếu Ngài tại gia, sẽ trị vì bốn thiên hạ, thống lãnh dân vật, thì chúng ta đều là thần thuộc. Đã thành tựu pháp ấy, thì ta nên đến kia chớ kia không nên đến đây.
“Lại nữa, Sa-môn Cù-đàm hiểu rõ Phạm pháp, có thể nói cho người khác, và cũng nói chuyện trao đổi với Phạm thiên. Đã thành tựu pháp ấy, thì ta nên đến kia chớ kia không nên đến đây.
“Lại nữa, Sa-môn Cù-đàm đầy đủ cả ba hai tướng. Đã thành tựu pháp này, thì ta nên đến kia chớ kia không nên đến đây.
“Lại nữa, Sa-môn Cù-đàm có trí tuệ thông suốt, không có khiếp nhược. Đã thành tựu pháp này, thì ta nên đến kia chớ kia không nên đến đây.
“Cù-đàm kia nay đến thành Chiêm-bà này, ở bên bờ hồ Già-già, đối với ta là tôn quý, vả lại là khách. Ta nên thân hành đến thăm viếng.”
Năm trăm Bà-la-môn khi ấy thưa với Chủng Đức rằng:
“Kỳ diệu thay, hy hữu thay, công đức của vị kia đến như vậy chăng? Trong các đức, vị kia chỉ cần có một đức là đã không nên đến đây rồi, huống hồ nay gồm đủ cả. Vậy ta hãy kéo hết đi thăm hỏi.”
Chủng Đức đáp:
“Các người muốn đi thì nên biết thời.”
Rồi Chủng Đức cho thắng cỗ xe báu, cùng với năm trăm Bà-la-môn và các trưởng giả trong thành Chiêm-bà trước sau vây quanh, đi đến hồ Già-già. Cách hồ không xa, ông thầm nghĩ rằng: ‘Giả sử ta hỏi Cù-đàm, mà hoặc giả không vừa ý Ngài, thì vị Sa-môn ấy sẽ chê trách ta, bảo rằng: ‘Nên hỏi như vầy. Không nên hỏi như vầy.’ Mọi người mà nghe được, cho rằng ta vô trí, sẽ tổn hại cho thanh danh của ta. Giả sử Sa-môn Cù-đàm hỏi ta về nghĩa, mà ta đáp hoặc không vừa ý Ngài, vị Sa-môn ấy sẽ khiển trách ta, bảo rằng: ‘Nên trả lời như vầy. Không nên trả lời như vầy.’ Mọi người mà nghe được, cho rằng ta vô trí, sẽ tổn hại cho thanh danh của ta. Giả sử ở đây ta im lặng rồi trở về, mọi người sẽ nói: ‘Ông này chẳng biết gì. Cuối cùng, không thể đến chỗ Sa-môn Cù Đàm.’ Thế thì cũng tổn hại thanh danh của ta. Nếu Sa-môn Cù-đàm hỏi ta về pháp của Bà-la-môn, ta sẽ trả lời Cù-đàm đầy đủ, hiệp ý Ngài.”
Khi ấy, Chủng Đức ở bên bờ hồ suy nghĩ như vậy rồi, liền xuống xe đi bộ dẫn đầu đến chỗ Thế Tôn, chào hỏi xong, ngồi sang một bên. Bấy giờ các Bà-la-môn, Trưởng giả, Cư sĩ thành Chiêm-bà, có người lễ Phật xong rồi ngồi; có người chào hỏi xong rồi ngồi; hoặc có người xưng tên rồi ngồi; hoặc có người chắp tay hướng về Phật rồi ngồi; hoặc có người im lặng mà ngồi xuống. Khi mọi người đã ngồi yên, Phật biết ý nghĩ trong lòng của Chủng Đức, bèn bảo rằng:
“Điều mà ông suy nghĩ, hãy theo ước nguyện của ông.”
Rồi Phật hỏi Chủng Đức:
“Bà-la-môn của ông, có mấy pháp để thành tựu?”
Bấy giờ Chủng Đức nghĩ thầm rằng:
“Kỳ diệu thay, hy hữu thay, Sa-môn Cù-đàm có đại thần lực mới thấy được tâm của người, đúng theo ý nghĩ của ta mà hỏi.”
Bà-la-môn Chủng Đức bèn ngồi thẳng người lên, nhìn bốn phía đại chúng, tươi cười hớn hở, rồi mới trả lời Phật rằng:
“Bà-la-môn của tôi có năm pháp cần thành tựu, để cho lời nói mới chân thành, không có hư dối. Những gì là năm? 1. Bà-la-môn có bảy đời cha mẹ chơn chánh không bị người dèm pha. 2. Đọc tụng thông lợi ba bộ dị học, có thể phân tích các thứ kinh thư, những chỗ u vi của thế điển, không chỗ nào không tổng luyện, lại có thể giỏi phép xem tướng đại nhân, xét rõ cát hung, nghi lễ tế tự. 3. Dung mạo đoan chánh. 4. Trì giới đầy đủ. 5. Trí tuệ thông suốt. Đó là năm. Thưa Cù-đàm, Bà-la-môn thành tựu năm pháp này, thì lời nói mới chí thành, không có hư dối.”
Phật nói:
“Lành thay, Chủng Đức, vả có Bà-la-môn nào, trong năm pháp, bỏ một, thành tựu bốn, mà lời nói chí thành, không có hư dối chăng?”
Chủng Đức bạch Phật:
“Có. Vì sao? Thưa Cù-đàm, cần gì dòng họ? Nếu Bà-la-môn đọc tụng thông suốt ba bộ dị học, phân tích các loại kinh thư, những chỗ u vi của thế điển, không đâu là không tổng luyện, lại giỏi phép xem tướng đại nhân, xét rõ cát hung, tế tự nghi lễ, dung mạo đoan chánh, trì giới đầy đủ, trí tuệ thông suốt; có bốn pháp thì lời nói thành thật, không có hư dối.”
Phật nói với Chủng Đức:
“Lành thay, lành thay, nếu trong bốn pháp này, bỏ một, thành tựu ba, mà lời nói vẫn thành thật, không có hư dối, vẫn được gọi là Bà-la-môn chăng?”
Chủng Đức trả lời:
“Có. Cần gì dòng dõi. Cần gì đọc tụng. Nếu Bà-la-môn có dung mạo đoan chánh, trì giới đầy đủ, trí tuệ thông suốt; thành tựu ba pháp này, thì lời nói chân thành, không có hư dối; được gọi là Bà-la-môn.”
Phật nói:
“Lành thay, lành thay. Thế nào, nếu trong ba pháp, bỏ một pháp, thành hai, mà kia lời nói vẫn chí thành, không có hư dối; được gọi là Bà-la-môn chăng?”
Đáp: “Có. Cần gì dòng dõi, đọc tụng và đoan chánh?””
Lúc bấy giờ năm trăm Bà-la-môn ai nấy đều lớn tiếng, nói với Bà-la-môn Chủng Đức:
“Sao lại chê bỏ dòng dõi, đọc tụng và đoan chánh, cho là không cần?”
Thế Tôn nói với năm trăm Bà-la-môn rằng:
“Nếu Bà-la-môn Chủng Đức có dung mạo xấu xí, không có dòng dõi, đọc tụng không thông suốt, không có biện tài, trí tuệ, khéo trả lời, không đủ khả năng nói chuyện với Ta, thì các ngươi nên nói. Nếu Bà-la-môn Chủng Đức có dung mạo đoan chánh, chủng tánh đầy đủ, đọc tụng thông suốt, trí tuệ biện tài, giỏi vấn đáp, đủ khả năng cùng Ta luận nghị, thì các ngươi hãy im lặng, nghe người này nói.”
Bấy giờ, Bà-la-môn Chủng Đức bạch Phật:
“Xin Cù-đàm tạm ngừng giây lát. Tôi sẽ tự mình đúng theo pháp đi khuyên bảo những người này.”
Chủng Đức ngay sau đó nói với năm trăm Bà-la-môn:
“Ương-già Ma-nạp nay đang ở trong chúng này. Đó là cháu của ta. Các ngươi có thấy không? Nay các đại chúng cùng tụ hội hết ở đây. Duy trừ Cù-đàm có dung mạo đoan chánh, kỳ dư có ai bằng Ma-nạp này? Nhưng nếu Ma-nạp này sát sanh, trộm cướp, dâm dật, vô lễ, dối trá, lừa gạt, lấy lửa đốt người, chận đường làm chuyện ác. Này các Bà-la-môn, nếu Ương-già Ma-nạp này làm đủ chuyện ác, thế thì đọc tụng, xinh đẹp, để làm gì?”
Năm trăm Bà-la-môn lúc ấy im lặng không trả lời. Chủng Đức bạch Phật:
“Nếu trì giới đầy đủ, trí tuệ thông suốt, thế thì lời nói chí thành, không hư dối, được gọi là Bà-la-môn.”
Phật nói:
“Lành thay, lành thay! Thế nào, Chủng Đức, trong hai pháp ấy, nếu bỏ một mà thành tựu một, thì lời nói vẫn thành thật, không có hư dối, được gọi là Bà-la-môn chăng?”
Đáp:
“Không thể được. Vì sao? Giới tức trí tuệ. Trí tuệ tức giới. Có giới, có trí, sau đó lời nói mới thành thật, không có hư dối, tôi gọi là Bà-la-môn.”
Phật nói:
“Lành thay, lành thay! Đúng như ông nói. Có giới thì có tuệ. Có tuệ thì có giới. Giới làm thanh tịnh tuệ. Tuệ làm thanh tịnh giới. Chủng Đức, như người rửa tay, tay trái và tay phải cần cho nhau. Tay trái rửa sạch tay phải, tay phải rửa sạch tay trái. Cũng vậy, có tuệ thì có giới. Có giới thì có tuệ. Giới làm sạch tuệ. Tuệ làm sạch giới. Bà-la-môn, ai đầy đủ giới và tuệ, ta gọi người đó là Tỳ-kheo.”
Bấy giờ, Chủng Đức bạch Phật:
“Thế nào là giới?”
Phật nói:
“Hãy lắng nghe, hãy lắng nghe! Hãy suy ngẫm kỹ! Ta sẽ phân biệt từng điều một cho ông nghe.”
Đáp rằng: “Kính vâng. Vui lòng muốn nghe”.
Bấy giờ, Phật nói với Chủng Đức:
“Nếu Như Lai xuất hiện ở đời, là vị Ứng cúng, Chánh biến tri, Minh hành túc, Thiện thệ, Thế gian giải, Vô thượng sĩ, Điều ngự trượng phu, Thiên nhân sư, Phật, Thế Tôn, ở giữa Chư Thiên, người đời, Sa-môn, Bà-la-môn, mà tự thân chứng ngộ, rồi giảng thuyết cho người; lời nói khoảng đầu, khoảng giữa và khoảng cuối thảy đều chân chánh, đầy đủ nghĩa và vị, phạm hạnh thanh tịnh. Nếu có trưởng giả, hay con trai trưởng giả, sau khi nghe pháp này, tín tâm thanh tịnh. Do tín tâm thanh tịnh, người ấy suy xét như vầy: ‘Tại gia thật khó, ví như gông cùm; muốn tu hành phạm hạnh mà không thể tự tại. Ta nay hãy cạo bỏ râu tóc, bận ba pháp y, xuất gia tu đạo.’ Người ấy, sau đó, từ bỏ gia đình, bỏ sản nghiệp, từ giã thân tộc, bận ba pháp y, dẹp các trang sức, đọc tụng tỳ-ny, đầy đủ giới luật, từ bỏ không sát sanh,... cho đến, tâm pháp tứ thiền, đạt được an lạc ngay trong hiện tại. Vì sao? Ấy là do tinh tấn, chánh niệm, chánh tri, ưa sống một mình chỗ thanh vắng mà được vậy. Bà-la-môn, đó gọi là giới.”
Lại hỏi:
“Sao gọi là tuệ?” Phật nói:
“Nếu Tỳ-kheo, bằng với tâm định tĩnh, thanh tịnh không cấu uế, mềm mại, dễ điều phục, an trú trạng thái bất động,… cho đến, chứng đắc ba minh, trừ khử vô minh, phát sanh trí tuệ, diệt trừ tối tăm, phát sanh ánh sáng đại pháp, xuất trí lậu tận. Vì sao? Ấy là do tinh cần, chánh niệm, chánh tri, ưa sống một mình nơi thanh vắng mà được vậy. Bà-la-môn, đó là đầy đủ trí tuệ.”
Khi ấy, Chủng Đức liền bạch Phật rằng:
“Nay con quy y Phật, Pháp, Thánh Chúng. Cúi mong Thế Tôn nhận con làm ưu-bà-tắc trong Chánh pháp. Từ nay về sau, suốt đời không giết, không trộm, không tà dâm, không dối, không uống rượu.”
Bấy giờ, Chủng Đức Bà-la-môn sau khi nghe những điều Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.
佛說長阿含經卷第十五
T 0094a17 後秦弘始年佛陀耶舍共竺佛念譯
T 0094a18如是我聞:
一時,佛在鴦伽國,與大比丘眾 T 0094a20千二百五十人俱。遊行人間,止宿瞻婆城 T 0094a21伽伽池側。
時,有婆羅門,名曰種德,住瞻 T 0094a22婆城,其城人民眾多,熾盛豐樂,波斯匿王即 T 0094a23封此城與種德婆羅門,以為梵分。此婆羅 T 0094a24門七世以來父母真正,不為他人之所輕 T 0094a25毀,異學三部諷誦通利,種種經書盡能分別, T 0094a26世典幽微靡不綜練,又能善於大人相法、 T 0094a27瞻候吉凶、祭祀儀禮,有五百弟子,教授不 T 0094a28廢。
時,瞻婆城內諸婆羅門、長者、居士聞沙門 T 0094a29瞿曇釋種子出家成道,從鴦伽國遊行人 T 0094b01間, 至 瞻婆城伽伽池側,有大名稱,流聞天 T 0094b02下,如來、至真、等正覺,十號具足,於諸天、世人、 T 0094b03魔、若魔、天、沙門、婆羅門中,自身作證,為他說 T 0094b04法,上中下言,皆悉真正,義味具足,梵行清 T 0094b05淨。「如此真人應往覲現,今我寧可往與相見。」 T 0094b06作此言已,即共相率,出瞻婆城,隊隊相隨, T 0094b07欲往詣佛。
時,種德婆羅門在高臺上,遙見 T 0094b08眾人隊隊相隨,故問侍者:「彼諸人等以何 T 0094b09因緣隊隊相隨?欲何所至?」
侍者白言:「我聞 T 0094b10沙門瞿曇釋種子出家成道,於鴦伽國遊 T 0094b11行人間,至瞻婆城伽伽池側,有大名稱,流 T 0094b12聞天下,如來、至真、等正覺,十號具足,於諸天、 T 0094b13世人、魔、若魔、天、沙門、婆羅門中自身作證,為 T 0094b14他人說,上中下言,皆悉真正,義味具足,梵行 T 0094b15清淨;此瞻婆城諸婆羅門、長者、居士眾聚相 T 0094b16隨,欲往問訊瞿曇沙門耳。」
時,種德婆羅門 T 0094b17即勅侍者:「汝速持我聲,往語諸人:『卿等小 T 0094b18住,須我往至,當共俱詣彼瞿曇所。』」
時,彼侍 T 0094b19者即以種德聲,往語諸人言:「諸人且住,須 T 0094b20我往到,當共俱詣彼瞿曇所。」
時,諸人報侍 T 0094b21者言:「汝速還白婆羅門言:『今正是時,宜共 T 0094b22行也。』」
侍者還白:「諸人已住,言:『今正是時,宜 T 0094b23共行也。』」時,種德婆羅門即便下臺,至中門 T 0094b24立。
時,有餘婆羅門五百人,以少因緣,先集 T 0094b25門下,見種德婆羅門來,皆悉起迎問言:「大婆 T 0094b26羅門!欲何所至?」
種德報言:「有沙門瞿曇釋 T 0094b27種子出家成道,於鴦伽國遊行人間,至瞻 T 0094b28婆城伽伽池側,有大名稱,流聞天下,如來、 T 0094b29至真、等正覺,十號具足,於諸天、世人、魔、若魔、 T 0094c01天、沙門、婆羅門中,自身作證,為他說法,上中 T 0094c02下言,皆悉真正,義味具足,梵行清淨。如是 T 0094c03真人宜往覲現,我今欲往至彼相見。」
時,五 T 0094c04百婆羅門即白種德言:「勿往相見,所以者 T 0094c05何?彼應詣此,此不應往。今大婆羅門七世 T 0094c06以來父母真正,不為他人之所輕毀;若成 T 0094c07就此法者,彼應詣此,此不應詣彼。又大 T 0094c08婆羅門異學三部諷誦通利,種種經書皆能 T 0094c09分別,世典幽微靡不綜練,又能善於大人 T 0094c10相法、瞻相吉凶、祭祀儀禮;成就此法者, T 0094c11彼應詣此,此不應詣彼。又大婆羅門顏貌 T 0094c12端正,得梵色像;成就此法者,彼應詣此,此 T 0094c13不應詣彼。又大婆羅門戒德增上,智慧成 T 0094c14就;成就此法者,彼應詣此,此不應詣彼。
T 0094c15「又大婆羅門所言柔和,辯才具足,義味清淨; T 0094c16成就此法者,彼應詣此,此不應詣彼。又 T 0094c17大婆羅門為大師,弟子眾多;成就此法者, T 0094c18彼應詣此,此不應詣彼。又大婆羅門常教 T 0094c19授五百婆羅門;成就此法者,彼應詣此,此 T 0094c20不應詣彼。又大婆羅門四方學者皆來請 T 0094c21受,問諸技術祭祀之法,皆能具答;成就此 T 0094c22法者,彼應詣此,此不應詣彼。又大婆羅 T 0094c23門為波斯匿王及瓶沙王恭敬供養;成就 T 0094c24此法者,彼應詣此,此不應詣彼。又大婆 T 0094c25羅門富有財寶,庫藏盈溢;成就此法者,彼 T 0094c26應詣此,此不應詣彼。又大婆羅門智慧明 T 0094c27達,所言通利,無有怯弱;成就此法者,彼應 T 0094c28詣此,此不應詣彼。」
爾時,種德告諸婆羅門 T 0094c29曰:「如是!如是!如汝所言,我具有此德,非不 T 0095a01有也。汝當聽我說,沙門瞿曇所有功德,我 T 0095a02等應往彼,彼不應來此。沙門瞿曇七世 T 0095a03已來父母真正,不為他人之所輕毀;彼成 T 0095a04就此法者,我等應往彼,彼不應來此。 T 0095a05又沙門瞿曇顏貌端正,出剎利種;成就此 T 0095a06法者,我應詣彼,彼不應來此。又沙門瞿 T 0095a07曇生尊貴處,出家為道;成就此法者,我 T 0095a08應詣彼,彼不應來此。又沙門瞿曇光色具 T 0095a09足,種姓真正,出家修道;成就此法者,我應 T 0095a10詣彼,彼不應來此。又沙門瞿曇生財富 T 0095a11家,有大威力,出家為道;成就此法者,我 T 0095a12應詣彼,彼不應來此。
「又沙門瞿曇具賢 T 0095a13聖戒,智慧成就;成就此法者,我應詣彼, T 0095a14彼不應來此。又沙門瞿曇,善於言語柔軟 T 0095a15和雅;成就此法者,我應詣彼,彼不應來 T 0095a16此。又沙門瞿曇,為眾導師,弟子眾多;成就 T 0095a17此法者,我應詣彼,彼不應來此。又沙門瞿 T 0095a18曇,永滅欲愛,無有卒暴,憂畏已除,衣毛不 T 0095a19竪,歡喜和悅,見人稱善,善說行報,不毀餘 T 0095a20道;成就此法者,我應詣彼,彼不應來此。 T 0095a21又沙門瞿曇,恒為波斯匿王及瓶沙王禮 T 0095a22敬供養;成就此法者,我應詣彼,彼不應 T 0095a23來此。又沙門瞿曇,為沸伽羅娑羅婆羅門 T 0095a24禮敬供養,亦為梵婆羅門、多利遮婆羅門、 T 0095a25鋸齒婆羅門、首迦摩納都耶子所見供養; T 0095a26成就此法者,我應詣彼,彼不應來此。
「又 T 0095a27沙門瞿曇為諸聲聞弟子之所宗奉,禮敬 T 0095a28供養,亦為諸天、餘鬼神眾之所恭敬,釋種、俱 T 0095a29利、冥寧、跋祇、末羅、酥摩皆悉宗奉;成就此 T 0095b01法者,我應詣彼,彼不應來此。又沙門瞿 T 0095b02曇授波斯匿王及瓶沙王受三歸五戒;成就 T 0095b03此法者,我應詣彼,彼不應來此。又沙門 T 0095b04瞿曇授沸伽羅娑羅婆羅門等三歸五戒;成 T 0095b05就此法者,我應詣彼,彼不應來此。又沙 T 0095b06門瞿曇弟子受三自歸五戒,諸天、釋種、俱 T 0095b07利等,皆受三歸五戒;成就此法者,我應 T 0095b08詣彼,彼不應來此。
「又沙門瞿曇遊行之時, T 0095b09為一切人恭敬供養;成就此法者,我應詣 T 0095b10彼,彼不應來此。又沙門瞿曇所至城郭聚 T 0095b11落,為人供養;成就此法者,我應詣彼,彼 T 0095b12不應來此。又沙門瞿曇所至之處,非人、鬼 T 0095b13神不敢觸嬈;成就此法者,我應詣彼,彼不 T 0095b14應來此。又沙門瞿曇所至之處,其處人民 T 0095b15皆見光明,聞天樂音;成就此法者,我應詣 T 0095b16彼,彼不應來此。又沙門瞿曇所至之處,若 T 0095b17欲去時,眾人戀慕,涕泣而送;成就此法者,我 T 0095b18應詣彼,彼不應來此。
「又沙門瞿曇初出 T 0095b19家時,父母涕泣,愛惜戀恨;成就此法者,我 T 0095b20應詣彼,彼不應來此。又沙門瞿曇少壯出 T 0095b21家,捨諸飾好、象馬、寶車、五欲、瓔珞;成就此法 T 0095b22者,我應詣彼,彼不應來此。又沙門瞿曇 T 0095b23捨轉輪王位,出家為道,若其在家,當居 T 0095b24四天下,統領民物,我等皆屬;成就此法者, T 0095b25我應詣彼,彼不應來此。
「又沙門瞿曇明 T 0095b26解梵法,能為人說,亦與梵天往返言語;成 T 0095b27就此法者,我應詣彼,彼不應來此。又沙 T 0095b28門瞿曇三十二相皆悉具足;成就此法者, T 0095b29我應詣彼,彼不應來此。又沙門瞿曇智慧 T 0095c01通達,無有怯弱;成就此法者,我應詣彼, T 0095c02彼不應來此。彼瞿曇今來至此瞻婆城伽 T 0095c03伽池側,於我為尊,又是貴客,宜往親覲。」
時, T 0095c04五百婆羅門白種德言:「甚奇!甚特!彼之功 T 0095c05德乃如是耶?若彼於諸德中能成一者尚 T 0095c06不應來,況今盡具!宜盡相率,共往問訊。」
種 T 0095c07德答言:「汝欲行者,宜知是時。」
時,種德即嚴 T 0095c08駕寶車,與五百婆羅門及瞻婆城諸婆羅門 T 0095c09長者、居士,前後圍遶,詣伽伽池。去池不遠, T 0095c10自思惟言:「我設問瞿曇,或不可彼意,彼沙 T 0095c11門瞿曇當呵我言:『應如是問,不應如是 T 0095c12問。』眾人聞者,謂我無智,損我名稱。設沙門 T 0095c13瞿曇問我義者,我答或不稱彼意,彼沙門 T 0095c14當呵我言:『應如是答,不應如是答。』眾人 T 0095c15聞者,謂我無智,損我名稱。設我默然於此 T 0095c16還者,眾人當言:『此無所知。』竟不能至沙 T 0095c17門瞿曇所,損我名稱。若沙門瞿曇問我婆羅 T 0095c18門法者,我答瞿曇足合其意耳。」
時,種德 T 0095c19於伽伽池側作是念已,即便前行下車步 T 0095c20進,至世尊所,問訊已,一面坐。時,瞻婆城諸婆 T 0095c21羅門、長者、居士,或有禮佛而坐者,或有問 T 0095c22訊而坐者,或有稱名而坐者,或叉手向佛 T 0095c23而坐者,或有默然而坐者。眾坐既定,佛知 T 0095c24種德婆羅門心中所念,而告之曰:「汝所念 T 0095c25者,當隨汝願!」佛問種德:「汝婆羅門成就幾 T 0095c26法?所言誠實,能不虛妄。」
爾時,種德默自念言: T 0095c27「甚奇!甚特!沙門瞿曇有大神力,乃見人心, T 0095c28如我所念而問我義。」
時,種德婆羅門端身正 T 0095c29坐,四顧大眾,熙怡而笑,方答佛言:「我婆羅 T 0096a01門成就五法,所言至誠,無有虛妄。云何為 T 0096a02五?一者婆羅門七世已來父母真正,不為他 T 0096a03人之所輕毀。二者異學三部諷誦通利,種種 T 0096a04經書盡能分別,世典幽微靡不綜練,又能善 T 0096a05於大人相法、明察吉凶、祭祀儀禮。三者顏 T 0096a06貌端正。四者持戒具足。五者智慧通達。是 T 0096a07為五。瞿曇!婆羅門成就此五法,所言誠實, T 0096a08無有虛妄。」
佛言:「善哉!種德!頗有婆羅門於 T 0096a09五法中捨一成四,亦所言誠實,無有虛妄, T 0096a10得名婆羅門耶?」
種德白佛言:「有。所以者何? T 0096a11瞿曇!何用生為?若婆羅門異學三部諷誦通 T 0096a12利,種種經書盡能分別,世典幽微靡不綜 T 0096a13練,又能善於大人相法、明察吉凶、祭祀儀 T 0096a14禮,顏貌端正,持戒具足,智慧通達;有此四 T 0096a15法,則所言誠實,無有虛妄,名婆羅門。」
佛告 T 0096a16種德:「善哉!善哉!若於此四法中捨一成三 T 0096a17者,亦所言誠實,無有虛妄,名婆羅門耶?」
種 T 0096a18德報言:「有。所以者何?何用生、誦為?若婆羅 T 0096a19門顏貌端正,持戒具足,智慧通達;成此三 T 0096a20者,所言真誠,無有虛妄,名婆羅門。」
佛言:「善 T 0096a21哉!善哉!云何?若於三法中捨一成二,彼亦 T 0096a22所言至誠,無有虛妄,名婆羅門耶?」
答曰:「有。 T 0096a23所以者何?何用生、誦及端正為?」
爾時,五百婆 T 0096a24羅門各各舉聲,語種德婆羅門言:「何故呵 T 0096a25止生、誦及與端正,謂為無用?」
爾時,世尊告五 T 0096a26百婆羅門曰:「若種德婆羅門容貌醜陋,無 T 0096a27有種姓,諷誦不利,無有辯才、智慧、善答,不 T 0096a28能與我言者,汝等可語;若種德顏貌端正, T 0096a29種姓具足,諷誦通利,智慧辯才,善於問答, T 0096b01足堪與我共論義者,汝等且默,聽此人 T 0096b02語。」
爾時,種德婆羅門白佛言:「唯願瞿曇且小 T 0096b03停止!我自以法往訓此人。」
爾時,種德尋告 T 0096b04五百婆羅門曰:「鴦伽摩納今在此眾中,是我 T 0096b05外甥,汝等見不?今諸大眾普共集此,唯 T 0096b06除瞿曇顏貌端正,其餘無及此摩納者;而 T 0096b07此摩納殺生、偷盜、淫逸、無禮、虛妄、欺誑,以火 T 0096b08燒人,斷道為惡。諸婆羅門!此鴦伽摩納眾 T 0096b09惡悉備,然則諷誦、端正,竟何用為?」
時,五百婆 T 0096b10羅門默然不對。種德白佛言:「若持戒具足,智 T 0096b11慧通達,則所言至誠,無有虛妄,得名婆羅 T 0096b12門也。」
佛言:「善哉!善哉!云何?種德!若於二法 T 0096b13中捨一成一,亦所言誠實,無有虛妄,名婆 T 0096b14羅門耶?」
答曰:「不得。所以者何?戒即智慧,智 T 0096b15慧即戒;有戒有智,然後所言誠實,無有虛 T 0096b16妄,我說名婆羅門。」
佛言:「善哉!善哉!如汝所 T 0096b17說,有戒則有慧,有慧則有戒;戒能淨慧,慧 T 0096b18能淨戒。種德!如人洗手,左右相須,左能淨 T 0096b19右,右能淨左。此亦如是,有慧則有戒,有戒 T 0096b20則有慧,戒能淨慧,慧能淨戒。婆羅門!戒、慧 T 0096b21具者,我說名比丘。」
爾時,種德婆羅門白佛 T 0096b22言:「云何為戒?」
佛言:「諦聽!諦聽!善思念之,吾 T 0096b23當為汝一一分別。」
對曰:「唯然!願樂欲聞。」
爾 T 0096b24時,世尊告婆羅門曰:「若如來出現於世,應 T 0096b25供、正遍知、明行成、善逝、世間解、無上士、調御 T 0096b26丈夫、天人師、佛、世尊,於諸天、世人、沙門、婆羅 T 0096b27門中,自身作證,為他人說,上中下言,皆悉真 T 0096b28正,義味具足,梵行清淨。若長者、長者子聞此 T 0096b29法者,信心清淨;信心清淨已,作如是觀:『在 T 0096c01家為難,譬如桎梏;欲修梵行,不得自在。 T 0096c02今我寧可剃除鬚髮,服三法衣,出家修道。』 T 0096c03彼於異時捨家財業,棄捐親族,服三法 T 0096c04衣,去諸飾好,諷誦毘尼,具足戒律,捨殺 T 0096c05不殺,——乃至心法四禪現得歡樂。所以者何?斯 T 0096c06由精勤,專念不忘,樂獨閑居之所得也。婆 T 0096c07羅門!是為具戒。」
又問:「云何為慧?」
佛言:「若比 T 0096c08丘以三昧心清淨無穢,柔軟調伏,住不動處, T 0096c09——乃至得三明,除去無明,生於慧明,滅於闇 T 0096c10冥,生大法光,出漏盡智。所以者何?斯由精 T 0096c11勤,專念不忘,樂獨閑居之所得也。婆羅門! T 0096c12是為智慧具足。」
時,種德婆羅門白佛言:「今我 T 0096c13歸依佛、法、聖眾,唯願聽我於正法中為優 T 0096c14婆塞!自今已後,盡形壽不殺、不盜、不婬、不欺、 T 0096c15不飲酒。」
時,種德婆羅門聞佛所說,歡喜奉行。
T 0096c16 SC 1Thus I have heard: One time, the Buddha was staying in Aṅga accompanied by a large assembly of 1,250 monks. They traveled among the people, stopping to stay at the city of Campā by the side of Gargā Pond.
SC 2At the time, there was a priest named Śroṇatāṇḍya who was residing in Campā, a city that was populous, thriving, and bountiful. King Prasenajit had bestowed the city to the priest Śroṇatāṇḍya as his priestly due.
SC 3This priest was descended from seven generations of fathers and mothers who were genuine [priests], so he wasn’t slighted by others. He had mastered the three Vedas and could discern all the various kinds of scriptures. He was learned about all the subtleties of the world’s scriptures. He was also skilled in the techniques of [recognizing] the great man’s signs, divining fortune and misfortune, and [performing] sacrifices and rituals. He had 500 disciples whom he taught without exception.
SC 4The priests, prominent people, and householders in Campā heard: “The ascetic Gautama of the Śākya clan, who had left the home life [113a] and achieved awakening, is touring among the people of Aṅga and has arrived by the side of Gargā Pond. He possesses a great reputation that’s heard throughout the world. He’s a Tathāgata, an Arhat, and a Completely Awakened One who has perfected the ten epithets. Among gods, worldly men, and demons, whether they’re in the assemblies of Māra, gods, ascetics, or priests, he is self-realized and teaches the Dharma for others. His words are all genuine in the beginning, middle, and end, complete in content and expression, and purify the religious life.”
SC 5They said, “It would be fitting to go and have an audience with such a realized man as this. We should go and pay him a visit now!” After they said that, they followed each other as they left the city. Crowds of people headed out to visit the Buddha.
SC 6The priest Śroṇatāṇḍya was up in his tower and saw those crowds of people from a distance. He asked his attendant, “What’s the reason those crowds of people are following each other? Where are they going?”
SC 7His attendant said, “I heard this: ‘The ascetic Gautama of the Śākya clan, who had left the home life and achieved awakening, is touring among the people of Aṅga and has arrived by the side of Gargā Pond. He possesses a great reputation that’s heard throughout the world. He’s a Tathāgata, an Arhat, and a Completely Awakened One who has perfected the ten epithets. Among gods, worldly men, and demons, whether they’re in the assemblies of Māra, gods, ascetics, or priests, he is self-realized and teaches the Dharma for others. His words are all genuine in the beginning, middle, and end, complete in content and expression, and purify the religious life.’ Those crowds of priests, prominent people, and householders of Campā are going to pay a visit to the ascetic Gautama.”
SC 8The priest Śroṇatāṇḍya then instructed his attendant: “Quickly, memorize my words and go tell those people this: ‘All of you, wait a little while for me. We’ll go pay a visit to that Gautama together.’”
SC 9His attendant then went and told those people Śroṇatāṇḍya’s message: ‘Everyone, wait a little while for me. We’ll go pay a visit to that Gautama together.”
SC 10The people replied to his attendant, “Quickly return to the priest and tell him, ‘Now is a good time. We should go together.’”
SC 11The attendant returned and said, “The people are waiting. They say, ‘Now is a good time. We should go together.’” The priest Śroṇatāṇḍya then came down from his tower and stood at its entrance.
SC 12At the time, another five hundred priests had already first assembled under the entrance for some minor reason. When they saw the priest Śroṇatāṇḍya coming, they all looked up and asked, “Great priest, where are you going?”
SC 13Śroṇatāṇḍya replied, “The ascetic Gautama of the Śākya clan, who had left the home life and achieved awakening, is touring among the people of Aṅga and has arrived by the side of Gargā Pond. He possesses a great reputation that’s heard throughout the world. He’s a Tathāgata, an Arhat, and a Completely Awakened One who has perfected the ten epithets. Among gods, worldly men, and demons, whether they’re in the assemblies of Māra, gods, ascetics, or priests, he is self-realized and teaches the Dharma for others. His words are all genuine in the beginning, middle, and end, complete in content and expression, and purify the religious life. It would be fitting to go and have an audience with such a true man as this. I’m going to visit him and have a look at his [bodily] signs.”
SC 14Those five hundred priests said to Śroṇatāṇḍya, “Don’t go and look at his signs. Why not? He should visit you here; you shouldn’t go there to visit him. Now, great priest, you’re descended from fathers and mothers who were genuine [priests] for seven generations, and other people don’t slight you. You have achieved such status, so he should come here to visit you; you shouldn’t go there to visit him.
SC 15“Moreover, great priest, you’ve mastered the three Vedas and can discern all the various scriptures. You’re learned about all the subtleties of the world’s scriptures. You’re also skilled at [recognizing] the great man’s signs, divining fortune and misfortune, and [performing] sacrifices and rituals. You have achieved such status, so he should come here to visit you; you shouldn’t go there to visit him.
SC 16“Moreover, great priest, you’re handsome looking, having attained the appearance of Brahma. You have achieved such status, so he should come here to visit you; you shouldn’t go there to visit him.
SC 17“Moreover, great priest, your precepts and virtue are surpassing, and your wisdom is accomplished. You have achieved such status, so he should come here to visit you; you shouldn’t go there to visit him.
SC 18“Moreover, great priest, your words are gentle, complete in eloquence, and their content and expression are pure. You have achieved such status, so he should come here to visit you; you shouldn’t go there to visit him.
SC 19“Moreover, great priest, you have numerous disciples. You have achieved such status, so he should come here to visit you; you shouldn’t go there to visit him.
SC 20“Moreover, great priest, you’re the instructor of five hundred priests. You have achieved such status, so he should come here to visit you; you shouldn’t go there to visit him.
SC 21“Moreover, great priest, students come from the four directions to request [your instruction], asking about the technique of sacrifices and rituals. You have achieved such status, so he should come here to visit you; you shouldn’t go there to visit him.
SC 22“Moreover, great priest, King Prasenajit and King Bimbisāra respect and support you. You have achieved such status, so he should come here to visit you; you shouldn’t go there to visit him.
SC 23“Moreover, great priest, you’re rich, possess treasures, and your treasury is overflowing. You have achieved such status, so he should come here to visit you; you shouldn’t go there to visit him.
SC 24“Moreover, great priest, your wisdom is insightful, your words are learned, and you lack timidity. You have achieved such status, so he should come here to visit you; you shouldn’t go there to visit him.
SC 25Śroṇatāṇḍya then told the priests, “So it is, so it is! As you’ve said, I’m endowed with these virtues; there are none I don’t possess. Now, listen to what I say: These virtues are possessed by the ascetic Gautama, so we should go there to him; he shouldn’t come here to us. The ascetic Gautama is descended from fathers and mothers who were genuine for seven generations, so he’s not slighted by other people. He has achieved such status, so we should go there to him; he shouldn’t come here to us.
SC 26“Moreover, the ascetic Gautama is handsome looking, having come from the warrior caste. He has achieved such status, so we should go there to him; he shouldn’t come here to us.
SC 27“Moreover, the ascetic Gautama was born to a noble station and left home for the path. He has achieved such status, so we should go there to him; he shouldn’t come here to us.
SC 28“Moreover, the ascetic Gautama is endowed with a glowing form, his caste and clan are genuine, and he left home to cultivate the path. He has achieved such status, so we should go there to him; he shouldn’t come here to us.
SC 29“Moreover, the ascetic Gautama was born to a wealthy family that possessed great majesty, and he left home for the path. He has achieved such status, so we should go there to him; he shouldn’t come here to us.
SC 30“Moreover, the ascetic Gautama has perfected noble precepts and accomplished wisdom. He has achieved such status, so we should go there to him; he shouldn’t come here to us.
SC 31“Moreover, the ascetic Gautama’s words are gentle and refined. He has achieved such status, so we should go there to him; he shouldn’t come here to us.
SC 32“Moreover, the ascetic Gautama is a teacher to a multitude, and his disciples are numerous. He has achieved such status, so we should go there to him; he shouldn’t come here to us.
SC 33“Moreover, the ascetic Gautama has forever destroyed craving without any fickleness. He has eliminated sorrow and fear, and his hair doesn’t stand on end. He rejoices and is glad to see people commend what’s good, skillfully teaches the results of conduct, and doesn’t criticize other religions. He has achieved such status, so we should go there to him; he shouldn’t come here to us.
SC 34“Moreover, the ascetic Gautama is always respected and supported by King Prasenajit and King Bimbisāra. He has achieved such status, so we should go there to him; he shouldn’t come here to us.
SC 35“Moreover, the ascetic Gautama is respected and supported by the priest Puṣkarasārin, and the priests Brahmāyu, [Tārukkha], [Kūṭadanta], Śukamāṇava Taudeyaputra support him, too. Having achieved such a state, I should go to him; he shouldn’t come here.
SC 36“Moreover, the ascetic Gautama is honored, respected, and supported by his disciples, and gods, demons, and other spirits respect him, too. The Śākya clan and the Kuru … Vṛji, Malla, and Soma honor him, too. Having achieved such a state, I should go to him; he shouldn’t come here.
SC 37“Moreover, the ascetic Gautama conferred the three refuges and five precepts to King Prasenajit and King Bimbisāra. He has achieved such status, so we should go there to him; he shouldn’t come here to us.
SC 38“Moreover, the ascetic Gautama conferred the three refuges and five precepts to the priest Puṣkarasārin. He has achieved such status, so we should go there to him; he shouldn’t come here to us.
SC 39“Moreover, the ascetic Gautama’s disciples received the three refuges and five precepts, and so have gods, the Śākya clan, the Kuru, and others. He has achieved such status, so we should go there to him; he shouldn’t come here to us.
SC 40“Moreover, wherever the ascetic Gautama travels, all the people respect and support him. He has achieved such status, so we should go there to him; he shouldn’t come here to us.
SC 41“Moreover, when the ascetic Gautama arrives as a city or village, he’s supported by its people. He has achieved such status, so we should go there to him; he shouldn’t come here to us.
SC 42“Moreover, wherever the ascetic Gautama goes, non-humans, demons, and spirits don’t dare harass him. He has achieved such status, so we should go there to him; he shouldn’t come here to us.
SC 43“Moreover, wherever the ascetic Gautama goes, the people living there see his light and hear heavenly music. He has achieved such status, so we should go there to him; he shouldn’t come here to us.
SC 44“Moreover, wherever the ascetic Gautama goes, many people feel such longing that they cry as they watch him leave. He has achieved such status, so we should go there to him; he shouldn’t come here to us.
SC 45“Moreover, when he first left home, the ascetic Gautama’s parent cried and felt disappointed and heart-broken. He has achieved such status, so we should go there to him; he shouldn’t come here to us.
SC 46“Moreover, when he was still young after leaving home, the ascetic Gautama discarded decorations, elephants and horses, valuable chariots, the five desires, and jewelry. He has achieved such status, so we should go there to him; he shouldn’t come here to us.
SC 47“Moreover, the ascetic Gautama renounced his place as a wheel-turning king and left home for the path. If he’d stayed home, he would have ruled the peoples of the whole world, and we would’ve been his subordinates. He has achieved such status, so we should go there to him; he shouldn’t come here to us.
SC 48“Moreover, the ascetic Gautama clearly understands the teachings of Brahmā, he’s able to explain them for others, and he pays visits to Brahmā to speak with him. He has achieved such status, so we should go there to him; he shouldn’t come here to us.
SC 49“Moreover, the ascetic Gautama is endowed all 32 signs [of a great man]. He has achieved such status, so we should go there to him; he shouldn’t come here to us.
SC 50“Moreover, the ascetic Gautama is wise and insightful, and he lacks timidity. He has achieved such status, so we should go there to him; he shouldn’t come here to us.
SC 51“Moreover, the ascetic Gautama is here at Campā by the side of Gargā Pond right now. It would be an honor for me to be his guest and fitting to go and have an audience with him.”
SC 52Those five hundred priests then said to Śroṇatāṇḍya, “Amazing! Extraordinary! Does he have such virtues? If he were to achieve just one of these virtues, he still shouldn’t come [here to us]. How would it be if he were endowed with all of them? It would be fitting for us to come along and greet him.”
SC 53Śroṇatāṇḍya replied, “If you want to go, it’s a good time to do so.”
SC 54Śroṇatāṇḍya then prepared horses and a treasure chariot, and he went to Gargā Pond surrounded by those five hundred priests and the priests, prominent people, and householders of Campā. He stopped not far from the pond and thought to himself, “Suppose I question Gautama, and maybe it’s not to his liking? That ascetic Gautama will rebuke me, ‘You should ask this question and not ask that question.’ The crowd will overhear him and take me for a fool, and my reputation will be damaged. Suppose the ascetic Gautama asks me about a topic, and maybe my answer won’t be to his liking. That ascetic Gautama will rebuke me, ‘You should answer this way and not that way.’ The crowd will overhear him and take me for a fool, and my reputation will be damaged. Suppose I remain silent. When I return, the people will say, ‘This priest knows nothing!’ No matter what I do, visiting the ascetic Gautama will damage my reputation. If the ascetic Gautama asked me about the priest’s teaching, that would be the only topic I could answer well enough to suit him!”
SC 55Once he finished thinking that beside of Gargā Pond, Śroṇatāṇḍya dismounted from his chariot and walked on foot to the Bhagavān. After they had exchanged greetings, he sat down to one side.
SC 56Some of the priests, prominent people, and householders of Campā bowed to the Buddha and sat. Some of them exchanged greetings with him and sat. Some of them praised him and sat. Some of their saluted him with their hands together and sat. Some remained quiet and sat. When the crowd was seated and settled, the Buddha knew that thought the priest Śroṇatāṇḍya had in his mind, so he told him, “Regarding that thought you had, you should do as you wish.”
SC 57The Buddha then asked Śroṇatāṇḍya, “How many qualities of a priest have you accomplished? Be honest; don’t speak falsely.”
SC 58Śroṇatāṇḍya then silently thought to himself, “Amazing! Extraordinary! The ascetic Gautama has that great miraculous power to read people’s minds. He asked about the topic that I had thought about!”
SC 59The priest Śroṇatāṇḍya sat up straight, surveyed the audience around them, and smiled happily. He then answered the Buddha, “I’ve accomplished five qualities of a priest, speaking honestly and not falsely. What are the five? One is that I’m a priest who is descended from seven generations of fathers and mothers who are genuine so that other people don’t slight me. Two is that I’ve mastered and chant the three Vedas, discern all the various scriptures, and I’m learned about all the subtleties of the world’s scriptures. I’m also skilled at [recognizing] the great man’s signs, divining fortune and misfortune, and [performing] sacrifices and rituals. Three is that I’m handsome looking. Four is that I’ve perfected the observance of precepts. Five is that I’m wise and insightful. These are the five. Gautama, I’ve accomplished these five qualities of a priest, speaking truthfully and not falsely.”
SC 60The Buddha said, “Good, Śroṇatāṇḍya! Could it be that a priest who discards one of those five qualities and achieves four of them could also be called a priest, speaking truthfully and not falsely?”
SC 61Śroṇatāṇḍya said to the Buddha, “He could. Why is that? Gautama, what purpose does his birth serve? Suppose a priest masters and chants the three Vedas, discerns all the various scriptures, and he’s learned about all the subtleties of the world’s scriptures. He’s also skilled at [recognizing] the great man’s signs, divining fortune and misfortune, and [performing] sacrifices and rituals. He’s handsome looking. He perfects the observance of precepts, and he’s wise and insightful. Having these four qualities, he could be called a priest, speaking truthfully and not falsely.”
SC 62The Buddha told Śroṇatāṇḍya, “Good, good! If he were to lack one of those four qualities and achieve three of them, would he still be called a priest, speak truthfully and not falsely?”
SC 63Śroṇatāṇḍya replied, “He would. Why is that? What purpose does his birth and the Vedas serve? Suppose a priest is handsome looking, has perfected the observance of precepts, and is wise and insightful. Achieving these three qualities, he could be called a priest, speaking truthfully and not falsely.”
SC 64The Buddha said, “Good, good! How is it? If he were to lack one of those three qualities and achieve two of them, would he be called a priest, speaking truthfully and not falsely?”
SC 65Śroṇatāṇḍya answered, “He would. Why is that? What purpose does his birth, the Vedas, and being handsome serve?”
SC 66Each of the five hundred priests then spoke up and said to the priest Śroṇatāṇḍya: “Why do you disrespect [a priest’s] birth, the Vedas, and being handsome, saying that they serve no purpose?”
SC 67The Bhagavān then told the five hundred priests, “If this priest Śroṇatāṇḍya were ugly, lacked [a respectable] caste and clan, hadn’t mastered the Vedas, and lacked eloquence, wisdom, and good answers, he wouldn’t be the one speaking with me, and you could speak. Since the priest Śroṇatāṇḍya is handsome, perfect in caste and clan, has mastered the Vedas, and is wise, eloquent, and good at answering questions, he’s qualified to have a discussion with me. The rest of you, remain silent and let this man speak.”
SC 68The priest Śroṇatāṇḍya then said to the Buddha, “Please, Gautama, stop for a moment. I’ll instruct them about the teaching.”
SC 69Śroṇatāṇḍya then told the five hundred priests, “Now, don’t you see my nephew who’s a student here in this assembly? Of everyone assembled here, only Gautama’s appearance is as handsome as his, but that student does evil things like killing, stealing, engaging in sex, lacking courtesy, lying, deceiving, burning people with fire, and cutting them off from the path. Priests, this student from Aṅga has done all these evil things, so what purpose do the Vedas and being handsome serve in the end?”
SC 70The five hundred priests remained silent and didn’t respond. Śroṇatāṇḍya then said to the Buddha, “If he perfects the observance of precepts, and he’s wise and insightful, then he could be called a priest, speaking truthfully and not falsely.”
SC 71The Buddha said, “Good, good! How is it, Śroṇatāṇḍya? If he lacks one of these two qualities and accomplishes one of them, would he be called a priest, speaking truthfully and not falsely?”
SC 72He answered, “He cannot. Why is that? The precepts are wise, and wisdom is the precepts. Having both precepts and wisdom, then as a result I would say that he is called a priest, speaking truthfully and not falsely.”
SC 73The Buddha said, “Good, good! As you’ve said, having precepts is having wisdom, and having wisdom is having precepts. Precepts purify wisdom, and wisdom purifies precepts. Śroṇatāṇḍya, it’s like when someone washes their hands: The right and left hand need each other. The left hand washes the right hand, and the right hand washes the left hand. These things are likewise. Having wisdom is having precepts, and having precepts is having wisdom. Precepts purify wisdom, and wisdom purifies precepts. Priest, I say someone endowed with precepts and wisdom is called a monk.”
SC 74Śroṇatāṇḍya then said to the Buddha, “What are the precepts?”
The Buddha replied, “Listen closely, listen closely; consider it well! I will discern them one by one for you.”
He responded, “Very well! I’d be glad to hear it.”
SC 75The Bhagavān then told Śroṇatāṇḍya, “Suppose a Tathāgata appears in the world who’s Worthy of Alms, Completely Awakened, Accomplished in Insight and Conduct, Well Gone, Understands the World, an Unsurpassed Man, Trainer of Men, Teacher to Gods and Humans, a Buddha, and a Bhagavān. Among gods, worldly people, ascetics, and priests, he’s self-realized, and he teaches for others. His words are all genuine in the beginning, middle, and end, complete in content and expression, and purify the religious life.
SC 76“Suppose prominent people or the children of prominent people hear this teaching. Once their belief is pure, they thus observe: ‘The household life is difficult; it’s like being in handcuffs and bond. I’d like to cultivate the religious life, but I can’t free myself from it. I’d rather cut off my hair, put on the three Dharma robes, leave home, and cultivate the path.’
SC 77“At some different time, they renounce their home, property, and occupation, part with family and friends, put on the three Dharma robes, and leave ornaments behind. They recite the Vinaya and perfect the discipline of precepts. They renounce killing and don’t kill beings … and so forth up to … He attains the rapture of the four dhyānas in the present life. Why is that? These things are a result of diligence, focused attention that’s not lost, and attainment of a pleasant and solitary dwelling. Priest, this is perfecting the precepts.”
SC 78The priest asked, “What is wisdom?”
SC 79The Buddha said, “If a monk’s mind is purified and undefiled as a result of samādhi, is flexible and gentle, dwells in imperturbability … and so forth up to … attains the three insights. He eliminates ignorance and gives rise to wise insight. He produces the great light of Dharma and ceases being in darkness, and the knowledge that the contaminants have ended arises in him. Why is that? These things are a result of diligence, focused attention that’s not lost, and attainment of a pleasant and solitary dwelling. Priest, this is perfecting wisdom.”
SC 80The priest Śroṇatāṇḍya then said to the Buddha, “Now, I take refuge in the Buddha, Dharma, and Noble Saṅgha. Please permit me to become a layman in the correct teaching! From now until the end of my life, I won’t kill, steal, commit adultery, lie, or drink alcohol.”
SC 81When the priest Śroṇatāṇḍya heard what the Buddha taught, he rejoiced and approved.
Tôi nghe như vầy:
Một thời Phật ở tại Ương-già, cùng với chúng đại Tỳ-kheo một ngàn hai trăm năm mươi người, du hành trong nhân gian, nghỉ đêm tại thành Chiêm-bà bên bờ hồ Già-già.
Lúc ấy có Bà-la-môn tên Chủng Đức sống ở Chiêm-bà. Thành ấy nhân dân đông đúc, sầm uất, sung túc. Vua Ba-tư-nặc phong thành này cho Bà-la-môn ấy làm phạm phần.
Người Bà-la-môn này, bảy đời cha mẹ trở lại đều chơn chánh không bị người khác khi dễ, đọc tụng thông suốt ba bộ sách của dị học, có thể phân tích các thứ kinh thư; chỗ sâu xa của thế điển không thứ nào không nghiền ngẫm; lại giỏi xem tướng đại nhơn, xem thời tiết tốt xấu, nghi lễ tế tự. Ông có năm trăm đệ tử, dạy dỗ không bỏ phế.
Bấy giờ, trong thành Chiêm-bà các Bà-la-môn, trưởng giả, cư sĩ, nghe tin Sa-môn Cù-đàm, con nhà họ Thích, xuất gia và thành đạo, từ Ương-già, du hành trong nhân gian, đến thành Chiêm-bà, ở bên bờ hồ Già-già. Ngài có tiếng tăm lớn, đồn khắp thiên hạ, là Như Lai, Chí chơn, Đẳng Chánh Giác, đầy đủ mười hiệu, ở giữa Chư Thiên, người đời, Ma hoặc Ma thiên, Sa-môn, Bà-la-môn, tự thân chứng ngộ, rồi thuyết pháp cho người, lời nói khoảng đầu, khoảng giữa và khoảng cuối thảy đều chơn chánh, đầy đủ nghĩa và vị, phạm hạnh thanh tịnh. Bậc chơn nhơn như vậy nên đến viếng thăm. Nay ta cũng nên đến thăm Ngài.’ Nói như vậy xong, bèn rủ nhau ra khỏi thành Chiêm-bà, từng đoàn lũ lượt nối nhau, muốn đến chỗ Phật.
Lúc ấy, Bà-la-môn Chủng Đức đang ngồi trên đài cao, từ xa trông thấy đoàn người lũ lượt nối nhau, bèn quay hỏi người hầu:
“Những người ấy vì nhân duyên gì mà lũ lượt nối nhau, muốn đi đâu vậy?”
Người hầu thưa:
“Tôi nghe nói Sa-môn Cù-đàm, con nhà họ Thích, xuất gia và thành đạo, từ Ương-già, du hành trong nhân gian, đến thành Chiêm-bà, ở bên bờ hồ Già-già. Ngài có tiếng tăm lớn, đồn khắp thiên hạ, là Như Lai, Chí chơn, Đẳng Chánh Giác, đầy đủ mười hiệu, ở giữa Chư Thiên, người đời, Ma hoặc Ma thiên, Sa-môn, Bà-la-môn, tự thân chứng ngộ, rồi thuyết pháp cho người, lời nói khoảng đầu, khoảng giữa và khoảng cuối thảy đều chơn chánh, đầy đủ nghĩa và vị, phạm hạnh thanh tịnh. Các Bà-la-môn, trưởng giả, cư sĩ trong thành Chiêm-bà này tụ họp, nối nhau để đến thăm viếng Sa-môn Cù-đàm vậy.”
Rồi Bà-la-môn Chủng Đức liền ra lệnh cho người hầu rằng:
“Ngươi hãy nhanh chóng mang lời ta đến với các người ấy rằng: ‘Các khanh hãy dừng lại một lát, hãy đợi ta đến, rồi cùng đi đến chỗ Cù-đàm kia’.”
Người hầu tức thì mang lời của Chủng Đức đến nói với các người ấy rằng: “Các người hãy dừng lại một lát, hãy đợi ta đến, rồi cùng đi đến chỗ Cù-đàm kia.”
Lúc ấy, mọi người trả lời rằng:
“Ngươi hãy nhanh chóng trở về thưa với Bà-la-môn rằng, nay thật là phải thời, nên cùng nhau đi.”
Người hầu trở về thưa:
“Những người ấy đã dừng rồi. Họ nói: nay thật là phải thời, nên cùng nhau đi.”
Bà-la-môn liền xuống đài, đến đứng cửa giữa.
Bấy giờ có năm trăm Bà-la-môn khác, có chút duyên sự, trước đó đã tụ tập dưới cửa. Thấy Bà-la-môn Chủng Đức đến, thảy đều đứng dậy nghinh đón, hỏi rằng:
“Đại Bà-la-môn, ngài muốn đi đâu đây?”
Chủng Đức đáp:
“Có Sa-môn Cù-đàm, con nhà họ Thích, xuất gia và thành Đạo, từ Ương-già, du hành trong nhân gian, đến thành Chiêm-bà, ở bên bờ hồ Già-già. Ngài có tiếng tăm lớn, đồn khắp thiên hạ, là Như Lai, Chí Chơn, Đẳng Chánh Giác, đầy đủ mười hiệu, ở giữa Chư Thiên, người đời, Ma hoặc Ma thiên, Sa-môn, Bà-la-môn, tự thân chứng ngộ, rồi thuyết pháp cho người, lời nói khoảng đầu, khoảng giữa và khoảng cuối thảy đều chơn chánh, đầy đủ nghĩa và vị, phạm hạnh thanh tịnh. Bậc chơn nhơn như vậy nên đến viếng thăm. Nay ta muốn đến thăm Ngài.”
Năm trăm người Bà-la-môn liền thưa với Chủng Đức:
“Ngài chớ đi thăm. Vì sao? Kia nên đến đây chứ đây không nên đến kia. Nay Đại Bà-la-môn, bảy đời cha mẹ đều chơn chánh không bị người khác khinh chê. Nếu ngài đã có đủ điều kiện như vậy, thì đàng kia nên đến đây, chớ đây không nên đến kia. Lại nữa, Đại Bà-la-môn tụng đọc thông suốt ba bộ sách dị học, có thể phân tích các loại kinh thư, những chỗ sâu xa của thế điển, không chỗ nào không nghiền ngẫm. Lại giỏi xem tướng đại nhân, xem tướng tốt xấu, nghi lễ tế tự. Ngài đã thành tựu những pháp ấy, thì đàng kia nên đến đây, chứ đây không nên đến kia.
“Lại nữa, Đại Bà-la-môn dung mạo đoan chánh, có dáng vẻ của Phạm thiên. Ngài đã thành tựu pháp ấy thì đàng kia nên đến đây chớ đây không nên đến kia.
“Lại nữa, Đại Bà-la-môn có giới đức tăng thượng, trí tuệ thành tựu. Đã thành tựu pháp ấy, thì kia nên đến đây, chớ đây không nên đến kia.
“Lại nữa, Đại Bà-la-môn có lời nói nhu hòa, biện tài đầy đủ, nghĩa và vị thanh tịnh. Ngài đã thành tựu pháp ấy thì đàng kia nên đến đây chớ đây không nên đến kia.
“Lại nữa, Đại Bà-la-môn là đại tôn sư, có đông đệ tử. Ngài đã thành tựu pháp ấy thì đàng kia nên đến đây chớ đây không nên đến kia.
“Lại nữa, Đại Bà-la-môn thường dạy dỗ năm trăm Bà-la-môn. Đã thành tựu pháp ấy, thì kia nên đến đấy, chớ đây không nên đến kia.
“Lại nữa, Đại Bà-la-môn có học giả bốn phương đến xin thọ giáo; ai hỏi các kỹ thuật, các pháp tế tự, ngài thảy đều trả lời được cả. Ngài đã thành tựu pháp ấy thì đàng kia nên đến đây chớ đây không nên đến kia.
“Lại nữa, Đại Bà-la-môn được vua Ba-tư-nặc và vua Bình-sa cung kính cúng dường. Ngài đã thành tựu pháp ấy thì đàng kia nên đến đây chớ đây không nên đến kia.
“Lại nữa, Đại Bà-la-môn trí tuệ sáng suốt, nói năng thông lợi, không hề khiếp nhược. Ngài đã thành tựu pháp ấy thì đàng kia nên đến đây chớ đây không nên đến kia.”
Chủng Đức nói với các Bà-la-môn:
“Đúng vậy! Đúng vậy! Đúng như điều các ông nói. Tôi có đủ các đức ấy, chớ không phải không có. Nhưng các ông hãy nghe tôi nói. Sa-môn Cù-đàm có công đức mà chúng ta nên đến kia chớ đàng kia không nên đến đây. Sa-môn Cù-đàm từ bảy đời trở lại cha mẹ đều chơn chánh, không bị người khác khinh chê. Vị ấy đã thành tựu pháp này, chúng ta nên đến kia, chớ kia không nên đến đây.
“Lại nữa, Sa-môn Cù-đàm có dung mạo đoan chánh, xuất thân từ giai cấp Sát-lị. Đã thành tựu pháp này, chúng ta nên đến kia chớ kia không nên đến đây.
“Lại nữa, Sa-môn Cù-đàm sanh chỗ tôn quý, nhưng đã xuất gia hành đạo. Thành tựu pháp này, ta nên đến kia chớ kia không nên đến đây.
“Lại nữa, Sa-môn Cù-đàm sắc sáng đầy đủ, chủng tánh chơn chánh, nhưng đã xuất gia tu đạo. Đã thành tựu pháp này, thì ta nên đến kia chớ kia không nên đến đây.
“Lại nữa, Sa-môn Cù-đàm sanh vào gia đình giàu có, có uy lực lớn, nhưng đã xuất gia hành đạo. Đã thành tựu pháp này, ta nên đến kia chớ kia không nên đến đây.
“Lại nữa, Sa-môn Cù-đàm có đủ giới Hiền Thánh, thành tựu trí tuệ. Đã thành tựu pháp này, ta nên đến kia chớ kia không nên đến đây.
“Lại nữa, Sa-môn Cù-đàm khéo léo nơi ngôn ngữ, dịu dàng hòa nhã. Đã thành tựu pháp này, thì ta nên đến kia chớ kia không nên đến đây.
“Lại nữa, Sa-môn Cù-đàm là bậc Đạo sư của đại chúng, có đông đệ tử. Đã thành tựu pháp này, ta nên đến kia chớ kia không nên đến đây.
“Lại nữa, Sa-môn Cù-đàm vĩnh viễn diệt trừ dục ái, không có sơ suất thô tháo, ưu tư và sợi hãi đã trừ, lông tóc không dựng đứng, hoan hỷ, hòa vui; được mọi người khen ngợi, khéo nói quả báo của hành vi, không chê bai đạo khác. Đã thành tựu pháp này, thì ta nên đến kia chớ kia không nên đến đây.
“Lại nữa, Sa-môn Cù-đàm thường được vua Ba-tư-nặc và vua Bình-sa lễ kính cúng dường. Đã thành tựu pháp này, thì ta nên đến kia, chớ kia không nên đến đây.
“Lại nữa, Sa-môn Cù-đàm được Bà-la-môn Phất-già-la-sa-la lễ kính cúng dường; cũng được Bà-la-môn Phạm, Bà-la-môn Đa-lị-già, Bà-la-môn Cứ Xỉ, Thủ-ca Ma-nạp Đô-da Tử thăm gặp cúng dường. Đã thành tựu pháp ấy, thì ta nên đến kia chớ kia không nên đến đây.
“Lại nữa, Sa-môn Cù-đàm được Thanh-văn đệ tử sùng phụng, lễ kính cúng dường; cũng được Chư Thiên và các chúng quỷ thần khác cung kính. Các dòng họ Thích-ca, Câu-lị, Minh-ninh, Bạt-kỳ, Mạt-la, Tô-ma, thảy đều tông phụng. Đã thành tựu pháp này, ta nên đến kia chớ kia không nên đến ta.
“Lại nữa, Sa-môn Cù-đàm truyền trao cho vua Ba-tư-nặc và vua Bình-sa ba quy và năm giới. Đã thành tựu pháp này, ta nên đến kia chớ kia không nên đến đây.
“Lại nữa, Sa-môn Cù-đàm truyền trao ba quy năm giới cho Bà-la-môn Phất-già-la-sa-la vân vân. Đã thành tựu pháp này, ta nên đến kia chớ kia không nên đến đây.
“Lại nữa, đệ tử của Sa-môn Cù-đàm thọ ba quy năm giới; Chư Thiên, dòng họ Thích, Câu-lị, vân vân, thảy đều thọ ba quy năm giới. Đã thành tựu pháp này, ta nên đến kia chớ kia không nên đến đây.
“Lại nữa, Sa-môn Cù-đàm khi du hành được hết thảy mọi người cung kính cúng dường. Đã thành tựu pháp này, ta nên đến kia chớ kia không nên đến đây.
“Lại nữa, những thành quách, tụ lạc mà Sa-môn Cù-đàm đã đến, đều được mọi người cúng dường. Đã thành tựu pháp này, ta nên đến kia chớ kia không nên đến đây.
“Lại nữa, những nơi Sa-môn Cù-đàm đi đến, các loài phi nhân, quỷ thần không dám xúc nhiễu. Đã thành tựu pháp này, ta nên đến kia chớ kia không nên đến đây.
“Lại nữa, những nơi Sa-môn Cù-đàm đi đến, nhân dân ở đó đều thấy ánh sáng, nghe âm nhạc trời. Đã thành tựu pháp này thì ta nên đến kia chớ kia không nên đến ta.
“Lại nữa, Sa-môn Cù-đàm khi muốn rời khỏi chỗ đã đến, mọi người đều luyến mộ, khóc lóc mà tiễn đưa. Đã thành tựu pháp này thì ta nên đến kia chớ kia không nên đến đây.
“Sa-môn Cù-đàm khi mới xuất gia, cha mẹ khóc lóc, thương nhớ tiếc nuối. Đã thành tựu pháp này thì ta nên đến kia chớ kia không nên đến ta.
“Sa-môn Cù-đàm xuất gia khi còn trai trẻ, dẹp bỏ các thứ trang sức, voi, ngựa, xe báu, ngũ dục, anh lạc. Đã thành tựu pháp này, thì ta nên đến kia chớ kia không nên đến đây.
“Lại nữa, Sa-môn Cù-đàm khước từ ngôi vị Chuyển luân vương, xuất gia hành đạo. Nếu Ngài tại gia, sẽ trị vì bốn thiên hạ, thống lãnh dân vật, thì chúng ta đều là thần thuộc. Đã thành tựu pháp ấy, thì ta nên đến kia chớ kia không nên đến đây.
“Lại nữa, Sa-môn Cù-đàm hiểu rõ Phạm pháp, có thể nói cho người khác, và cũng nói chuyện trao đổi với Phạm thiên. Đã thành tựu pháp ấy, thì ta nên đến kia chớ kia không nên đến đây.
“Lại nữa, Sa-môn Cù-đàm đầy đủ cả ba hai tướng. Đã thành tựu pháp này, thì ta nên đến kia chớ kia không nên đến đây.
“Lại nữa, Sa-môn Cù-đàm có trí tuệ thông suốt, không có khiếp nhược. Đã thành tựu pháp này, thì ta nên đến kia chớ kia không nên đến đây.
“Cù-đàm kia nay đến thành Chiêm-bà này, ở bên bờ hồ Già-già, đối với ta là tôn quý, vả lại là khách. Ta nên thân hành đến thăm viếng.”
Năm trăm Bà-la-môn khi ấy thưa với Chủng Đức rằng:
“Kỳ diệu thay, hy hữu thay, công đức của vị kia đến như vậy chăng? Trong các đức, vị kia chỉ cần có một đức là đã không nên đến đây rồi, huống hồ nay gồm đủ cả. Vậy ta hãy kéo hết đi thăm hỏi.”
Chủng Đức đáp:
“Các người muốn đi thì nên biết thời.”
Rồi Chủng Đức cho thắng cỗ xe báu, cùng với năm trăm Bà-la-môn và các trưởng giả trong thành Chiêm-bà trước sau vây quanh, đi đến hồ Già-già. Cách hồ không xa, ông thầm nghĩ rằng: ‘Giả sử ta hỏi Cù-đàm, mà hoặc giả không vừa ý Ngài, thì vị Sa-môn ấy sẽ chê trách ta, bảo rằng: ‘Nên hỏi như vầy. Không nên hỏi như vầy.’ Mọi người mà nghe được, cho rằng ta vô trí, sẽ tổn hại cho thanh danh của ta. Giả sử Sa-môn Cù-đàm hỏi ta về nghĩa, mà ta đáp hoặc không vừa ý Ngài, vị Sa-môn ấy sẽ khiển trách ta, bảo rằng: ‘Nên trả lời như vầy. Không nên trả lời như vầy.’ Mọi người mà nghe được, cho rằng ta vô trí, sẽ tổn hại cho thanh danh của ta. Giả sử ở đây ta im lặng rồi trở về, mọi người sẽ nói: ‘Ông này chẳng biết gì. Cuối cùng, không thể đến chỗ Sa-môn Cù Đàm.’ Thế thì cũng tổn hại thanh danh của ta. Nếu Sa-môn Cù-đàm hỏi ta về pháp của Bà-la-môn, ta sẽ trả lời Cù-đàm đầy đủ, hiệp ý Ngài.”
Khi ấy, Chủng Đức ở bên bờ hồ suy nghĩ như vậy rồi, liền xuống xe đi bộ dẫn đầu đến chỗ Thế Tôn, chào hỏi xong, ngồi sang một bên. Bấy giờ các Bà-la-môn, Trưởng giả, Cư sĩ thành Chiêm-bà, có người lễ Phật xong rồi ngồi; có người chào hỏi xong rồi ngồi; hoặc có người xưng tên rồi ngồi; hoặc có người chắp tay hướng về Phật rồi ngồi; hoặc có người im lặng mà ngồi xuống. Khi mọi người đã ngồi yên, Phật biết ý nghĩ trong lòng của Chủng Đức, bèn bảo rằng:
“Điều mà ông suy nghĩ, hãy theo ước nguyện của ông.”
Rồi Phật hỏi Chủng Đức:
“Bà-la-môn của ông, có mấy pháp để thành tựu?”
Bấy giờ Chủng Đức nghĩ thầm rằng:
“Kỳ diệu thay, hy hữu thay, Sa-môn Cù-đàm có đại thần lực mới thấy được tâm của người, đúng theo ý nghĩ của ta mà hỏi.”
Bà-la-môn Chủng Đức bèn ngồi thẳng người lên, nhìn bốn phía đại chúng, tươi cười hớn hở, rồi mới trả lời Phật rằng:
“Bà-la-môn của tôi có năm pháp cần thành tựu, để cho lời nói mới chân thành, không có hư dối. Những gì là năm? 1. Bà-la-môn có bảy đời cha mẹ chơn chánh không bị người dèm pha. 2. Đọc tụng thông lợi ba bộ dị học, có thể phân tích các thứ kinh thư, những chỗ u vi của thế điển, không chỗ nào không tổng luyện, lại có thể giỏi phép xem tướng đại nhân, xét rõ cát hung, nghi lễ tế tự. 3. Dung mạo đoan chánh. 4. Trì giới đầy đủ. 5. Trí tuệ thông suốt. Đó là năm. Thưa Cù-đàm, Bà-la-môn thành tựu năm pháp này, thì lời nói mới chí thành, không có hư dối.”
Phật nói:
“Lành thay, Chủng Đức, vả có Bà-la-môn nào, trong năm pháp, bỏ một, thành tựu bốn, mà lời nói chí thành, không có hư dối chăng?”
Chủng Đức bạch Phật:
“Có. Vì sao? Thưa Cù-đàm, cần gì dòng họ? Nếu Bà-la-môn đọc tụng thông suốt ba bộ dị học, phân tích các loại kinh thư, những chỗ u vi của thế điển, không đâu là không tổng luyện, lại giỏi phép xem tướng đại nhân, xét rõ cát hung, tế tự nghi lễ, dung mạo đoan chánh, trì giới đầy đủ, trí tuệ thông suốt; có bốn pháp thì lời nói thành thật, không có hư dối.”
Phật nói với Chủng Đức:
“Lành thay, lành thay, nếu trong bốn pháp này, bỏ một, thành tựu ba, mà lời nói vẫn thành thật, không có hư dối, vẫn được gọi là Bà-la-môn chăng?”
Chủng Đức trả lời:
“Có. Cần gì dòng dõi. Cần gì đọc tụng. Nếu Bà-la-môn có dung mạo đoan chánh, trì giới đầy đủ, trí tuệ thông suốt; thành tựu ba pháp này, thì lời nói chân thành, không có hư dối; được gọi là Bà-la-môn.”
Phật nói:
“Lành thay, lành thay. Thế nào, nếu trong ba pháp, bỏ một pháp, thành hai, mà kia lời nói vẫn chí thành, không có hư dối; được gọi là Bà-la-môn chăng?”
Đáp: “Có. Cần gì dòng dõi, đọc tụng và đoan chánh?””
Lúc bấy giờ năm trăm Bà-la-môn ai nấy đều lớn tiếng, nói với Bà-la-môn Chủng Đức:
“Sao lại chê bỏ dòng dõi, đọc tụng và đoan chánh, cho là không cần?”
Thế Tôn nói với năm trăm Bà-la-môn rằng:
“Nếu Bà-la-môn Chủng Đức có dung mạo xấu xí, không có dòng dõi, đọc tụng không thông suốt, không có biện tài, trí tuệ, khéo trả lời, không đủ khả năng nói chuyện với Ta, thì các ngươi nên nói. Nếu Bà-la-môn Chủng Đức có dung mạo đoan chánh, chủng tánh đầy đủ, đọc tụng thông suốt, trí tuệ biện tài, giỏi vấn đáp, đủ khả năng cùng Ta luận nghị, thì các ngươi hãy im lặng, nghe người này nói.”
Bấy giờ, Bà-la-môn Chủng Đức bạch Phật:
“Xin Cù-đàm tạm ngừng giây lát. Tôi sẽ tự mình đúng theo pháp đi khuyên bảo những người này.”
Chủng Đức ngay sau đó nói với năm trăm Bà-la-môn:
“Ương-già Ma-nạp nay đang ở trong chúng này. Đó là cháu của ta. Các ngươi có thấy không? Nay các đại chúng cùng tụ hội hết ở đây. Duy trừ Cù-đàm có dung mạo đoan chánh, kỳ dư có ai bằng Ma-nạp này? Nhưng nếu Ma-nạp này sát sanh, trộm cướp, dâm dật, vô lễ, dối trá, lừa gạt, lấy lửa đốt người, chận đường làm chuyện ác. Này các Bà-la-môn, nếu Ương-già Ma-nạp này làm đủ chuyện ác, thế thì đọc tụng, xinh đẹp, để làm gì?”
Năm trăm Bà-la-môn lúc ấy im lặng không trả lời. Chủng Đức bạch Phật:
“Nếu trì giới đầy đủ, trí tuệ thông suốt, thế thì lời nói chí thành, không hư dối, được gọi là Bà-la-môn.”
Phật nói:
“Lành thay, lành thay! Thế nào, Chủng Đức, trong hai pháp ấy, nếu bỏ một mà thành tựu một, thì lời nói vẫn thành thật, không có hư dối, được gọi là Bà-la-môn chăng?”
Đáp:
“Không thể được. Vì sao? Giới tức trí tuệ. Trí tuệ tức giới. Có giới, có trí, sau đó lời nói mới thành thật, không có hư dối, tôi gọi là Bà-la-môn.”
Phật nói:
“Lành thay, lành thay! Đúng như ông nói. Có giới thì có tuệ. Có tuệ thì có giới. Giới làm thanh tịnh tuệ. Tuệ làm thanh tịnh giới. Chủng Đức, như người rửa tay, tay trái và tay phải cần cho nhau. Tay trái rửa sạch tay phải, tay phải rửa sạch tay trái. Cũng vậy, có tuệ thì có giới. Có giới thì có tuệ. Giới làm sạch tuệ. Tuệ làm sạch giới. Bà-la-môn, ai đầy đủ giới và tuệ, ta gọi người đó là Tỳ-kheo.”
Bấy giờ, Chủng Đức bạch Phật:
“Thế nào là giới?”
Phật nói:
“Hãy lắng nghe, hãy lắng nghe! Hãy suy ngẫm kỹ! Ta sẽ phân biệt từng điều một cho ông nghe.”
Đáp rằng: “Kính vâng. Vui lòng muốn nghe”.
Bấy giờ, Phật nói với Chủng Đức:
“Nếu Như Lai xuất hiện ở đời, là vị Ứng cúng, Chánh biến tri, Minh hành túc, Thiện thệ, Thế gian giải, Vô thượng sĩ, Điều ngự trượng phu, Thiên nhân sư, Phật, Thế Tôn, ở giữa Chư Thiên, người đời, Sa-môn, Bà-la-môn, mà tự thân chứng ngộ, rồi giảng thuyết cho người; lời nói khoảng đầu, khoảng giữa và khoảng cuối thảy đều chân chánh, đầy đủ nghĩa và vị, phạm hạnh thanh tịnh. Nếu có trưởng giả, hay con trai trưởng giả, sau khi nghe pháp này, tín tâm thanh tịnh. Do tín tâm thanh tịnh, người ấy suy xét như vầy: ‘Tại gia thật khó, ví như gông cùm; muốn tu hành phạm hạnh mà không thể tự tại. Ta nay hãy cạo bỏ râu tóc, bận ba pháp y, xuất gia tu đạo.’ Người ấy, sau đó, từ bỏ gia đình, bỏ sản nghiệp, từ giã thân tộc, bận ba pháp y, dẹp các trang sức, đọc tụng tỳ-ny, đầy đủ giới luật, từ bỏ không sát sanh,... cho đến, tâm pháp tứ thiền, đạt được an lạc ngay trong hiện tại. Vì sao? Ấy là do tinh tấn, chánh niệm, chánh tri, ưa sống một mình chỗ thanh vắng mà được vậy. Bà-la-môn, đó gọi là giới.”
Lại hỏi:
“Sao gọi là tuệ?” Phật nói:
“Nếu Tỳ-kheo, bằng với tâm định tĩnh, thanh tịnh không cấu uế, mềm mại, dễ điều phục, an trú trạng thái bất động,… cho đến, chứng đắc ba minh, trừ khử vô minh, phát sanh trí tuệ, diệt trừ tối tăm, phát sanh ánh sáng đại pháp, xuất trí lậu tận. Vì sao? Ấy là do tinh cần, chánh niệm, chánh tri, ưa sống một mình nơi thanh vắng mà được vậy. Bà-la-môn, đó là đầy đủ trí tuệ.”
Khi ấy, Chủng Đức liền bạch Phật rằng:
“Nay con quy y Phật, Pháp, Thánh Chúng. Cúi mong Thế Tôn nhận con làm ưu-bà-tắc trong Chánh pháp. Từ nay về sau, suốt đời không giết, không trộm, không tà dâm, không dối, không uống rượu.”
Bấy giờ, Chủng Đức Bà-la-môn sau khi nghe những điều Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.
SC 1Thus I have heard: One time, the Buddha was staying in Aṅga accompanied by a large assembly of 1,250 monks. They traveled among the people, stopping to stay at the city of Campā by the side of Gargā Pond.
SC 2At the time, there was a priest named Śroṇatāṇḍya who was residing in Campā, a city that was populous, thriving, and bountiful. King Prasenajit had bestowed the city to the priest Śroṇatāṇḍya as his priestly due.
SC 3This priest was descended from seven generations of fathers and mothers who were genuine [priests], so he wasn’t slighted by others. He had mastered the three Vedas and could discern all the various kinds of scriptures. He was learned about all the subtleties of the world’s scriptures. He was also skilled in the techniques of [recognizing] the great man’s signs, divining fortune and misfortune, and [performing] sacrifices and rituals. He had 500 disciples whom he taught without exception.
SC 4The priests, prominent people, and householders in Campā heard: “The ascetic Gautama of the Śākya clan, who had left the home life [113a] and achieved awakening, is touring among the people of Aṅga and has arrived by the side of Gargā Pond. He possesses a great reputation that’s heard throughout the world. He’s a Tathāgata, an Arhat, and a Completely Awakened One who has perfected the ten epithets. Among gods, worldly men, and demons, whether they’re in the assemblies of Māra, gods, ascetics, or priests, he is self-realized and teaches the Dharma for others. His words are all genuine in the beginning, middle, and end, complete in content and expression, and purify the religious life.”
SC 5They said, “It would be fitting to go and have an audience with such a realized man as this. We should go and pay him a visit now!” After they said that, they followed each other as they left the city. Crowds of people headed out to visit the Buddha.
SC 6The priest Śroṇatāṇḍya was up in his tower and saw those crowds of people from a distance. He asked his attendant, “What’s the reason those crowds of people are following each other? Where are they going?”
SC 7His attendant said, “I heard this: ‘The ascetic Gautama of the Śākya clan, who had left the home life and achieved awakening, is touring among the people of Aṅga and has arrived by the side of Gargā Pond. He possesses a great reputation that’s heard throughout the world. He’s a Tathāgata, an Arhat, and a Completely Awakened One who has perfected the ten epithets. Among gods, worldly men, and demons, whether they’re in the assemblies of Māra, gods, ascetics, or priests, he is self-realized and teaches the Dharma for others. His words are all genuine in the beginning, middle, and end, complete in content and expression, and purify the religious life.’ Those crowds of priests, prominent people, and householders of Campā are going to pay a visit to the ascetic Gautama.”
SC 8The priest Śroṇatāṇḍya then instructed his attendant: “Quickly, memorize my words and go tell those people this: ‘All of you, wait a little while for me. We’ll go pay a visit to that Gautama together.’”
SC 9His attendant then went and told those people Śroṇatāṇḍya’s message: ‘Everyone, wait a little while for me. We’ll go pay a visit to that Gautama together.”
SC 10The people replied to his attendant, “Quickly return to the priest and tell him, ‘Now is a good time. We should go together.’”
SC 11The attendant returned and said, “The people are waiting. They say, ‘Now is a good time. We should go together.’” The priest Śroṇatāṇḍya then came down from his tower and stood at its entrance.
SC 12At the time, another five hundred priests had already first assembled under the entrance for some minor reason. When they saw the priest Śroṇatāṇḍya coming, they all looked up and asked, “Great priest, where are you going?”
SC 13Śroṇatāṇḍya replied, “The ascetic Gautama of the Śākya clan, who had left the home life and achieved awakening, is touring among the people of Aṅga and has arrived by the side of Gargā Pond. He possesses a great reputation that’s heard throughout the world. He’s a Tathāgata, an Arhat, and a Completely Awakened One who has perfected the ten epithets. Among gods, worldly men, and demons, whether they’re in the assemblies of Māra, gods, ascetics, or priests, he is self-realized and teaches the Dharma for others. His words are all genuine in the beginning, middle, and end, complete in content and expression, and purify the religious life. It would be fitting to go and have an audience with such a true man as this. I’m going to visit him and have a look at his [bodily] signs.”
SC 14Those five hundred priests said to Śroṇatāṇḍya, “Don’t go and look at his signs. Why not? He should visit you here; you shouldn’t go there to visit him. Now, great priest, you’re descended from fathers and mothers who were genuine [priests] for seven generations, and other people don’t slight you. You have achieved such status, so he should come here to visit you; you shouldn’t go there to visit him.
SC 15“Moreover, great priest, you’ve mastered the three Vedas and can discern all the various scriptures. You’re learned about all the subtleties of the world’s scriptures. You’re also skilled at [recognizing] the great man’s signs, divining fortune and misfortune, and [performing] sacrifices and rituals. You have achieved such status, so he should come here to visit you; you shouldn’t go there to visit him.
SC 16“Moreover, great priest, you’re handsome looking, having attained the appearance of Brahma. You have achieved such status, so he should come here to visit you; you shouldn’t go there to visit him.
SC 17“Moreover, great priest, your precepts and virtue are surpassing, and your wisdom is accomplished. You have achieved such status, so he should come here to visit you; you shouldn’t go there to visit him.
SC 18“Moreover, great priest, your words are gentle, complete in eloquence, and their content and expression are pure. You have achieved such status, so he should come here to visit you; you shouldn’t go there to visit him.
SC 19“Moreover, great priest, you have numerous disciples. You have achieved such status, so he should come here to visit you; you shouldn’t go there to visit him.
SC 20“Moreover, great priest, you’re the instructor of five hundred priests. You have achieved such status, so he should come here to visit you; you shouldn’t go there to visit him.
SC 21“Moreover, great priest, students come from the four directions to request [your instruction], asking about the technique of sacrifices and rituals. You have achieved such status, so he should come here to visit you; you shouldn’t go there to visit him.
SC 22“Moreover, great priest, King Prasenajit and King Bimbisāra respect and support you. You have achieved such status, so he should come here to visit you; you shouldn’t go there to visit him.
SC 23“Moreover, great priest, you’re rich, possess treasures, and your treasury is overflowing. You have achieved such status, so he should come here to visit you; you shouldn’t go there to visit him.
SC 24“Moreover, great priest, your wisdom is insightful, your words are learned, and you lack timidity. You have achieved such status, so he should come here to visit you; you shouldn’t go there to visit him.
SC 25Śroṇatāṇḍya then told the priests, “So it is, so it is! As you’ve said, I’m endowed with these virtues; there are none I don’t possess. Now, listen to what I say: These virtues are possessed by the ascetic Gautama, so we should go there to him; he shouldn’t come here to us. The ascetic Gautama is descended from fathers and mothers who were genuine for seven generations, so he’s not slighted by other people. He has achieved such status, so we should go there to him; he shouldn’t come here to us.
SC 26“Moreover, the ascetic Gautama is handsome looking, having come from the warrior caste. He has achieved such status, so we should go there to him; he shouldn’t come here to us.
SC 27“Moreover, the ascetic Gautama was born to a noble station and left home for the path. He has achieved such status, so we should go there to him; he shouldn’t come here to us.
SC 28“Moreover, the ascetic Gautama is endowed with a glowing form, his caste and clan are genuine, and he left home to cultivate the path. He has achieved such status, so we should go there to him; he shouldn’t come here to us.
SC 29“Moreover, the ascetic Gautama was born to a wealthy family that possessed great majesty, and he left home for the path. He has achieved such status, so we should go there to him; he shouldn’t come here to us.
SC 30“Moreover, the ascetic Gautama has perfected noble precepts and accomplished wisdom. He has achieved such status, so we should go there to him; he shouldn’t come here to us.
SC 31“Moreover, the ascetic Gautama’s words are gentle and refined. He has achieved such status, so we should go there to him; he shouldn’t come here to us.
SC 32“Moreover, the ascetic Gautama is a teacher to a multitude, and his disciples are numerous. He has achieved such status, so we should go there to him; he shouldn’t come here to us.
SC 33“Moreover, the ascetic Gautama has forever destroyed craving without any fickleness. He has eliminated sorrow and fear, and his hair doesn’t stand on end. He rejoices and is glad to see people commend what’s good, skillfully teaches the results of conduct, and doesn’t criticize other religions. He has achieved such status, so we should go there to him; he shouldn’t come here to us.
SC 34“Moreover, the ascetic Gautama is always respected and supported by King Prasenajit and King Bimbisāra. He has achieved such status, so we should go there to him; he shouldn’t come here to us.
SC 35“Moreover, the ascetic Gautama is respected and supported by the priest Puṣkarasārin, and the priests Brahmāyu, [Tārukkha], [Kūṭadanta], Śukamāṇava Taudeyaputra support him, too. Having achieved such a state, I should go to him; he shouldn’t come here.
SC 36“Moreover, the ascetic Gautama is honored, respected, and supported by his disciples, and gods, demons, and other spirits respect him, too. The Śākya clan and the Kuru … Vṛji, Malla, and Soma honor him, too. Having achieved such a state, I should go to him; he shouldn’t come here.
SC 37“Moreover, the ascetic Gautama conferred the three refuges and five precepts to King Prasenajit and King Bimbisāra. He has achieved such status, so we should go there to him; he shouldn’t come here to us.
SC 38“Moreover, the ascetic Gautama conferred the three refuges and five precepts to the priest Puṣkarasārin. He has achieved such status, so we should go there to him; he shouldn’t come here to us.
SC 39“Moreover, the ascetic Gautama’s disciples received the three refuges and five precepts, and so have gods, the Śākya clan, the Kuru, and others. He has achieved such status, so we should go there to him; he shouldn’t come here to us.
SC 40“Moreover, wherever the ascetic Gautama travels, all the people respect and support him. He has achieved such status, so we should go there to him; he shouldn’t come here to us.
SC 41“Moreover, when the ascetic Gautama arrives as a city or village, he’s supported by its people. He has achieved such status, so we should go there to him; he shouldn’t come here to us.
SC 42“Moreover, wherever the ascetic Gautama goes, non-humans, demons, and spirits don’t dare harass him. He has achieved such status, so we should go there to him; he shouldn’t come here to us.
SC 43“Moreover, wherever the ascetic Gautama goes, the people living there see his light and hear heavenly music. He has achieved such status, so we should go there to him; he shouldn’t come here to us.
SC 44“Moreover, wherever the ascetic Gautama goes, many people feel such longing that they cry as they watch him leave. He has achieved such status, so we should go there to him; he shouldn’t come here to us.
SC 45“Moreover, when he first left home, the ascetic Gautama’s parent cried and felt disappointed and heart-broken. He has achieved such status, so we should go there to him; he shouldn’t come here to us.
SC 46“Moreover, when he was still young after leaving home, the ascetic Gautama discarded decorations, elephants and horses, valuable chariots, the five desires, and jewelry. He has achieved such status, so we should go there to him; he shouldn’t come here to us.
SC 47“Moreover, the ascetic Gautama renounced his place as a wheel-turning king and left home for the path. If he’d stayed home, he would have ruled the peoples of the whole world, and we would’ve been his subordinates. He has achieved such status, so we should go there to him; he shouldn’t come here to us.
SC 48“Moreover, the ascetic Gautama clearly understands the teachings of Brahmā, he’s able to explain them for others, and he pays visits to Brahmā to speak with him. He has achieved such status, so we should go there to him; he shouldn’t come here to us.
SC 49“Moreover, the ascetic Gautama is endowed all 32 signs [of a great man]. He has achieved such status, so we should go there to him; he shouldn’t come here to us.
SC 50“Moreover, the ascetic Gautama is wise and insightful, and he lacks timidity. He has achieved such status, so we should go there to him; he shouldn’t come here to us.
SC 51“Moreover, the ascetic Gautama is here at Campā by the side of Gargā Pond right now. It would be an honor for me to be his guest and fitting to go and have an audience with him.”
SC 52Those five hundred priests then said to Śroṇatāṇḍya, “Amazing! Extraordinary! Does he have such virtues? If he were to achieve just one of these virtues, he still shouldn’t come [here to us]. How would it be if he were endowed with all of them? It would be fitting for us to come along and greet him.”
SC 53Śroṇatāṇḍya replied, “If you want to go, it’s a good time to do so.”
SC 54Śroṇatāṇḍya then prepared horses and a treasure chariot, and he went to Gargā Pond surrounded by those five hundred priests and the priests, prominent people, and householders of Campā. He stopped not far from the pond and thought to himself, “Suppose I question Gautama, and maybe it’s not to his liking? That ascetic Gautama will rebuke me, ‘You should ask this question and not ask that question.’ The crowd will overhear him and take me for a fool, and my reputation will be damaged. Suppose the ascetic Gautama asks me about a topic, and maybe my answer won’t be to his liking. That ascetic Gautama will rebuke me, ‘You should answer this way and not that way.’ The crowd will overhear him and take me for a fool, and my reputation will be damaged. Suppose I remain silent. When I return, the people will say, ‘This priest knows nothing!’ No matter what I do, visiting the ascetic Gautama will damage my reputation. If the ascetic Gautama asked me about the priest’s teaching, that would be the only topic I could answer well enough to suit him!”
SC 55Once he finished thinking that beside of Gargā Pond, Śroṇatāṇḍya dismounted from his chariot and walked on foot to the Bhagavān. After they had exchanged greetings, he sat down to one side.
SC 56Some of the priests, prominent people, and householders of Campā bowed to the Buddha and sat. Some of them exchanged greetings with him and sat. Some of them praised him and sat. Some of their saluted him with their hands together and sat. Some remained quiet and sat. When the crowd was seated and settled, the Buddha knew that thought the priest Śroṇatāṇḍya had in his mind, so he told him, “Regarding that thought you had, you should do as you wish.”
SC 57The Buddha then asked Śroṇatāṇḍya, “How many qualities of a priest have you accomplished? Be honest; don’t speak falsely.”
SC 58Śroṇatāṇḍya then silently thought to himself, “Amazing! Extraordinary! The ascetic Gautama has that great miraculous power to read people’s minds. He asked about the topic that I had thought about!”
SC 59The priest Śroṇatāṇḍya sat up straight, surveyed the audience around them, and smiled happily. He then answered the Buddha, “I’ve accomplished five qualities of a priest, speaking honestly and not falsely. What are the five? One is that I’m a priest who is descended from seven generations of fathers and mothers who are genuine so that other people don’t slight me. Two is that I’ve mastered and chant the three Vedas, discern all the various scriptures, and I’m learned about all the subtleties of the world’s scriptures. I’m also skilled at [recognizing] the great man’s signs, divining fortune and misfortune, and [performing] sacrifices and rituals. Three is that I’m handsome looking. Four is that I’ve perfected the observance of precepts. Five is that I’m wise and insightful. These are the five. Gautama, I’ve accomplished these five qualities of a priest, speaking truthfully and not falsely.”
SC 60The Buddha said, “Good, Śroṇatāṇḍya! Could it be that a priest who discards one of those five qualities and achieves four of them could also be called a priest, speaking truthfully and not falsely?”
SC 61Śroṇatāṇḍya said to the Buddha, “He could. Why is that? Gautama, what purpose does his birth serve? Suppose a priest masters and chants the three Vedas, discerns all the various scriptures, and he’s learned about all the subtleties of the world’s scriptures. He’s also skilled at [recognizing] the great man’s signs, divining fortune and misfortune, and [performing] sacrifices and rituals. He’s handsome looking. He perfects the observance of precepts, and he’s wise and insightful. Having these four qualities, he could be called a priest, speaking truthfully and not falsely.”
SC 62The Buddha told Śroṇatāṇḍya, “Good, good! If he were to lack one of those four qualities and achieve three of them, would he still be called a priest, speak truthfully and not falsely?”
SC 63Śroṇatāṇḍya replied, “He would. Why is that? What purpose does his birth and the Vedas serve? Suppose a priest is handsome looking, has perfected the observance of precepts, and is wise and insightful. Achieving these three qualities, he could be called a priest, speaking truthfully and not falsely.”
SC 64The Buddha said, “Good, good! How is it? If he were to lack one of those three qualities and achieve two of them, would he be called a priest, speaking truthfully and not falsely?”
SC 65Śroṇatāṇḍya answered, “He would. Why is that? What purpose does his birth, the Vedas, and being handsome serve?”
SC 66Each of the five hundred priests then spoke up and said to the priest Śroṇatāṇḍya: “Why do you disrespect [a priest’s] birth, the Vedas, and being handsome, saying that they serve no purpose?”
SC 67The Bhagavān then told the five hundred priests, “If this priest Śroṇatāṇḍya were ugly, lacked [a respectable] caste and clan, hadn’t mastered the Vedas, and lacked eloquence, wisdom, and good answers, he wouldn’t be the one speaking with me, and you could speak. Since the priest Śroṇatāṇḍya is handsome, perfect in caste and clan, has mastered the Vedas, and is wise, eloquent, and good at answering questions, he’s qualified to have a discussion with me. The rest of you, remain silent and let this man speak.”
SC 68The priest Śroṇatāṇḍya then said to the Buddha, “Please, Gautama, stop for a moment. I’ll instruct them about the teaching.”
SC 69Śroṇatāṇḍya then told the five hundred priests, “Now, don’t you see my nephew who’s a student here in this assembly? Of everyone assembled here, only Gautama’s appearance is as handsome as his, but that student does evil things like killing, stealing, engaging in sex, lacking courtesy, lying, deceiving, burning people with fire, and cutting them off from the path. Priests, this student from Aṅga has done all these evil things, so what purpose do the Vedas and being handsome serve in the end?”
SC 70The five hundred priests remained silent and didn’t respond. Śroṇatāṇḍya then said to the Buddha, “If he perfects the observance of precepts, and he’s wise and insightful, then he could be called a priest, speaking truthfully and not falsely.”
SC 71The Buddha said, “Good, good! How is it, Śroṇatāṇḍya? If he lacks one of these two qualities and accomplishes one of them, would he be called a priest, speaking truthfully and not falsely?”
SC 72He answered, “He cannot. Why is that? The precepts are wise, and wisdom is the precepts. Having both precepts and wisdom, then as a result I would say that he is called a priest, speaking truthfully and not falsely.”
SC 73The Buddha said, “Good, good! As you’ve said, having precepts is having wisdom, and having wisdom is having precepts. Precepts purify wisdom, and wisdom purifies precepts. Śroṇatāṇḍya, it’s like when someone washes their hands: The right and left hand need each other. The left hand washes the right hand, and the right hand washes the left hand. These things are likewise. Having wisdom is having precepts, and having precepts is having wisdom. Precepts purify wisdom, and wisdom purifies precepts. Priest, I say someone endowed with precepts and wisdom is called a monk.”
SC 74Śroṇatāṇḍya then said to the Buddha, “What are the precepts?”
The Buddha replied, “Listen closely, listen closely; consider it well! I will discern them one by one for you.”
He responded, “Very well! I’d be glad to hear it.”
SC 75The Bhagavān then told Śroṇatāṇḍya, “Suppose a Tathāgata appears in the world who’s Worthy of Alms, Completely Awakened, Accomplished in Insight and Conduct, Well Gone, Understands the World, an Unsurpassed Man, Trainer of Men, Teacher to Gods and Humans, a Buddha, and a Bhagavān. Among gods, worldly people, ascetics, and priests, he’s self-realized, and he teaches for others. His words are all genuine in the beginning, middle, and end, complete in content and expression, and purify the religious life.
SC 76“Suppose prominent people or the children of prominent people hear this teaching. Once their belief is pure, they thus observe: ‘The household life is difficult; it’s like being in handcuffs and bond. I’d like to cultivate the religious life, but I can’t free myself from it. I’d rather cut off my hair, put on the three Dharma robes, leave home, and cultivate the path.’
SC 77“At some different time, they renounce their home, property, and occupation, part with family and friends, put on the three Dharma robes, and leave ornaments behind. They recite the Vinaya and perfect the discipline of precepts. They renounce killing and don’t kill beings … and so forth up to … He attains the rapture of the four dhyānas in the present life. Why is that? These things are a result of diligence, focused attention that’s not lost, and attainment of a pleasant and solitary dwelling. Priest, this is perfecting the precepts.”
SC 78The priest asked, “What is wisdom?”
SC 79The Buddha said, “If a monk’s mind is purified and undefiled as a result of samādhi, is flexible and gentle, dwells in imperturbability … and so forth up to … attains the three insights. He eliminates ignorance and gives rise to wise insight. He produces the great light of Dharma and ceases being in darkness, and the knowledge that the contaminants have ended arises in him. Why is that? These things are a result of diligence, focused attention that’s not lost, and attainment of a pleasant and solitary dwelling. Priest, this is perfecting wisdom.”
SC 80The priest Śroṇatāṇḍya then said to the Buddha, “Now, I take refuge in the Buddha, Dharma, and Noble Saṅgha. Please permit me to become a layman in the correct teaching! From now until the end of my life, I won’t kill, steal, commit adultery, lie, or drink alcohol.”
SC 81When the priest Śroṇatāṇḍya heard what the Buddha taught, he rejoiced and approved.