Tôi nghe như vầy:
Một thời, Phật ở tại nước Ca-duy-la-vệ, trong khu rừng của Ưu-bà-tắc Miên-kỳ, cùng với chúng đại Tỳ-kheo một ngàn hai trăm năm mươi người.
Bấy giờ, có sa-di Châu-na, ở tại nước Ba-ba, sau an cư mùa hạ, cầm y bát, đi lần đến nước Ca-duy-la-vệ, trong vườn Miên-kỳ; đến chỗ A-nan, cúi đầu lễ dưới chân, rồi đứng sang một bên, bạch A-nan rằng:
“Có Ni-kiền Tử trong thành Ba-ba, chết chưa bao lâu, mà các đệ tử của ông đã chia làm hai phe. Họ tranh chấp nhau, trực diện mắng chửi nhau, không còn phân biệt trên dưới; tỳm tòi khuyết điểm của nhau, ganh đua kiến thức với nhau rằng: ‘Ta có thể biết điều này; ngươi không thể biết điều này. Hành động của ta chân chính, còn ngươi là tà kiến. Ngươi đặt cái trước ra sau; để cái sau ra trước; điên đảo, thác loạn, không có phép tắc. Những điều ta làm thật là vi diệu. Những điều ngươi nói thì sai lầm. Ngươi có điều gì nghi ngờ, cứ hỏi ta.’ Bạch Đại đức A-nan, bấy giờ, những người thờ Ni-kiền Tử trong nước này nghe những tranh tụng như vậy sinh lòng chán ghét.”
A-nan nói với sa-di Châu-na:
“Ta có điều muốn bạch Thế Tôn. Ngươi hãy đi với ta, trình bày Thế Tôn về sự việc này. Nếu Thế Tôn có răn dạy điều gì, chúng ta hãy cùng phụng hành.”
Rồi thì, sa-di Châu-na sau khi nghe A-nan nói bèn cùng đi theo đến chỗ Thế Tôn. Sau khi cúi lạy dưới chân Thế Tôn, bèn đứng sang một bên. Lúc bấy giờ, A-nan bạch Thế Tôn rằng:
“Sa-di Châu-na này, sau an cư mùa hạ ở nước Ba-ba, cầm y bát, đi lần đến đây. Sau khi đảnh lễ dưới chân con, nói với con rằng: ‘Có Ni-kiền Tử trong thành Ba-ba, chết chưa bao lâu, mà các đệ tử của ông đã chia làm hai phe. Họ tranh chấp nhau, trực diện mắng chửi nhau, không còn phân biệt trên dưới; tỳm tòi khuyết điểm của nhau, ganh đua kiến thức với nhau rằng: ‘Ta có thể biết điều này; ngươi không thể biết điều này. Hành động của ta chân chính, còn ngươi là tà kiến. Ngươi đặt cái trước ra sau; để cái sau ra trước; điên đảo, thác loạn, không có phép tắc. Những điều ta làm thật là vi diệu. Những điều ngươi nói thì sai lầm. Ngươi có điều gì nghi ngờ, cứ hỏi ta.’ Bấy giờ, những người thời Ni-kiền Tử trong nước này nghe những tranh tụng như vậy sinh lòng chán ghét.’”
Thế Tôn nói với Châu-na:
“Quả vậy, Châu-na, trong phi pháp ấy không có gì đáng để nghe. Đó không phải là những điều được nói bởi một vị Chánh Đẳng Chánh Giác. Cũng như ngôi tháp đổ nát, khó có thể tô trét. Kia tuy có thầy, nhưng thảy đều ôm giữ tà kiến. Tuy có pháp, nhưng thảy đều không chân chánh, không đáng để nghe theo, không có khả năng xuất ly, không phải là những điều được nói bởi Chánh Đẳng Chánh Giác. Cũng như ngôi tháp đổ nát không thể tô trét được nữa vậy.
“Trong số các đệ tử của vị ấy có người không thuận theo pháp ấy, dứt bỏ tà kiến ấy, đi theo chánh kiến. Châu-na, nếu có người đến nói với các đệ tử ấy rằng: ‘Này Chư Hiền, pháp của thầy ông là chân chánh, nên tu hành trong pháp ấy, sao lại bỏ đi?’ Nếu người đệ tử này mà tin lời ấy, thì cả hai đều thất đạo, mắc tội vô lượng. Vì sao vậy? Kia tuy có pháp, nhưng không chân chánh.
“Châu-na, nếu thầy không tà kiến, và pháp ấy chân chánh, có thể khéo léo nghe theo, có khả năng xuất yếu, là pháp được nói bởi ChánhĐẳng Chánh Giác. Cũng như ngôi tháp mới có thể dễ dàng tô trét. Nhưng nếu các đệ tử, ở trong pháp ấy, không tinh cần tu tập, không thể thành tựu, bỏ con đường bình đẳng, đi vào tà kiến. Nếu có người đến nói với các đệ tử ấy rằng: ‘Này Chư Hiền, pháp của thầy các người là chân chánh, nên ở trong đó mà tu hành, sao lại bỏ đi mà đi vào tà kiến?’ Các đệ tử ấy nếu tin lời ấy, thì cả hai đều thấy chân chánh, được phước vô lượng. Vì sao vậy? Vì pháp ấy chân chánh.”
Phật bảo Châu-na:
“Những người kia tuy có thầy, nhưng ôm giữ tà kiến. Tuy cũng có pháp, nhưng thảy đều không chân chánh, không có khả năng xuất yếu, không phải là pháp được thuyết bởi Chánh Đẳng Chánh Giác. Cũng như ngôi tháp đổ nát không thể tô trét. Các đệ tử kia thành tựu pháp tùy pháp, tùy thuận theo mà tu hành, nhưng lại khởi tà kiến. Châu-na, nếu có người đến nói đệ tử ấy rằng: ‘Pháp của thầy ngươi là chân chánh. Điều ngươi làm là đúng. Nay ngươi tu hành cần khổ như vậy, có thể ở trong đời này ngươi sẽ thành tựu đạo quả.’ Các đệ tử kia tin lời ấy, thì cả hai đều thất đạo, mắc tội vô lượng. Vì sao vậy? Vì pháp không chân chánh vậy.
“Này Châu-na, nếu bậc thầy không tà kiến; pháp của vị ấy chân chánh, có thể khéo léo nghe theo, có khả năng xuất ly, là pháp được thuyết bởi Chánh Đẳng Chánh Giác. Cũng như ngôi tháp mới thì dễ tô trét. Nay đệ tử của vị ấy thành tựu pháp tùy pháp, tùy thuận tu hành mà sanh chánh kiến. Nếu có người đến nói với các đệ tử ấy rằng: ‘Pháp của thầy ngươi là chân chánh. Sở hành của ngươi là đúng. Nay cần khổ tu hành như vậy, có thể ở trong đời này mà thành tựu đạo quả.’ Các đệ tử kia tin lời ấy, cả hai đều chánh kiến, được phước vô lượng. Vì sao vậy? Vì pháp ấy chân chánh.
“Này Châu-na, hoặc có bậc Đạo sư xuất thế khiến cho các đệ tử buồn rầu. Hoặc có Đạo sư xuất thế khiến các đệ tử không ưu sầu.
“Thế nào là Đạo sư xuất thế khiến các đệ tử sinh ưu sầu?
“Này Châu-na! Đạo sư mới xuất hiện thế gian, thành Đạo chưa lâu, pháp của vị ấy đầy đủ phạm hạnh thanh tịnh, như thật chơn yếu nhưng không được phân bố rộng khắp, rồi vị Đạo sư ấy lại chóng diệt độ. Các đệ tử vì thế không được tu hành, thảy đều ưu sầu mà nói rằng: ‘Thầy vừa mới xuất thế, thành Đạo chưa lâu, pháp của Thầy đầy đủ phạm hạnh thanh tịnh, như thật chơn yếu, nhưng rốt cùng lại không được phân bố rộng khắp, mà nay Đạo sư lại nhanh chóng diệt độ, khiến cho đệ tử chúng ta không được tu hành.’ Đấy là có vị Đạo sư xuất thế nhưng đệ tử lại ưu sầu.
“Thế nào là Đạo sư xuất thế, đệ tử không ưu sầu?
“Có vị Đạo sư xuất thế, pháp của vị ấy thanh tịnh, đầy đủ phạm hạnh, như thật chơn yếu, lại được lưu bố rộng rãi, rồi sau đó mới vào diệt độ. Các đệ tử vì thế mà được tu hành, không ưu sầu, mà nói rằng: ‘Thầy mới xuất hiện thế gian, thành Đạo chưa lâu, pháp của Thầy thanh tịnh, đầy đủ phạm hạnh, như thật chơn yếu, lại được lưu bố rộng rãi, rồi sau đó mới vào diệt độ, khiến cho đệ tử chúng ta thảy đều được tu hành.’ Này Châu-na, như vậy, Đạo sư xuất thế, đệ tử không ưu sầu.”
Phật lại bảo Châu-na:
“Phạm hạnh thành tựu với những chi này, nhưng Đạo sư xuất thế mà xuất gia chưa bao lâu, danh tiếng chưa rộng, đó gọi là phạm hạnh chưa đầy đủ với chi này. Này Châu-na! Đạo sư xuất thế mà xuất gia đã lâu, danh tiếng đã rộng rãi, đó gọi là phạm hạnh đầy đủ với chi này.
“Này Châu-na, Đạo sư xuất thế, xuất gia đã lâu, danh tiếng đã rộng, nhưng các đệ tử chưa nhận được sự dạy dỗ, chưa đầy đủ phạm hạnh, chưa đến nơi an ổn, chưa đạt được mục đích của mình, chưa thể phân bố diễn thuyết pháp đã được thọ lãnh; nếu có dị luận nổi lên thì không thể như pháp mà diệt, chưa chứng đắc thần thông có khả năng biến hóa. Đó là phạm hạnh chưa đầy đủ với chi này.
“Này Châu-na! Đạo sư xuất thế, xuất gia đã lâu, danh tiếng đã rộng, mà các đệ tử thảy đều chịu giáo huấn, phạm hạnh đầy đủ, đã đến nơi an ổn, đã đạt được mục đích của mình, lại có thể phân biệt diễn thuyết pháp được lãnh thọ; nếu có dị luận khởi thì có thể như pháp mà diệt, đã chứng đắc thần thông có khả năng biến hóa đầy đủ. Đó là phạm hạnh đầy đủ với chi này.
“Này Châu-na! Đạo sư xuất thế, xuất gia chưa lâu, danh tiếng chưa rộng, các Tỳ-kheo ni chưa nhận được sự dạy dỗ, chưa đến chỗ an ổn, chưa đạt được mục đích của mình, chưa thể phân bố diễn thuyết pháp đã được lãnh thọ; nếu có dị luận khởi lên chưa thể như thật diệt trừ bằng Chánh pháp, chưa chứng đắc thần thông có khả năng biến hóa. Đó là phạm hạnh chưa đầy đủ với chi này.
“Này Châu-na! Đạo sư xuất thế, xuất gia đã lâu, danh tiếng đã rộng, các Tỳ-kheo ni thảy đều nhận được giáo huấn, phạm hạnh đầy đủ, đã đến nơi an ổn, có thể phân biệt diễn thuyết pháp đã lãnh thọ; nếu có dị luận khởi lên thì như pháp mà trừ diệt, đã chứng đắc thần thông có khả năng biến hóa. Đó là phạm hạnh đầy đủ với chi này.
“Này Châu-na! Các Ưu bà tắc, Ưu bà di rộng tu phạm hạnh... cho đến... đã chứng đắc thần thông có khả năng biến hóa, cũng vậy.
“Này Châu-na, nếu Đạo sư không còn ở đời, không có danh tiếng, sự lợi dưỡng tổn giảm; đó là phạm hạnh không đầy đủ với chi này. Nếu Đạo sư tại thế, danh tiếng và lợi dưỡng đều có đủ, không có tổn giảm; đó là phạm hạnh đầy đủ với chi này.
“Nếu Đạo sư còn ở đời, danh tiếng và lợi dưỡng thảy đều đầy đủ, nhưng các Tỳ-kheo không thể đầy đủ danh tiếng và lợi dưỡng; đó là phạm hạnh không đầy đủ với chi này. Nếu Đạo sư tại thế, danh tiếng và lợi dưỡng đầy đủ không tổn giảm, chúng các Tỳ-kheo cũng đầy đủ như vậy; đó là phạm hạnh đầy đủ với chi này.
“Chúng Tỳ-kheo ni cũng vậy.
“Châu-na, Ta xuất gia đã lâu, danh tiếng rộng xa, các Tỳ-kheo của Ta đã nhận lãnh giáo huấn, đã đến chỗ an ổn, đã tự mình đạt được mục đích, lại có thể nói cho người khác pháp đã lãnh thọ; nếu có dị luận khởi lên có thể như pháp mà diệt, đã chứng đắc thần thông có khả năng biến hóa. Các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, ưu-bà-tắc, ưu-bà-di, cũng vậy.
“Châu-na, Ta đã lưu bố rộng rãi phạm hạnh... cho đến, đã chứng đắc thần thông có khả năng biến hóa.
“Này Châu-na! Hết thảy Đạo sư trong thế gian, không thấy có ai có danh tiếng và lợi dưỡng như Ta, Như Lai, Chí Chân, Đẳng Chánh Giác.
“Này Châu-na, hết thảy đồ chúng có trong thế gian, không thấy ai có danh tiếng và lợi dưỡng như chúng của Như Lai.
“Châu-na, nếu muốn nói cho chân chánh, thì nên nói ‘thấy mà không thấy.’ Thế nào là thấy mà không thấy? Hết thảy phạm hạnh thanh tịnh cụ túc, đã được tuyên thuyết, được lưu bố hiển thị. Đó gọi là thấy mà không thấy.”
Rồi thì, đức Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:
“Uất-đầu-lam Tử, ở giữa đại chúng, nói như vậy: ‘Thấy mà không thấy. Thế nào là thấy mà không thấy? Như có thể thấy con dao nhưng không thể thấy sự bén nhọn.’ Này các Tỳ-kheo, vị ấy chỉ dẫn lời nói không nhận thức của phàm phu mà ví dụ. Như vậy, này Châu-na, nếu muốn nói một cách chân chánh, nên nói: ‘Thấy mà không thấy.’ Thế nào là thấy mà không thấy? Ngươi cần phải nói một cách chân chánh rằng: ‘Hết thảy phạm hạnh thanh tịnh đầy đủ, được tuyên thị, lưu bố. Đó là thấy mà không thấy.’
“Này Châu-na, pháp tương tục kia không đầy đủ nhưng có thể đạt được. Pháp không tương tục kia tuy đầy đủ nhưng không thể đạt được. Này Châu-na, phạm hạnh trong các pháp, là đề hồ trong các thứ tô lạc.”
Rồi Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:
“Những pháp này mà Ta đã tự thân tác chứng, đó là bốn niệm xứ, bốn thần túc, bốn chánh cần, bốn thiền, năm căn, năm lực, bảy giác chi, tám đạo Hiền Thánh. Các ngươi tất cả hãy cùng hòa hiệp chớ sanh tranh cãi. Cùng theo học một Thầy, cũng như nước và sữa hòa một, ở trong Chánh pháp của Như Lai, hãy tự thắp sáng cho mình, nhanh chóng được an lạc. Sau khi đã được an lạc, nếu có Tỳ-kheo nào, trong lúc có Tỳ-kheo đang thuyết pháp, mà nói rằng: ‘Điều được nói của vị kia, văn cú không chánh; nghĩa lý không chánh.’ Tỳ-kheo nghe như thế không nên nói đấy là đúng, cũng không nên nói đấy là sai, mà hãy nói với Tỳ-kheo ấy rằng: ‘Thế nào, Chư Hiền? Câu của tôi như vậy. Câu của các ngài như vậy. Nghĩa của tôi như vậy. Nghĩa của các ngài như vậy. Cái nào hơn? Cái nào kém?’ Nếu Tỳ-kheo kia nói rằng: ‘Câu của tôi như vậy. Câu của ngài như vậy. Nghĩa của tôi như vậy. Nghĩa của ngài như vậy. Câu của ngài hơn. Nghĩa của ngài cũng hơn.’ Tỳ-kheo kia nói vậy, nhưng cũng chớ cho là đúng, cũng chớ cho là sai, mà nên can gián Tỳ-kheo ấy, nên khuyến cáo hãy từ bỏ, hãy cùng suy cầu. Như vậy, cùng nhau hòa hiệp, chớ sanh tranh chấp. Cùng một Thầy học, như sữa và nước hiệp nhất, ở trong Chánh pháp của Như Lai, hãy tự mình thắp sáng, chóng được an lạc.
“Sau khi đã an lạc, nếu có Tỳ-kheo nào trong khi có Tỳ-kheo đang thuyết pháp mà nói như vậy: ‘Điều mà vị ấy nói, văn cú không chánh, nhưng nghĩa thì chánh.’ Tỳ-kheo nghe như vậy, không nên nói đấy là đúng, cũng không nên nói đấy là sai, mà nên nói với Tỳ-kheo ấy rằng: ‘Thế nào, Tỳ-kheo? Câu của tôi như vậy. Câu của ngài như vậy. Câu nào đúng? Câu nào sai?’ Nếu Tỳ-kheo ấy nói: ‘Câu của tôi như vậy. Câu của ngài như vậy. Câu của ngài hơn.’ Tỳ-kheo kia nói như vậy, nhưng cũng không nên nói đấy là đúng, cũng không nên nói thế là sai, mà nên can gián Tỳ-kheo ấy, nên khuyến cáo hãy dứt bỏ, hãy cùng suy cầu. Như vậy tất cả cùng hòa hiệp, chớ sanh tranh chấp, đồng một Thầy học, như nước sữa hiệp nhất, ở trong Chánh pháp của Như Lai, hãy tự mình thắp sáng, nhanh chóng được an lạc.
“Sau khi đã an lạc, nếu có Tỳ-kheo nào trong khi có Tỳ-kheo đang thuyết pháp mà nói như vậy: ‘Điều mà vị kia nói, văn cú chánh, nhưng nghĩa không chánh.’ Tỳ-kheo nghe như vậy, không nên nói đấy là đúng, cũng không nên nói đấy là sai, mà nên nói với Tỳ-kheo ấy rằng: ‘Thế nào, Tỳ-kheo? Câu của tôi như vậy. Câu của ngài như vậy. Câu nào đúng? Câu nào sai?’ Nếu Tỳ-kheo ấy nói: ‘Câu của tôi như vậy. Câu của ngài như vậy. Câu của ngài hơn.’ Tỳ-kheo kia nói như vậy, nhưng cũng không nên nói đấy là đúng, cũng không nên nói thế là sai, mà nên can gián Tỳ-kheo ấy, nên khuyến cáo hãy dứt bỏ, hãy cùng suy cầu. Như vậy tất cả cùng hòa hiệp, chớ sanh tranh chấp, đồng một Thầy học, cùng hòa hiệp như nước với sữa, ở trong Chánh pháp của Như Lai, hãy tự mình thắp sáng, chóng được an lạc.
“Sau khi được an lạc, nếu có Tỳ-kheo trong khi có Tỳ-kheo đang thuyết pháp mà nói như vậy ‘Điều được thuyết kia, văn cú chánh, nghĩa chánh.’ Tỳ-kheo nghe như vậy, không nên nói là sai, mà hãy nên khen ngợi Tỳ-kheo ấy rằng: ‘Điều ngài nói là đúng. Điều ngài nói là đúng.’ Vì vậy, này Tỳ-kheo, trong mười hai bộ kinh hãy tự mình chứng nghiệm, rồi lưu bố rộng rãi. Một là Quán kinh. Hai là Kỳ-dạ kinh. Ba là Thọ ký kinh. Bốn là Kệ kinh. Năm là Pháp cú kinh. Sáu là Tương ưng kinh. Bảy là Bổn duyên kinh. Tám là Thiên bổn kinh. Chín là Quảng kinh. Mười là Vị tằng hữu kinh. Mười một là Thí dụ kinh. Mười hai là Đại giáo kinh. Các ngươi hãy khéo thọ trì, hãy tùy năng lực mà suy xét, phân bố rộng rãi.
“Này các Tỳ-kheo, y mà Ta quy định, hoặc y lấy từ bãi tha ma, hoặc y của trưởng giả, hoặc y xấu hèn; các thứ y ấy đủ để che nóng che lạnh, muỗi mòng; đủ để trùm kín bốn chi thể.
“Này các Tỳ-kheo, ẩm thực mà Ta quy định, hoặc thực phẩm do khất thực, hoặc từ cư sỹ; các loại thực phẩm ấy đủ no. Nếu thân thể khổ não, các bệnh hoạn bức thiết mình, sợ rằng có thể vì thế mà chết, cho nên Ta cho phép các loại thực phẩm ấy, để tri túc thì thôi.
“Này các Tỳ-kheo, trú xứ mà Ta quy định, hoặc dưới gốc cây, hoặc chỗ trống, hoặc ở trong phòng, hoặc trên lầu gác, hoặc trong hang, hoặc tại các trú xứ khác; các trú xứ ấy đủ để ngăn che nóng lạnh, che nắng, che mưa, muỗi mòng, cho đến chỗ vắng vẻ để nghỉ ngơi.
“Này các Tỳ-kheo, thuốc men mà Ta quy định, hoặc từ đại tiểu tiện, hoặc bơ, dầu, hoặc mật, đường đen; các thứ thuốc ấy tự đủ, nếu thân thể phát sanh đau nhức, các thứ bịnh hoạn bức thiết mình, sợ rằng có thể chết, cho nên Ta quy định các thứ thuốc ấy.”
Phật lại nói:
“Hoặc có Phạm-chí ngoại đạo đến nói điều này: ‘Sa-môn Thích tử sống chỉ cầu an lạc.’ Nếu có người nói như vậy, nên trả lời rằng: ‘Ông chớ nói như vậy, rằng Sa-môn Thích tử sống chỉ cầu lạc.’ Vì sao? Có thứ lạc trú bị Như Lai chê trách. Có thứ lạc trú được Như Lai khen ngợi. Nếu Phạm-chí ngoại đạo hỏi: ‘Thứ lạc trú bị Cù-đàm chê trách?’ Nếu có hỏi như vậy, nên trả lời rằng: ‘Năm phẩm chất của dục, đáng ưa đáng thích, mọi người đều đam mê. Thế nào là năm? Sắc được biết bới mắt, đáng ưa đáng thích, mọi người đều đam mê. Tiếng nghe bởi tai, hương ngửi bởi mũi, vị nếm bởi lưỡi, xúc cảm bởi thân, đáng ưa đáng thích, mọi người đều đam mê. Này Chư Hiền, hỷ lạc phát sanh do bởi duyên là năm dục, đó là điều mà Như Lai, Chí Chân, Đẳng Chánh Giác chê trách. Cũng như có người cố tỳnh sát hại chúng sanh, tự cho thế là lạc; đó là điều mà Như Lai, Chí Chân, Đẳng Chánh Giác chê trách. Cũng như có người lén lút trộm cắp của người, cho thế là lạc; đó là điều mà Như Lai chê trách. Cũng như có người xâm phạm tịnh hạnh của người khác, tự cho thế là lạc; đó là điều mà Như Lai chê trách. Cũng như có người cố ý nói dối, tự cho thế là lạc; đó là điều mà Như Lai chê trách. Cũng có người sống phóng đãng buông thả; đó là diều Như Lai chê trách. Cũng có người hành khổ hạnh bề ngoài, không phải là hành chân chánh mà Như Lai dạy, tự cho thế là lạc; đó là điều Như Lai chê trách.
“Này các Tỳ-kheo, năm phẩm chất của dục vốn đáng chê trách, mà mọi người tham đắm. Những gì là năm? Sắc được biết bới mắt, đáng ưa đáng thích, là cái mà con người tham đắm. Tiếng nghe bởi tai, hương ngửi bởi mũi, vị nếm bởi lưỡi, xúc cảm bởi thân, đáng ưa đáng thích, mọi người tham đắm. Sa-môn Thích tử không có những thứ lạc như vậy. Cũng như có người cố ý sát sanh, cho đó là lạc; Sa-môn Thích tử không có cái lạc như vậy. Cũng như có người trộm cướp, cho thế là lạc; Sa-môn Thích tử không có cái lạc như vậy. Cũng như có người phạm phạm hạnh, cho thế là lạc; Sa-môn Thích tử không có cái lạc như vậy. Cũng như người cố ý nói dối, cho đó là lạc; Sa-môn Thích tử không có cái lạc như vậy Cũng như có người phóng đãng buông trôi, cho thế là lạc; Sa-môn Thích tử không có cái lạc như vậy. Cũng như có người hành khổ hạnh bề ngoài, cho thế là lạc. Sa-môn Thích tử không có cái lạc như vậy.
“Nếu có Phạm-chí ngoại đạo hỏi như vậy: ‘Thứ lạc trú nào mà Sa-môn Cù-đàm khen ngợi?’ Này các Tỳ-kheo, nếu người kia có nói như vậy, các ngươi nên trả lời rằng: ‘Này Chư Hiền, năm phẩm chất của dục, đáng ưa đáng thích, được người đời tham đắm. Những gì là năm? Sắc được biết bởi mắt... cho đến, xúc biết bởi thân, đáng ưa đáng thích, được người đời tham đắm. Này Chư Hiền, lạc phát sanh do bởi nhân duyên là năm dục, nên nhanh chóng diệt trừ. Cũng như có người cố ý sát sanh, tự cho thế là lạc; lạc như thế, nên nhanh chóng diệt trừ. Có người trộm cắp, tự cho thế là lạc; lạc ấy nên nhanh chóng diệt trừ. Cũng như có người phạm tịnh hạnh, tự cho thế là lạc; lạc ấy nên chóng diệt trừ. Cũng như có người phóng đãng buông trôi, tự cho thế là lạc; lạc ấy nên nhanh chóng diệt trừ. Cũng như có người hành khổ hạnh bề ngoài, cho thế là lạc; lạc ấy nên chóng diệt trừ. Cũng như có người ly dục, lìa bỏ pháp ác bất thiện, có tầm có tứ, có hỷ lạc phát sanh do ly dục, nhập sơ thiền. Lạc như thế là điều Phật khen ngợi. Cũng như có người diệt tầm tứ, nội tĩnh, nhất tâm, không tầm không tứ, có hỷ lạc do định sanh, nhập nhị thiền. Lạc như thế được Phật khen ngợi. Cũng như có người trừ hỷ, an trú xả, tự thân cảm giác lạc, điều mà Hiền Thánh là xả, an trú lạc có niệm, nhất tâm, nhập đệ tam thiền. Lạc như thế được Phật khen ngợi. Lạc hết, khổ hết, ưu và hỷ trước đã diệt, không khổ không lạc, xả, niệm thanh tịnh, nhập đệ tứ thiền. Lạc như vậy được Phật khen ngợi.
“Nếu có Phạm-chí ngoại đạo nói như vầy: ‘Trong lạc ấy, các ông tỳm kết quả gì, công đức gì?’ Nên trả lời rằng: ‘Lạc ấy sẽ đưa đến bảy quả, bảy công đức. Những gì là bảy? Ngay trong đời này, chứng đắc Thánh đạo. Giả sử chưa chứng, thì ngay khi chết, sẽ chứng đắc thánh đạo. Nếu trong khi chết mà chưa chứng đắc, thì sẽ đoạn trừ năm hạ phần kết, sẽ chứng đắc trung bát Niết-bàn, sanh bát Niết-bàn, hành bát Niết-bàn, vô hành bát Niết-bàn, thượng lưu a-ca-nị-trá Niết-bàn. Này Chư Hiền, lạc ấy có bảy công đức là như vậy.
“Chư hiền, hoặc có Tỳ-kheo đang ở bậc học địa mà muốn hướng thượng, tỳm cầu chỗ an ổn, nhưng chưa trừ năm triền cái. Những gì là năm? Tham dục triền cái, sân nhuế triền cái, thụy miên triền cái, trạo hý triền cái, nghi triền cái. Tỳ-kheo hữu học kia muốn cầu hướng thượng, tỳm chỗ an ổn, nhưng chưa diệt trừ năm triền cái, không hay tinh cần nơi bốn niệm xứ, không hay tinh cần với bảy giác chi, nhưng lại muốn chứng được pháp thượng nhân, tăng thượng tuệ của Hiền Thánh, mong cầu muốn biết, muốn thấy; không có trường hợp ấy.
“Chư hiền, Tỳ-kheo hữu học muốn cầu hướng thượng, tỳm cầu chỗ an ổn, mà có thể diệt trừ năm triền cái là tham dục triền cái, sân nhuế triền cái, thụy miên triền cái, trạo hý triền cái, nghi triền cái, hay tinh cần với bốn niệm xứ lại, như thật tu hành bảy giác chi; nếu vị ấy muốn được pháp thượng nhân, tăng thượng tuệ của Hiền Thánh, muốn biết muốn thấy; có trường hợp như vậy.
“Chư hiền, có Tỳ-kheo là A-la-hán lậu tận, điều cần làm đã làm xong, đã đặt gánh nặng xuống, đã đạt được mục đích của mình, đã dứt sạch các kết sử của hữu, với chánh trí đã giải thoát; vị ấy không làm chín việc. Những gì là chín? Một là không giết. Hai là không lấy trộm. Ba là không dâm. Bốn là không nói dối. Năm, không xả đạo. Sáu, không bị dục chi phối. Bảy, không bị sân chi phối. Tám, không bị sợ hãi chi phối. Chín, không bị nghi chi phối. Chư hiền, ấy là vị lậu tận A-la-hán đã làm xong điều cần làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã đạt được mục đích của mình, đã dứt sạch kết sử của hữu, chánh trí giải thoát, xa lìa chín sự.
“Hoặc có Phạm-chí ngoại đạo nói như vầy: ‘Sa-môn Thích tử có pháp bất trụ.’ Nên trả lời vị ấy rằng: ‘Chư hiền, chớ nói như vậy, rằng Sa-môn Thích tử có pháp bất trụ. Vì sao vậy? Pháp của Sa-môn Thích tử là thường trụ, không bị dao động. Cũng như ngưỡng cửa thường trụ không động. Pháp của Sa-môn Thích tử cũng vậy, thường trụ không di động.’
“Hoặc có Phạm-chí ngoại đạo nói như vậy: ‘Sa-môn Cù-đàm biết suốt việc trong đời quá khứ, nhưng không biết việc trong đơì vị lai.’ Tỳ-kheo kia, cùng Phạm-chí dị học ấy bằng trí này mà quán sát trí kia, cho nên lời nói hư dối. Như Lai đối với việc quá khứ kia, không gì không thấy biết, rõ như ở trước mắt. Đối với đời vị lai, Như Lai có trí phát sanh từ đạo. Việc trong đời quá khứ vốn hư dối không thật, không đáng vui thích, không lợi ích gì, Như Lai không ghi nhận. Hoặc việc quá khứ có thật, nhưng không đáng ưa thích, không ích lợi gì, Phật cũng không ghi nhận. Nếu việc quá khứ có thật, đáng ưa, nhưng không lợi ích, Phật cũng không ghi nhận. Nếu việc quá khứ có thật, đáng ưa, có lợi ích, Như Lai biết suốt, sau đó mới ghi nhận. Vị lai, hiện tại, cũng vậy.
“Như Lai đối với quá khứ, vị lai, hiện tại, nói đúng thời, nói sự thật, nói có nghĩa, có lợi, nói đúng pháp, đúng luật, không có lời hư dối. Phật từ đêm đầu tiên thành Vô thượng chánh giác cho đến đêm cuối cùng, trong khoảng giữa, có nói điều gì, thảy đều như thật; do đó gọi là Như Lai.
“Lại nữa, những điều Như Lai nói đúng như sự; sự đúng như lời; do đó gọi là Như Lai.
“Do nghĩa gì mà gọi là Đẳng Chánh Giác? Những gì mà Phật thấy biết, diệt trừ, giác ngộ, Phật thảy đều giác ngộ, biết rõ, nên gọi là Đẳng Chánh Giác.
“Hoặc có Phạm-chí ngoại đạo nói như vậy: ‘Thế gian thường hằng. Duy chỉ điều này là thật; ngoài ra đều là hư dối.’ Hoặc có người lại nói: ‘Thế gian này là không thường hằng. Duy chỉ điều này là thật; ngoài ra đều hư dối.’ Hoặc có người lại nói: ‘Thế gian vừa thường hằng vừa không thường hằng. Duy chỉ điều này là thật; ngoài ra đều hư dối.’ Hoặc có người nói: ‘Thế gian không phải thường hằng, không phải không thường hằng. Duy chỉ điều này là thật; ngoài ra là hư dối.’
“Hoặc có người nói: ‘Thế gian hữu biên. Duy chỉ điều này là thật; ngoài ra đều hư dối.’ Hoặc có người nói: ‘Thế gian vô biên. Duy chỉ điều này là thật; ngoài ra đều hư dối.’ Hoặc có người nói: ‘Thế gian vừa hữu biên vừa vô biên. Duy chỉ điều này là thật; ngoài ra đều hư dối.’ Hoặc nói: ‘Thế gian không phải hữu biên không phải vô biên. Duy chỉ điều này là thật; ngoài ra đều hư dối.’
“Hoặc nói: ‘Chính mạng tức là thân. Duy chỉ điều này là thật; ngoài ra đều dối.’ Hoặc nói: ‘Mạng không phải là thân. Đây là thật; ngoài ra là dối.’ Hoặc nói: ‘Mạng khác thân khác. Đây là thật; ngoài ra là dối.’ Hoặc nói: ‘Không phải mạng khác thân khác. Đây là thật; ngoài ra là dối.’
“Hoặc nói: ‘Như Lai tồn tại sau khi chết. Đây là thật, ngoài ra là dối.’ Hoặc nói: ‘Như Lai không tồn tại sau khi chết. Đây là thật còn ngoài ra là dối.’ Hoặc nói: ‘Như Lai vừa c tồn tại sau khi chết vừa không tồn tại sau khi chết, đây là thật còn ngoài ra là dối.’ Hoặc nói: ‘Như Lai không phải tồn tại sau khi chết cũng không phải không tồn tại sau khi chết, đây là thật còn ngoài ra là dối.’
“Những ai có quan điểm như vậy, gọi là bổn sanh bổn kiến. Nay ta ký thuyết cho ngươi rằng: ‘Thế gian là thường hằng... cho đến, Như Lai không phải tồn tại sau khi chết cũng không phải không tồn tại sau khi chết. Đây là thật còn ngoài ra là dối.’ Đó là bổn kiến bổn sanh. Hãy ghi nhớ lấy.
“Gọi là ‘Mạt kiếp mạt sanh,’ Ta cũng đã ký thuyết. Những gì là mạt kiếp mạt sanh được ta ký thuyết? Sắc là ta, tùy theo tưởng mà có cuối cùng; đây là thật còn ngoài ra là dối. Vô sắc là ta, tùy theo tưởng có cuối cùng. Vừa có sắc vừa vô sắc là ta, tùy theo tưởng mà có cuối cùng. Không phải có sắc không phải không sắc là ta, tùy theo tưởng mà có cuối cùng. Ta là hữu biên, ta là vô biên, ta vừa hữu biên vừa vô biên, ta không phải hữu biên cũng không phải vô biên, tùy theo tưởng mà có cuối cùng. Ta có lạc, tùy theo tưởng mà có cuối cùng. Ta không có lạc, tùy theo tưởng mà có cuối cùng. Ta vừa có khổ vừa có lạc, tùy theo tưởng mà có cuối cùng. Ta không khổ cũng không lạc, tùy theo tưởng mà có cuối cùng. Một tưởng là ta, tùy theo tưởng mà có cuối cùng. Nhiều tưởng là ta, tùy theo tưởng mà có cuối cùng. Ít tưởng là ta, tùy theo tưởng mà có cuối cùng. Vô lượng tưởng là ta, tùy theo tưởng mà có cuối cùng. Đây là thật ngoài ra là dối. Đó là tà kiến bổn kiến bổn sanh, được Ta ký thuyết.
“Hoặc có Sa-môn, Bà-la-môn, có luận như vầy, có kiến như vầy: ‘thế gian này thường hằng: đây là thật, ngoài ra là dối... cho đến, vô lượng tưởng là ta: đây là thật, ngoài ra là dối.’ Sa-môn, Bà-la-môn kia lại nói như vầy, thấy như vầy: ‘Đây là thật ngoài ra là hư dối’. Nên trả lời người ấy rằng: Có phải ông chủ trương rằng, thế giới này là thường hằng: đây là thật còn ngoài ra là dối? Lời nói như vậy Phật không chấp nhận. Vì sao? Trong các kiến giải đó mỗi thứ đều có kết sử. Ta lấy lý mà suy, trong các Sa-môn, Bà-la-môn, không ai bằng Ta, huống hồ muốn hơn Ta. Các tà kiến như vậy chỉ có nơi lời nói mà thôi, không đáng cùng bàn luận... Cho đến vô lượng tưởng là ta, cũng vậy.
“Hoặc có Sa-môn, Bà-la-môn nói như vầy: ‘Thế gian này tự tạo.’ Lại có Sa-môn, Bà-la-môn nói: ‘Thế gian này do cái khác tạo.’ Hoặc nói: ‘Vừa tự tạo vừa do cái khác tạo.’Hoặc nói: ‘không phải tự tạo cũng không phải do cái khác tạo nhưng ngẫu nhiên mà có.’ Sa-môn, Bà-la-môn nào nói rằng thế gian là tự tạo thì các Sa-môn, Bà-la-môn ấy đều nhân bởi nhân duyên là xúc. Nếu lìa xúc là nhân mà có thể nói được; không có trường hợp ấy. Vì sao? Do sáu xứ thân mà phát sanh xúc. Do xúc mà sanh thọ. Do thọ mà sanh ái. Do ái mà sanh thủ. Do thủ mà sanh hữu. Do hữu mà sanh sanh. Do sanh mà có già, chết, ưu, buồn, khổ, não, khối lớn khổ đau. Nếu không có sáu xứ, thì không có xúc. Không có xúc thì không có thọ. Không có thọ thì không có ái. Không có ái thì không có thủ. Không có thủ thì không có hữu. Không có hữu thì không có sanh. Không có sanh thì không có già, chết, ưu, buồn, khổ, não, khối lớn khổ đau.
“Lại nói, ‘thế gian này do cái khác tạo’; lại nói, ‘thế gian này vừa tự tạo vừa do cái khác tạo’; lại nói, ‘thế gian này không phải tự tạo cũng không phải do cái khác tạo, nhưng ngẫu nhiên mà có’; cũng vậy. Nhân xúc mà có, không có xúc thì không.”
Phật bảo các Tỳ-kheo:
“Nếu muốn diệt trừ các quan điểm tà ác ấy, nên tu ba hành nơi bốn niệm xứ. Thế nào Tỳ-kheo diệt trừ các tà ác, nên tu ba hành với bốn niệm xứ? Tỳ-kheo quán thân trên nội thân, tinh cần không biếng nhác, ghi nhớ không quên, trừ tham ưu ở đời. Quán thọ, tâm, pháp, cũng vậy. Đó là muốn diệt trừ ba hành đối với bốn niệm xứ.
“Có tám giải thoát. Những gì là tám? Có sắc, quán sắc, đó là giải thoát thứ nhất. Bên trong có sắc tưởng, quán ngoại sắc; giải thoát thứ hai. Tịnh giải thoát, giải thoát thứ ba. Vượt sắc tưởng, diệt hữu đối tưởng, trú không vô biên xứ, giải thoát thứ tư. Xả không vô biên xứ trú thức vô biên xứ; giải thoát thứ năm. Xả thức vô biên xứ, trú vóowr xứ; giải thoát thứ sáu. Xả sở hữu xứ, trú phiu tưởng phi phi tưởng xứ; giải thoát thứ bảy. Diệt tận định, giải thoát thứ tám.”
Bấy giờ, A-nan đang đứng sau Thế Tôn, cầm quạt quạt Phật, bèn trịch áo bày vai phải, quỳ gối phải xuống đất, chấp tay bạch Phật rằng:
“Kỳ diệu thay, Thế Tôn. Pháp này thanh tịnh, vi diệu bậc nhất, nên gọi là gì? Nên phụng trì như thế nào?”
Phật bảo A-nan:
“Kinh này gọi là “Thanh tịnh”. Ngươi hãy phụng trì như thế.”
Bấy giờ, A-nan sau khi nghe những lời Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.
佛說長阿含經卷第十二
T 0072c10 T 0072c11 後秦弘始年佛陀耶舍共竺佛念譯
T 0072c12如是我聞:
一時,佛在迦維羅衛國緬祇優婆 T 0072c14塞林中,與大比丘 眾 千二百五十人俱。
時,有沙 T 0072c15彌周那在波波國,夏安居已,執持衣鉢, T 0072c16漸詣迦維羅衛緬祇園中,至阿難所,頭面禮 T 0072c17足,於一面立,白阿難言:「波波城內有尼乾 T 0072c18子,命終未久,其諸弟子分為二分,各共諍訟, T 0072c19面相毀罵,無復上下,迭相求短,競其知見: T 0072c20『我能知是,汝不能知;我行真正,汝為邪見。 T 0072c21以前著後,以後著前,顛倒錯亂,無有法 T 0072c22則。我所為妙,汝所言非,汝有所疑,當諮問 T 0072c23我。』大德阿難!時,彼國人民事尼乾者,聞諍 T 0072c24訟已,生厭患心。」
阿難語周那沙彌曰:「我等 T 0072c25有言欲啟世尊,今共汝往,宣啟此事,若世 T 0072c26尊有所戒勅,當共奉行。」
爾時,沙彌周那聞 T 0072c27阿難語已,即共詣世尊,頭面禮足,在一面 T 0072c28立。爾時,阿難白世尊曰:「此沙彌周那在波 T 0072c29波國夏安居已,執持衣鉢,漸來至此,禮我 T 0073a01足,語我言:『波波國有尼乾子,命終未久,其 T 0073a02諸弟子分為二分,各共諍訟,面相毀罵,無復 T 0073a03上下,迭相求短,競其知見:「我能知是,汝不 T 0073a04能知;我行真正,汝為邪見。以前著後,以後 T 0073a05著前,顛倒錯亂,無有法則。我所言是,汝所 T 0073a06言非,汝有所疑,當諮問我。」時,彼國人民 T 0073a07事尼乾者,聞諍訟已,生厭患心。』」
世尊告 T 0073a08周那沙彌曰:「如是。周那!彼非法中不足聽 T 0073a09聞,此非三耶三佛所說,猶如朽塔難可汙 T 0073a10色。彼雖有師,盡懷邪見;雖復有法,盡不真 T 0073a11正,不足聽採,不能出要,非是三耶三佛所 T 0073a12說,猶如故塔不可汙也。彼諸弟子有不 T 0073a13順其法,捨彼異見,行於正見。周那!若有人 T 0073a14來語彼弟子:『諸賢!汝師法正,當於中行,何 T 0073a15以捨離?』其彼弟子信其言者,則二俱失道, T 0073a16獲無量罪,所以者何?彼雖有法,然不真正 T 0073a17故。周那!若師不邪見,其法真正,善可聽採, T 0073a18能得出要,三耶三佛所說,譬如新塔易可 T 0073a19汙色。然諸弟子於此法中,不能勤修,不 T 0073a20能成就,捨平等道,入於邪見,若有人來語 T 0073a21彼弟子:『諸賢!汝師法正,當於中行,何以捨 T 0073a22離,入於邪見?』其彼弟子信其言者,則二俱 T 0073a23見真正,獲無量福。所以者何?其法真正。」
佛 T 0073a24告周那:「彼雖有師,然懷邪見,雖復有法,盡 T 0073a25不真正,不足聽採,不能出要,非三耶三 T 0073a26佛所說,猶如朽塔不可汙色。彼諸弟子法 T 0073a27法成就,隨順其行,起諸邪見。周那!若有人 T 0073a28來語其弟子言:『汝師法正,汝所行是,今所 T 0073a29修行勤苦如是,應於現法成就道果。』彼諸 T 0073b01弟子信受其言者,則二俱失道,獲無量罪。 T 0073b02所以者何?以法不真正故。周那!若師不邪 T 0073b03見,其法真正,善可聽採,能得出要,三耶三 T 0073b04佛所說,譬如新塔易為汙色。又其弟子法 T 0073b05法成就,隨順修行而生正見,若有人來語 T 0073b06其弟子言:『汝師法正,汝所行是,今所修行 T 0073b07勤苦如是,應於現法成就道果。』彼諸弟子 T 0073b08信受其言,二俱正見,獲無量福。所以者何? T 0073b09法真正故。
「周那!或有導師出世,使弟子生 T 0073b10憂;或有導師出世,使弟子無憂。云何導師 T 0073b11出世,使弟子生憂?周那!導師新出世間,成 T 0073b12道未久,其法具足,梵行清淨,如實真要而不 T 0073b13布現,然彼導師速取滅度,其諸弟子不得 T 0073b14修行,皆愁憂言:『師初出世,成道未久,其法清 T 0073b15淨,梵行具足,如實真要,竟不布現,而今導師 T 0073b16便速滅度,我等弟子不得修行。』是為導師 T 0073b17出世,弟子愁憂。云何導師出世,弟子不憂? T 0073b18謂導師出世,其法清淨,梵行具足,如實真要 T 0073b19而廣流布,然後導師方取滅度,其諸弟子皆 T 0073b20得修行,不懷憂言:『師初出世,成道未久,其 T 0073b21法清淨,梵行具足,如實真要而不布現,而 T 0073b22今導師便速滅度,使我弟子不得修行。』如 T 0073b23是,周那!導師出世,弟子無憂。」
佛告周那:「此 T 0073b24支成就梵行,謂導師出世,出家未久,名聞 T 0073b25未廣,是謂梵行支不具足。周那!導師出世, T 0073b26出家既久,名聞廣遠,是謂梵行支具足滿。 T 0073b27周那!導師出世,出家既久,名聞亦廣,而諸弟 T 0073b28子未受訓誨,未具梵行,未至安處,未獲 T 0073b29己利,未能受法分布演說,有異論起不 T 0073c01能如法而往滅之,未能變化成神通證,是 T 0073c02為梵行支不具足。周那!導師出世,出家 T 0073c03既久,名聞亦廣,而諸弟子盡受教訓,梵行具 T 0073c04足,至安隱處,已獲己利,又能受法分別演 T 0073c05說,有異論起能如法滅,變化具足成神通 T 0073c06證,是為梵行支具足滿。
「周那!導師出世,出 T 0073c07家亦久,名聞亦廣,諸比丘尼未受訓誨,未 T 0073c08至安處,未獲己利,未能受法分布演說, T 0073c09有異論起不能以法如實除滅,未能變化 T 0073c10成神通證,是為梵行支未具足。周那!導師 T 0073c11出世,出家亦久,名聞亦廣,諸比丘尼盡受教 T 0073c12訓,梵行具足,至安隱處,已獲己利,復能受 T 0073c13法分別演說,有異論起能如法滅,變化具 T 0073c14足成神通證,是為梵行支具足滿。周那!諸 T 0073c15優婆塞、優婆夷廣修梵行,乃至變化具足成 T 0073c16神通證,亦復如是。
「周那!若導師不在世,無 T 0073c17有名聞,利養損減,則梵行支不具足滿。若 T 0073c18導師在世,名聞利養,皆悉具足,無有損減,則 T 0073c19梵行支為具足滿。若導師在世,名聞利養, T 0073c20皆悉具足,而諸比丘名聞利養,不能具足,是 T 0073c21為梵行支不具足。若導師在世,名聞利養, T 0073c22具足無損,諸比丘眾亦復具足,則梵行支 T 0073c23為具足滿,比丘尼眾亦復如是。
「周那!我出 T 0073c24家久,名聞廣遠,我諸比丘已受教誡,到安 T 0073c25隱處,自獲己利,復能受法為人說法,有 T 0073c26異論起能如法滅,變化具足成神通證,諸 T 0073c27比丘、比丘尼、優婆塞、優婆夷皆亦如是。周那! T 0073c28我以廣流布梵行,——乃至變化具足成神通證。 T 0073c29周那!一切世間所有導師,不見有得名聞 T 0074a01利養如我如來、至真、等正覺者也。周那!諸 T 0074a02世間所有徒眾,不見有名聞利養如我眾 T 0074a03也。周那!若欲正說者,當言見不可見。云 T 0074a04何見不可見?一切梵行清淨具足,宣示布現, T 0074a05是名見不可見。」
爾時,世尊告諸比丘:「欝 T 0074a06頭藍子在大眾中而作是說:『有見不見,云 T 0074a07何名見不見?如刀可見,刃不可見。』諸比丘! T 0074a08彼子乃引凡夫無識之言以為譬喻,如是, T 0074a09周那!若欲正說者,當言見不見。云何見 T 0074a10不見?汝當正欲說言:『一切梵行清淨具足, T 0074a11宣示流布,是不可見。』周那!彼相續法不具 T 0074a12足而可得,不相續法具足而不可得。周那! T 0074a13諸法中梵行,酪酥中醍醐。」
爾時,世尊告諸 T 0074a14比丘:「我於是法躬自作證,謂四念處、四神 T 0074a15足、四意斷、四禪、五根、五力、七覺意、賢聖八道, T 0074a16汝等盡共和合,勿生諍訟,同一師受,同一水 T 0074a17乳;於如來正法,當自熾然,快得安樂。得 T 0074a18安樂已,若有比丘說法中有作是言:『彼所 T 0074a19說句不正,義理不正。』比丘聞已,不可言是, T 0074a20不可言非,當語彼比丘言:『云何?諸賢!我 T 0074a21句如是,汝句如是;我義如是,汝義如是。何 T 0074a22者為勝?何者為負?』若彼比丘報言:『我句如是, T 0074a23我義如是;汝句如是,汝義如是;汝句亦勝, T 0074a24汝義亦勝。』彼比丘說此,亦不得非,亦不得 T 0074a25是。當諫彼比丘,當呵當止,當共推求,如 T 0074a26是盡共和合,勿生諍訟,同一受,同一師,同一 T 0074a27乳;於如來正法,當自熾然,快得安樂。
「得安 T 0074a28樂已,若有比丘說法,中有比丘作是言: T 0074a29『彼所說句不正,義正。』比丘聞已,不可言是, T 0074b01不可言非,當語彼比丘言:『云何?比丘!我 T 0074b02句如是,汝句如是,何者為是?何者為非?』若 T 0074b03彼比丘報言:『我句如是,汝句如是,汝句亦勝。』 T 0074b04彼比丘說此,亦不得言是,不得言非,當 T 0074b05諫彼比丘,當呵當止,當共推求,如是盡共 T 0074b06和合,勿生諍訟,同一師受,同一水乳;於如來 T 0074b07正法,當自熾然,快得安樂。
「得安樂已,若有 T 0074b08比丘說法,中有比丘作是言:『彼所說句正, T 0074b09義不正。』比丘聞已,不可言是,不可言非, T 0074b10當語彼比丘言:『云何?比丘!我義如是,汝義 T 0074b11如是,何者為是?何者為非?』若彼報言:『我義 T 0074b12如是,汝義如是,汝義亦勝。』彼比丘說此已, T 0074b13亦不得言是,亦不得言非,當諫彼比丘, T 0074b14當呵當止,當共推求,如是比丘盡共和合, T 0074b15勿生諍訟,同一師受,同一水乳,於如來正 T 0074b16法,當自熾然,快得安樂。
「得安樂已,若有比 T 0074b17丘說法,中有比丘作如是言:『彼所說句正, T 0074b18義正。』比丘聞已,不得言非,當稱讚彼言: T 0074b19『汝所言是,汝所言是。』是故,比丘!於十二部經 T 0074b20自身作證,當廣流布,一曰《貫經》,二曰《祇夜經》, T 0074b21三曰《受記經》,四曰《偈經》,五曰《法句經》,六曰《相 T 0074b22應經》,七曰《本緣經》,八曰《天本經》,九曰《廣經》,十 T 0074b23曰《未曾有經》,十一曰《譬喻經》,十二曰《大教經》, T 0074b24當善受持,稱量觀察,廣演分布。
「諸比丘!我 T 0074b25所制衣,若塚間衣,若長者衣、麤賤衣;此衣足 T 0074b26障寒暑、蚊虻,足蔽四體。諸比丘!我所制食, T 0074b27若乞食,若居士食;此食自足,若身苦惱,眾患 T 0074b28切已,恐遂至死,故聽此食,知足而已。諸比 T 0074b29丘!我所制住處,若在樹下,若在露地,若在 T 0074c01房內,若樓閣上,若在窟內,若在種種住處; T 0074c02此處自足,為障寒暑、風雨、蚊虻,下至閑靜 T 0074c03懈息之處。諸比丘!我所制藥,若大小便,酥 T 0074c04油蜜、黑石蜜;此藥自足,若身生苦惱,眾患切 T 0074c05已,恐遂至死,故聽此藥。」
佛言:「或有外道梵 T 0074c06志來作是語:『沙門釋子以眾樂自娛。』若有 T 0074c07此言,當如是報:『汝等莫作此言,謂沙門釋 T 0074c08子以眾樂自娛。所以者何?有樂自娛,如來 T 0074c09呵責;有樂自娛,如來稱譽。』若外道梵志問言: T 0074c10『何樂自娛,瞿曇呵責?』設有此語,汝等當報: T 0074c11『五欲功德,可愛可樂,人所貪著。云何為五? T 0074c12眼知色,可愛可樂,人所貪著;耳聞聲、鼻 T 0074c13知香、舌知味、身知觸,可愛可樂,人所貪 T 0074c14著。諸賢!猶是五欲緣生喜樂,此是如來、至 T 0074c15真、等正覺之所呵責也。猶如有人故殺眾 T 0074c16生,自以為樂,此是如來、至真、等正覺之所呵 T 0074c17責。猶如有人私竊偷盜,自以為樂,此為如 T 0074c18來之所呵責。猶如有人犯於梵行,自以為 T 0074c19樂,此是如來之所呵責。猶如有人故作妄 T 0074c20語,自以為樂,此是如來之所呵責。猶如有 T 0074c21人放蕩自恣,此是如來之所呵責。猶如有 T 0074c22人行外苦行,非是如來所說正行,自以為 T 0074c23樂,此是如來之所呵責。』
「諸比丘!呵責五欲 T 0074c24功德,人所貪著。云何為五?眼知色,可愛 T 0074c25可樂,人所貪著;耳聞聲、鼻知香、舌知味、身 T 0074c26知觸,可愛可樂,人所貪著;如此諸樂,沙門 T 0074c27釋子無如此樂。猶如有人故殺眾生,以此 T 0074c28為樂,沙門釋子無如此樂。猶如有人公為 T 0074c29盜賊,自以為樂,沙門釋子無如是樂。猶如 T 0075a01有人犯於梵行,自以為樂,沙門釋子無如 T 0075a02是樂。猶如有人故作妄語,自以為樂,沙門 T 0075a03釋子無如是樂。猶如有人放蕩自恣,自以 T 0075a04為樂,沙門釋子無如是樂。猶如有人行外 T 0075a05苦行,自以為樂,沙門釋子無如是樂。
「若外 T 0075a06道梵志作如是問『何樂自娛,沙門瞿曇之 T 0075a07所稱譽?』諸比丘!彼若有此言,汝等當答彼 T 0075a08言:『諸賢!有五欲功德,可愛可樂,人所貪著。 T 0075a09云何為五?眼知色,——乃至身知觸,可愛可 T 0075a10樂,人所貪著。諸賢!五欲因緣生樂,當速除 T 0075a11滅。猶如有人故殺眾生,自以為樂;有如 T 0075a12此樂,應速除滅。猶如有人公為盜賊,自以 T 0075a13為樂;有如此樂,應速除滅。猶如有人犯 T 0075a14於梵行,自以為樂;有如此樂,應速除滅。猶 T 0075a15如有人故為妄語,自以為樂;有如此樂, T 0075a16應速除滅。猶如有人放蕩自恣,自以為樂; T 0075a17有如此樂,應速除滅。猶如有人行外苦 T 0075a18行,自以為樂;有如是樂,應速除滅。猶如 T 0075a19有人去離貪欲,無復惡法,有覺、有觀,離生 T 0075a20喜、樂,入初禪;如是樂者,佛所稱譽。猶如有 T 0075a21人滅於覺、觀,內喜、一心,無覺、無觀,定生喜、樂, T 0075a22入第二禪;如是樂者,佛所稱譽。猶如有人 T 0075a23除喜入捨,自知身樂,賢聖所求,護念一心, T 0075a24入第三禪;如是樂者,佛所稱譽。樂盡苦盡, T 0075a25憂、喜先滅,不苦不樂,護念清淨,入第四禪; T 0075a26如是樂者,佛所稱譽。』
「若有外道梵志作如 T 0075a27是問:『汝等於此樂中求幾果功德?』應答彼 T 0075a28言:『此樂當有七果功德。云何為七?於現法 T 0075a29中,得成道證,正使不成,臨命終時,當成 T 0075b01道證;若臨命終復不成者,當盡五下結,中 T 0075b02間般涅槃、生彼般涅槃、行般涅槃、無行般涅 T 0075b03槃、上流阿迦尼吒般涅槃。諸賢!是為此樂 T 0075b04有七功德。諸賢!若比丘在學地欲上,求 T 0075b05安隱處,未除五蓋,云何為五?貪欲蓋、瞋恚 T 0075b06蓋、睡眠蓋、掉戱蓋、疑蓋。彼學比丘方欲上 T 0075b07求,求安隱處,未滅五蓋,於四念處不能 T 0075b08精勤,於七覺意不能勤修,欲得上人法、賢 T 0075b09聖智慧增盛,求欲知欲見者,無有是處。 T 0075b10諸賢!學地比丘欲上求,求安隱處,能滅五 T 0075b11蓋:貪欲蓋、瞋恚蓋、睡眠蓋、掉戱蓋、疑蓋。於四 T 0075b12意處又能精勤,於七覺意如實修行,欲 T 0075b13得上人法、賢聖智慧增上,求欲知欲見者, T 0075b14則有是處。諸賢!若有比丘漏盡阿羅漢,所 T 0075b15作已辦,捨於重擔,自獲己利,盡諸有結使, T 0075b16正智解脫,不為九事。云何為九?一者不殺,二 T 0075b17者不盜,三者不婬,四者不妄語,五者不捨道, T 0075b18六者不隨欲,七者不隨恚,八者不隨怖,九者 T 0075b19不隨癡。諸賢!是為漏盡阿羅漢所作已辦,捨 T 0075b20於重擔,自獲己利,盡諸有結,正智得解,遠 T 0075b21離九事。』
「或有外道梵志作是說言:『沙門釋 T 0075b22子有不住法。』應報彼言:『諸賢!莫作是說: T 0075b23沙門釋子有不住法。所以者何?沙門釋子,其 T 0075b24法常住,不可動轉,譬如門閫常住不動,沙 T 0075b25門釋子亦復如是,其法常住,無有移動。』或 T 0075b26有外道梵志作是說言:『沙門瞿曇盡知過 T 0075b27去世事,不知未來事。』『彼比丘、彼異學梵志 T 0075b28智異,智觀亦異,所言虛妄。如來於彼過去事, T 0075b29若在目前,無不知見;於未來世,生於道 T 0075c01智。過去世事虛妄不實,不足喜樂,無所利 T 0075c02益,佛則不記;或過去事有實,無可喜樂,無 T 0075c03所利益,佛亦不記;若過去事有實、可樂,而 T 0075c04無利益,佛亦不記;若過去事有實、可樂,有 T 0075c05所利益,如來盡知然後記之;未來、現在,亦復 T 0075c06如是。如來於過去、未來、現在,應時語、實語、義 T 0075c07語、利語、法語、律語,無有虛也。佛於初夜成 T 0075c08最正覺,及末後夜,於其中間有所言說,盡 T 0075c09皆如實,故名如來。復次,如來所說如事,事 T 0075c10如所說,故名如來。以何等義,名等正覺? T 0075c11佛所知見、所滅、所覺,佛盡覺知,故名等 T 0075c12正覺。』
「或有外道梵志作如是說:『世間常存, T 0075c13唯此為實,餘者虛妄。』或復說言:『此世無常, T 0075c14唯此為實,餘者虛妄。』或復有言:『世間有常 T 0075c15無常,唯此為實,餘者虛妄。』或復有言:『此 T 0075c16世間非有常非無常,唯此為實,餘者虛妄。』或 T 0075c17復有言:『此世間有邊,唯此為實,餘者為虛 T 0075c18妄。』或復有言:『世間無邊,唯此為實,餘者 T 0075c19虛妄。』或復有言:『世間有邊無邊,唯此為實, T 0075c20餘者虛妄。』或復有言:『世間非有邊非無 T 0075c21邊,唯此為實,餘者虛妄。』或復有言:『是命 T 0075c22是身,此實餘虛。』或復有言:『非命非身,此實 T 0075c23餘虛。』或復有言:『命異身異,此實餘虛。』或復 T 0075c24有言:『非異命非異身,此實餘虛。』或復有言: T 0075c25『如來有終,此實餘虛。』或復有言:『如來不終,此 T 0075c26實餘虛。』或復有言:『如來終不終,此實餘虛。』或 T 0075c27復有言:『如來非終非不終,此實餘虛。』諸有 T 0075c28此見,名本生本見,今為汝記,謂:『此世常 T 0075c29存,——乃至如來非終非不終,唯此為實,餘者虛 T 0076a01妄,是為本見本生。』為汝記之。
「所謂未見 T 0076a02未生者,我亦記之。何者未見 未生,我所記 T 0076a03者?色是我,從想有終,此實餘虛;無色是我, T 0076a04從想有終;亦有色亦無色是我,從想有終; T 0076a05非有色非無色是我,從想有終。我有邊,我 T 0076a06無邊,我有邊無邊,我非有邊非無邊,從想 T 0076a07有終。我有樂,從想有終;我無樂,從想有 T 0076a08終;我有苦樂,從想有終;我無苦樂,從想有 T 0076a09終。一想是我,從想有終;種種想是我,從想 T 0076a10有終;少想是我,從想有終;無量想是我,從 T 0076a11想有終,此實餘虛。是為邪見本見本生,我 T 0076a12之所記。
「或有沙門、婆羅門有如是論、有 T 0076a13如是見:『此世常存,此實餘虛,——乃至無量想是 T 0076a14我,此實餘虛。』彼沙門、婆羅門復作如是說、 T 0076a15如是見:『此實,餘者虛妄。』當報彼言:『汝實作 T 0076a16此論,云何此世常存?此實餘虛耶?如此語 T 0076a17者,佛所不許。所以者何?此諸見中各有結 T 0076a18使,我以理推,諸沙門、婆羅門中,無與我等 T 0076a19者,況欲出過?此諸邪見但有言耳,不中共 T 0076a20論,——乃至無量想是我,亦復如是。』
「或有沙門、 T 0076a21婆羅門作是說:『此世間自造。』復有沙門、婆 T 0076a22羅門言:『此世間他造。』或復有言:『自造他造。』 T 0076a23或復有言:『非自造非他造,忽然而有。』彼沙 T 0076a24門、婆羅門言世間自造者,是沙門、婆羅門 T 0076a25皆因觸因緣,若離觸因而能說者,無有是 T 0076a26處。所以者何?由六入身故生觸,由觸故生 T 0076a27受,由受故生愛,由愛故生取,由取故生 T 0076a28有,由有故生生,由生故有老、死、憂、悲、苦惱, T 0076a29大患陰集。若無六入則無觸,無觸則無受, T 0076b01無受則無愛,無愛則無取,無取則無有, T 0076b02無有則無生,無生則無老、死、憂、悲、苦惱,大 T 0076b03患陰集。又言此世間他造,又言此世間自造 T 0076b04他造,又言此世間非自造非他造,忽然而 T 0076b05有,亦復如是,因觸而有,無觸則無。」
佛告諸 T 0076b06比丘:「若欲滅此諸邪惡見者,於四念處當 T 0076b07修三行。云何比丘滅此諸惡,於四念處當 T 0076b08修三行?比丘謂內身身觀,精勤不懈,憶念 T 0076b09不忘,除世貪憂;外身身觀,精勤不懈,憶念 T 0076b10不忘,除世貪憂;內外身身觀,憶念不忘,除 T 0076b11世貪憂;受、意、法觀,亦復如是。是為滅眾惡 T 0076b12法,於四念處,三種修行。有八解脫,云何為 T 0076b13八?色觀色,初解脫。內 無 色想,外觀色,二解 T 0076b14脫。淨解脫,三解脫。度色想滅有對想,住空 T 0076b15處,四解脫。捨空處,住識處,五解脫。捨識 T 0076b16處,住不用處,六解脫。捨不用處,住有想無 T 0076b17想處,七解脫。滅盡定,八解脫。」
爾時,阿難在世 T 0076b18尊後執扇扇佛,即偏露右肩,右膝著地, T 0076b19叉手白佛言:「甚奇!世尊!此法清淨,微妙第一。 T 0076b20當云何名?云何奉持?」
佛告阿難:「此經名為 T 0076b21清淨,汝當清淨持之。」
爾時,阿難聞佛所說, T 0076b22歡喜奉行。
T 0076b23 SC 1Thus I have heard: One time, the Buddha was staying at Layman [Vedhañña]’s Grove in the country of Kapilavastu. He was accompanied by a large assembly of 1,250 monks.
News of Nigranthaputra’s Death
SC 2The novice monk Cunda was staying in Pāpā at the time for the summer retreat. When it was finished, he took his robe and bowl and made his way to Layman [Vedhañña]’s Grove near Kapilavastu. He went to Ānanda, bowed his head at his feet, and stood to one side. He then said to Ānanda, “In the city of Pāpā, Nigranthaputra’s life ended not long ago, and his disciples are divided into two factions. They fight with each other, scolding each other to their faces. They have no hierarchy and look for each other’s shortcomings. They argue about what they know and see: ‘I can understand this, but you cannot.’ ‘My practices are true and correct; yours are wrong views.’ ‘You put what’s first last and what’s last first, getting things reversed and confused, and then there isn’t any order.’ ‘What I do is sublime; what you say is wrong.’ ‘If you have any doubts, feel free to ask me.’ Virtuous Ānanda, the people of that country who served Nirgrantha are disgusted when they hear their fighting.”
SC 3Ānanda said to the novice monk Cunda, “We were going to inform the Bhagavān about something. You can come with us. You ought to tell him about these events. If the Bhagavān has some instructions about it, we’ll accept them together.”
SC 4After hearing what Ānanda said, the novice monk Cunda went with him to visit the Bhagavān. He bowed his head at the Buddha’s feet and then stood to one side.
SC 5Ānanda said to the Bhagavān, “When this novice monk Cunda finished the summer retreat in Pāpā, he took his robe and bowl and made his way here. He bowed at my feet and said to me: ‘In the city of Pāpā, Nigranthaputra’s life ended not long ago, and his disciples are divided into two factions. They fight with each other, scolding each other to their faces. They have no hierarchy and look for each other’s shortcomings. They argue about what they know and see: “I can understand this, but you cannot.” “My practices are true and correct; yours are wrong views.” “You put what’s first last and what’s last first, getting things reversed and confused, and then there isn’t any order.” “What I do is sublime; what you say is wrong.” “If you have any doubts, feel free to ask me.” The people of that country who served Nirgrantha are disgusted when they hear their fighting.’”
Disciples Who Don’t Follow a Teaching
SC 6The Bhagavān told Cunda, “So it is, Cunda. That’s not a teaching that’s worth hearing, nor is it the teaching of a Completely Awakened One. It’s like a crumbling shrine that’s difficult to paint. Although they had a teacher, the views he held were all wrong. Although they also have a teaching, none of it is true. It isn’t worth hearing and can’t escape [suffering]. This isn’t the teaching of a Completely Awakened One. It’s like an ancient shine that can’t be painted. The disciples who didn’t follow his teaching and abandoned his different views practiced right view.
SC 7“Cunda, suppose someone came and said to those disciples, ‘Good men, your teacher’s Dharma was correct. You ought to put it into practice. Why did you abandon it?’ Those disciples who believe it and the speaker will both lose the path and get measureless misdeeds. Why is that? Although they have a teaching, it isn’t true.
SC 8“Cunda, suppose the teacher doesn’t have wrong views. His teaching is true, good to hear, and can reach the escape. That’s the teaching of a Completely Awakened One. It’s like a newly built shrine that’s easy to paint. Still, disciples who don’t diligently cultivate his teaching can’t accomplish it. They abandon the equal path and take up wrong views.
SC 9“Suppose someone came and said to those disciples, ‘Good men, your teacher’s Dharma was correct. You ought to put it into practice. Why did you abandon it and take up wrong views?’ Those disciples who believe it and the speaker will both see correctly and get measureless merits. Why is that? Their teaching is true.”
Disciples Who Accomplish a Teaching
SC 10The Buddha told Cunda, “Although they had a teacher, he held wrong views. Although they also have a teaching, none of it is true. It isn’t worth hearing and can’t escape. This isn’t the teaching of a Completely Awakened One. It’s like a crumbling shine that can’t be painted. Those disciples who accomplished his teachings and followed his practice produced wrong views.
SC 11“Cunda, suppose someone came and said to those disciples, ‘Good men, your teacher’s Dharma was correct. It’s something you ought to practice. Now, your cultivation of asceticism being diligent, you should accomplish the fruit of the path in the present life.’ Those disciples who believe it and the speaker will both lose the path and get measureless misdeeds. Why is that? Because the teaching isn’t true.
SC 12“Cunda, suppose the teacher doesn’t have wrong views. His teaching is true, good to hear, and can reach the escape. That’s the teaching of a Completely Awakened One. It’s like a newly built shrine that’s easy to paint. Those disciples who accomplish his teachings and follow the cultivation of his practice will produce right view.
SC 13“Suppose someone said to those disciples, ‘Good men, your teacher’s Dharma was correct. It’s something you ought to practice. Now, your cultivation of asceticism being diligent, you should accomplish the fruit of the path in the present life.’ Those disciples who believe it and the speaker will both have right view and obtain measureless merits. Why is that? Because the teaching is true.”
Teachers Who Are Grieved and Not Grieved
SC 14“Cunda, when some teachers leave the world, it makes their disciples grieve. Some teachers leave the world, and it doesn’t make their disciples grieve.
SC 15“How does a teacher leaving the world make his disciples grieve? Cunda, suppose a teacher has recently left the world, and it wasn’t long after he achieved awakening. His teaching was complete, his religious practice was pure, and his essentials were true, but these things weren’t widely known. The teacher’s final liberation was so soon that his disciples can’t cultivate his practice. They lament, saying, ‘The teacher was first to leave the world, not long after achieving awakening. His teaching was pure, his religious practice was complete, and his essentials were true, but they weren’t widely known. Now, the teacher’s final liberation was so soon, we disciples can’t cultivate his practice!’ This is a teacher who leaves the world, and his disciple grieve over it.
SC 16“How does a teacher leaving the world not make his disciples grieve? Suppose when a teacher leaves the world, his teaching is pure, his religious practice is complete, and his essentials are true. These things are widely known. After the teacher’s final liberation, his disciples can cultivate his practice. They don’t lament, saying, ‘The teacher was first to leave the world, not long after achieving awakening. His teaching was pure, his religious practice was complete, and his essentials were true, but they weren’t widely known. Now, the teacher’s final liberation was so soon, we disciples can’t cultivate his practice!’ Thus, Cunda, a teacher leaves the world, and his disciples have no grief over it.”
Factors of a Religious Practice
SC 17The Buddha told Cunda, “These factors achieve the religious life. That is, a teacher leaves the world not long after leaving home. His fame hasn’t spread widely. This is a factor of the religious practice being incomplete.
SC 18“Cunda, a teacher leaves the world a long time after he left home, and his fame has become far-reaching. This is a factor of the religious life being fulfilled.
SC 19“Cunda, a teacher leaves the world a long time after he left home, and his fame has become far-reaching, but his disciples have yet to receive his instruction or possess his religious practice. They’ve yet to reach a state of peace, obtain their own reward, or accept his teaching and widely promulgate it. When different interpretations arise, they can’t eliminate them according to the teaching. They still can’t transform themselves or realize miraculous abilities, either. This is a factor of the religious practice being incomplete.
SC 20“Cunda, a teacher leaves the world long after he left home, and his fame has become far-reaching. All his disciples receive his instruction and the complete religious practice. They reach a state of peace, obtain their own reward, and accept, discern, and promulgate his teaching. When different interpretations arise, they can eliminate them according to the teaching. They perfect transforming themselves and realize miraculous abilities. This is a factor of the religious practice being fulfilled.
SC 21“Cunda, a teacher leaves the world long after he left home, and his fame has become far-reaching, but his nuns have yet to receive his instructions. They’ve yet to reach a state of peace, obtain their own reward, or accept, discern, and promulgate his teaching. When different interpretations arise, they can’t eliminate them with the teaching. They still can’t transform themselves or realize miraculous abilities, either. This is a factor of the religious life being incomplete.
SC 22“Cunda, a teacher leaves the world long after he left home, and his fame has become far-reaching. All his nuns receive his instruction and the complete religious practice. They reach a state of peace, obtain their own reward, and accept, discern, and promulgate his teaching. When different interpretations arise, they can eliminate them according to the teaching. They perfect transforming themselves and realize miraculous abilities. This is a factor of the religious practice being completely fulfilled.
SC 23“Cunda, laymen and laywomen widely cultivate his religious practice … transform themselves and realize miraculous abilities in the same way.
SC 24“Cunda, suppose a teacher isn’t present in the world, they don’t have any fame, and offerings are limited. This is a factor of the religious practice being unfulfilled.
SC 25“Suppose a teacher is present in the world, they’re famous, and offerings are fully provided without any limitations. This is a factor of the religious practice being fulfilled.
SC 26“Suppose a teacher is present in the world, they’re famous, and offerings are fully provided, but the monks don’t possess fame or offerings. This is a factor of the religious practice being incomplete.
SC 27“Suppose a teacher is present in the world, they’re famous, and offerings are fully provided without limitations, and the assembly of monks also possesses these things. This is a factor of the religious practice being fulfilled. It’s the same with the assembly of nuns.
SC 28“Cunda, I left home long ago, and my fame is widespread. My monks have received my instruction, reached a state of peace, obtained their own reward, and can accept and explain the teaching for other people. When different interpretations arise, they can eliminate them according to the teaching. They transform themselves and fully realize miraculous abilities. The monks, nuns, laymen, and laywomen are the same.
SC 29“Cunda, I’ve widely promulgated the religious practice in each way … transforming myself and fully realizing miraculous abilities. Cunda, of all the teachers in the world, I don’t see any of them who have attained fame and offerings like myself, the Tathāgata, Arhat, and Completely Awakening One.
SC 30“Cunda, of the followers in the world, I don’t see any with fame and offerings like my assembly.
SC 31“Cunda, to tell the truth, I should say that I see what can’t be seen. How do I see what can’t be seen? All whose religious practice is pure, complete, plainly explained, and widely known are said to see what can’t be seen.”
SC 32The Bhagavān then told the monks, “Udraka Rāmaputra made this statement to a large assembly: ‘There is what’s seen and not seen. What is called the seen and not seen? It’s like a knife that can be seen, and a sword that cannot be seen.’ Monks, Rāmaputra made that metaphor with the ignorant words of ordinary people.
SC 33“Thus, Cunda, to tell the truth, I should say I see what’s not seen. What is seen and not seen? You should correctly say, ‘All whose religious practice is pure, complete, plainly explained, and widely known see what can’t be seen.’
SC 34“Cunda, a continuous teaching that’s incomplete can be found, but a discontinued teaching that’s complete can’t be found. Cunda, among teachings, the religious practice is like the ghee that’s in butter.”
Staying Unified and Resolving Disputes
SC 35The Bhagavān then told the monks, “I’ve personally realized this teaching, namely the four abodes of mindfulness, four miraculous abilities, four mental disciplines, four dhyānas, five faculties, five powers, seven factors of awakening, and the noble eightfold path. All of you are united and don’t start disputes. You have the same teacher and teaching, the same water and milk. You must light yourselves with the Tathāgata’s correct teaching and delight in becoming peaceful.
SC 36“Once you’ve become peaceful, suppose some monk is teaching Dharma, and another says, ‘That statement isn’t correct, and his meaning isn’t correct.’
SC 37“A monk who hears him can’t say he’s right or wrong. He should say to that monk, ‘How is it, good man? I would say it this way, and you say it that way. My meaning is this, and your meaning is that. Which is better? Which is worse?’
SC 38“Suppose that monk replies, ‘I say it this way, and my meaning is this. You say it that way, and your meaning is that. Your statement is better, and your meaning is better, too.’
SC 39“The monk who says this also can’t be found to be right or wrong. You should admonish, rebuke, and stop that monk. You should then investigate the matter together. Thus, all of you will be united without starting disputes. You have the same teacher and teaching, the same water and milk. You should light yourselves with the correct teaching of the Tathāgata and delight in becoming peaceful.
SC 40“Once you’ve become peaceful, suppose a monk is teaching Dharma, and another says, ‘That statement isn’t correct, but his meaning is correct.’
SC 41“A monk who hears him can’t say he’s right or wrong. He should say to that monk, ‘How is it, monk? I say it this way, and you say it that way. Which is correct, and which is wrong?’
SC 42“Suppose that monk replies, ‘I say it this way, and you say it that way. Your statement is better.’
SC 43“A monk who says this also can’t be said to be right or wrong. You should admonish, rebuke, and stop that monk. You should investigate the matter together. Thus, all of you will be united without starting disputes. You have the same teacher and teaching, the same water and milk. You should light yourselves with the correct teaching of the Tathāgata and delight in becoming peaceful.
SC 44“Once you’ve become peaceful, suppose a monk is teaching Dharma, and another monk makes the statement, ‘That statement is correct, but his meaning isn’t correct.’
SC 45“A monk who hears him can’t say that he’s right or wrong. You should say to him, ‘How is it, monk? My meaning is this, and your meaning is that. Which is right, and which is wrong?’
SC 46“Suppose he replies, ‘My meaning is this, and your meaning is that. Your meaning is better.’
SC 47“When a monk says that, he can’t be said to be right or wrong. You should admonish, rebuke, and stop that monk. You should investigate the matter together. Thus, all of you will be united without starting disputes. You have the same teacher and teaching, the same water and milk. You should light yourselves with the correct teaching of the Tathāgata and delight in becoming peaceful.
SC 48“Once you’ve become peaceful, suppose a monk is teaching Dharma, and another monks makes the statement, ‘That statement is correct, and his meaning is correct.’
SC 49“A monk who hears him can’t say that he’s right or wrong. You should commend him by saying, ‘What you say is right! What you say is right!’
SC 50“Therefore, monks, realize for yourself what’s in the twelve divisions of the sutras, and widely promulgate it. They are the sutras, songs, assurances, verses, inspirations, past events, past births, histories, extensive sutras, unprecedented things, parables, and explanations. You should skillfully preserve, assess, investigate, and widely promulgate them.
The Allowance of Requisites
SC 51“Monks, the robes that I allow are robes from cemeteries, robes from prominent people, or crude robes. These robes are sufficient for warding off cold, heat, and biting insects, and they’re enough to cover your four limbs.
SC 52“Monks, the food that I allow is solicited food or a householder’s food. This food is sufficient for your body or troubles. When the myriad ailments become severe, they become a source of anxiety until death, so I permit you this food. Be satisfied with that.
SC 53“Monks, the abodes that I allow are under a tree, out in the open, in a room, in a hall, or in a cave. If you live in these various abodes, be satisfied with them. They ward off the cold, heat, wind, rain, and biting insects. Abide under them in quiet repose.
SC 54“Monks, the medicines that I allow are urine, feces, cream, oil, honey, or rock honey. Be satisfied with these medicines. If your body is troubled by pains, then I permit these medicines when the myriad ailments become severe and cause anxiety until death.”
Pleasures the Buddha Doesn’t Approve
SC 55The Buddha said, “Some wanderers of other religions come and say, ‘The ascetic Śākyans themselves enjoy many pleasures.’
SC 56“When they say this, you should thus reply, ‘You shouldn’t say that the ascetic Śākyans themselves enjoy many pleasures. Why is that? When someone enjoys pleasures, the Tathāgata rebukes them. When someone enjoys pleasures, the Tathāgata commends them.’
SC 57“Suppose that wanderer from another religion asks, ‘The enjoyment of which pleasures does Gautama rebuke?’
SC 58“If they were to ask that, you should reply, ‘The qualities of the five desires are lovely and enjoyable, so people are addicted to them. What are the five? The eye perceives form that’s lovely and enjoyable, so people are addicted to it. The ear hears sound … nose smells odor … tongue tastes flavor … body feels contact that’s lovely and enjoyable, so people are addicted to it.
SC 59“‘Good men, even though these five desires are conditions for joy and happiness, they are rebuked by the Tathāgata, Arhat, and Completely Awakened One. Even though people enjoy killing sentient beings, it’s rebuked by the Tathāgata, Arhat, and Completely Awakened One. Even though people enjoy robbing and stealing from others, it’s rebuked by the Tathāgata. Even though people enjoy violating the religious life, it’s rebuked by the Tathāgata. Even though people enjoy making false statements, it’s rebuked by the Tathāgata. Even though people are unrestrained and self-indulgent, it’s rebuked by the Tathāgata. Even though people enjoy practicing the ascetic practices of other religions and not the correct practices taught by the Tathāgata, it’s rebuked by the Tathāgata.’
SC 60“Monks, I rebuke the qualities of the five desires that make people addicted to them. What are the five? The eye perceives form that’s lovely and enjoyable, so people are addicted to it. The ear hears sound … nose smells odor … tongue tastes flavor … body feels contact that’s lovely and enjoyable, so people are addicted to it.
SC 61“The ascetic Śākyans take no pleasures like these. Even though some people enjoy killing sentient beings, the ascetic Śākyans take no such pleasure. Even though some people enjoy stealing from others, the ascetic Śākyans take no such pleasure. Even though some people enjoy violating the religious life, the ascetic Śākyans take no such pleasure. Even though some people enjoy making false statements, the ascetic Śākyans take no such pleasure. Even though some people are unrestrained and self-indulgent, the ascetic Śākyans take no such pleasure. Even though some people enjoy practicing the ascetic practices of other religions, the ascetic Śākyans take no such pleasure.
Pleasures the Buddha Does Approve
SC 62“Suppose that wanderer of another religion asks this question, ‘The enjoyment of which pleasures does the ascetic Gautama commend?’
SC 63“Monks, if they were to ask this, you should answer them: ‘Good men, there are the qualities of the five desires that are lovely and enjoyable, so people are addicted to them. What are the five? The eye perceives form … body feels contact that’s lovely and enjoyable, so people are addicted to it.
SC 64“‘Good men, the five desires are conditions that give rise to pleasure and must be quickly eliminated. Even though some people enjoy killing sentient beings, such pleasure should be quickly eliminated. Even though some people enjoy stealing, such pleasure should be quickly eliminated. Even though some people enjoy violating the religious life, such pleasure should be quickly eliminated. Even though some people enjoy making false statements, such pleasure should be quickly eliminated. Even though some people are unrestrained and self-indulgent, such pleasure should be quickly eliminated. Even though some people enjoy practicing the ascetic practices of other religions, such pleasure should be quickly eliminated.
SC 65“‘Some people seclude themselves from desire and aren’t subject to any more evil things. With perception and examination, seclusion gives rise to joy and happiness, and they enter the first dhyāna. Such pleasure is commended by the Buddha.
SC 66“‘Some people cease their perception and examination. With inner joy, unified mind, and no perception or examination, samādhi gives rise to joy and happiness, and they enter the second dhyāna. Such pleasure is commended by the Buddha.
SC 67“‘Some people discard joy and enter equanimity. They personally know their own happiness that’s sought by noble people. With equanimity, mindfulness, and unified mind, they enter the third dhyāna. Such pleasure is commended by the Buddha.
SC 68“‘Some people’s pleasure and pain ends, and their prior sorrow and joy subsides. Not discomforted or happy, they are equanimous, mindful, and pure, and they enter the fourth dhyāna. Such pleasure is commended by the Buddha.’
The Benefits of the Pleasures the Buddha Approves
SC 69“Suppose that wanderer of another religion asks this question, ‘How many fruits and virtues do you seek from these pleasures?’
SC 70“You should answer them, ‘These pleasures will have seven fruits and virtues. What are the seven? In the present life, one achieves the realization of awakening. Even if one doesn’t achieve it, they will achieve it right before their life ends. If they don’t achieve it before their life ends, then they will end the five lower bonds and Parinirvāṇa in the interim, Parinirvāṇa at birth, Parinirvāṇa with practice, Parinirvāṇa without practice, or Parinirvāṇa upstream in Akaniṣṭha. Good men, these are the seven virtues of these pleasures.
SC 71“‘Good men, if a monk in training desires to do the above, he’ll look for a peaceful place before eliminating five hindrances. What are the five? The hindrances of desire, anger, sleepiness, agitation, and doubt. If a trainee monk seeks the above place of safety before ceasing the five hindrances, he won’t be capable of diligently cultivating the four abodes of mindfulness or the seven factors of awakening. Attaining the state of the superior man and developing noble wisdom will be impossible for someone seeking to know and see them.
SC 72“‘Good men, suppose a trainee monk seeks the above place of peace and can cease the five hindrances, which are the hindrances of desire, anger, sleepiness, agitation, and doubt. He can also diligently cultivate the four abodes of mindfulness and seven factors of awakening. Attaining the state of the superior man and developing noble wisdom will then be possible for someone seeking to know and see them.
SC 73“‘Good men, suppose there’s a monk, an arhat who’s ended the contaminants. He has accomplished the task, put down the heavy burden, won his own reward, and ended the bonds of existence. He’s liberated by right knowledge and doesn’t do nine things. What are the nine? He doesn’t kill, steal, engage in sex, make false statements, abandon the path, follow desire, follow anger, follow fear, or follow delusion.
SC 74“‘Good men, this is an arhat who has ended the contaminants, accomplished the task, put down the heavy burden, won his own reward, and ended the bonds of existence. He’s liberated by right knowledge and avoids nine things.’
The Śākyan Teaching Is Always Steady
SC 75“Some wanderers of other religions make the statement, ‘The ascetic Śākyans have an unsteady teaching.’
SC 76“You should respond to them, ‘Good men, don’t say that the ascetic Śākyans have a teaching that’s unsteady. Why is that? The teaching of ascetic Śākyans is always steady and immovable. It’s like a gate’s threshold that’s always steady and unmoved. The ascetic Śākyans are likewise. Their teaching is always steady without any movement.’
The Buddha’s Knowledge of the Future
SC 77“Some wanderers of other religions make the statement, ‘The ascetic Gautama entirely knows about past lives, but he doesn’t know the future.’
SC 78“Monks, the knowledge of those wanderers of different trainings is different, and their examination of knowledge is also different. That statement is false. There’s nothing in the past that the Tathāgata doesn’t know and see like seeing it with his own eyes. His knowledge about future lives arose with the knowledge of awakening.
SC 79“When past lives are false, unreal, not worth enjoying, or aren’t beneficial, the Buddha doesn’t relate them. If past lives are real but aren’t worth enjoying or beneficial, the Buddha doesn’t relate them. If past lives are real and worth enjoying but aren’t beneficial, the Buddha doesn’t relate them, either. If past lives are real, worth enjoying, and beneficial, the Tathāgata entirely knows them and relates them afterward. The future and present are likewise.
SC 80“The Tathāgata’s discourses about the past, future, and present are timely, truthful, meaningful, profitable, about Dharma, about discipline, and without any falsehood. From the first night after the Buddha achieved complete awakening to the last night, everything he says in the meantime is true. That’s why he’s called the Tathāgata.
SC 81“Furthermore, what the Tathāgata says is according to the subject, and the subject is as he describes it. Therefore, he’s called the Tathāgata. What’s the meaning of his being called the Completely Awakened One? The Buddha entirely comprehends what he knows and sees, what he ceased, and what he realized. Therefore, he’s called the Completely Awakened One.
Views about the Past and Future
SC 82“Some wanderers of other religions make the statement, ‘The world is eternal. Only this is true; the rest is false.’ Others say, ‘The world is impermanent. Only this is true; the rest is false.’ Others say, ‘The world is eternal and impermanent. Only this is true; the rest is false.’ Others say, ‘The world is neither eternal nor impermanent. Only this is true; the rest is false.’
SC 83“Others say, ‘The world is limited. Only this is true; the rest is false.’ Others say, ‘The world is limitless. Only this is true; the rest is false.’ Others say, ‘The world is limited and limitless. Only this is true; the rest is false.’ Others say, ‘The world is neither limited nor limitless. Only this is true; the rest is false.’
SC 84“Others say, ‘The soul is the body. This is true; the rest is false.’ Others say, ‘This is neither the soul nor the body. This is true; the rest is false.’ Others say, ‘The soul is different than the body. This is true; the rest is false.’ Others say, ‘This isn’t different than the soul or the body. This is true; the rest is false.’
SC 85“Others say, ‘The Tathāgata has an end. This is true; the rest is false.’ Others say, ‘The Tathāgata doesn’t end. This is true; the rest is false.’ Others say, ‘The Tathāgata ends and doesn’t end. This is true; the rest is false.’ Others say, ‘The Tathāgata neither ends nor doesn’t end. This is true; the rest is false.’
SC 86“Those views are called ‘views about the past.’ Now, I’ll explain this for you: ‘This world is eternal … the Tathāgata neither ends nor doesn’t end. Only this is true; the rest is false.’ These are views about the past. I will explain it for you.
SC 87“There are views about the future that I also explain. Which of these views about the future do I explain? ‘The self is form. Its end comes from conception. This is true; the rest is false.’ ‘The self is formless. Its end comes from conception …’ ‘The self is form and formless. Its end comes from conception …’ ‘Self is neither form nor formless. Its end comes from conception …’
SC 88“‘The self is limited …’ ‘The self is limitless …’ ‘The self is limited and limitless …’ ‘The self is neither limited nor limitless. Its end comes from conception …’
SC 89“‘The self is pleasure. Its end comes from conception …’ ‘The self is without pleasure. Its end comes from conception …’ ‘The self has pain and pleasure. Its end comes from conception …’ The self has no pain or pleasure. Its end comes from conception …’
SC 90“‘The self is a single concept. Its end comes from conception …’ ‘The self is diverse concepts. Its end comes from conception …’ ‘The self is conceived as little. Its end comes from conception …’ ‘The self is conceived as measureless. Its end comes from conception. This is true; the rest is false.’ These are the wrong views that are views about the future, which I have explained them.
SC 91“Some ascetics and priests have such theories and such views: ‘This world is eternal. This is true; the rest is false … Self is conceived as measureless. This is true; the rest is false.’ Those ascetics and priests also make such statements and such views: ‘This is true; the rest is false.’
SC 92“The response to that should be, ‘You really have made this theory? How is this world eternal? How is this true, and the rest is false? Such statements as these aren’t permitted by the Buddha.’ Why is that? In each of these views, there is bondage. It’s reasonable to conclude there are no ascetics or priests that are our equals. How could they surpass us? These wrong views are just words that I don’t discuss with you. Each one up to ‘Self is conceived as measureless,’ is likewise.
Views about the World’s Creation
SC 93“Some ascetics and priests make this statement, ‘The world created itself.’ Other ascetics and priests say, ‘The world was created by another.’ Others say, ‘It was created by itself and another.’ Others say, ‘It was neither created by itself nor by another. It spontaneously came into existence.’
SC 94“There are those ascetics and priests who say, ‘The world created itself.’ These ascetics and priests do so as a result of the dependent origination of contact. If they were separated from the causes of contact, saying that would be impossible. Why is that? Contact arises from the body of six senses. Feeling arises from contact. Craving arises from feeling. Grasping arises from craving. Existence arises from grasping. Birth arises from existence. Old, death, grief, sorrow, pain, and trouble arise from birth. This is the formation of the great mass of suffering.
SC 95“If the body of six senses doesn’t exist, then there’s no contact. If there’s no contact, there’s no feeling. If there’s no feeling, there’s no craving. If there’s no craving, there’s no grasping. If there’s no grasping, there’s no existence. If there’s no existence, there’s no birth. If there’s no birth, there are no old age, death, grief, sorrow, pain, and trouble, or the formation of that great mass of suffering.
SC 96“They also say, ‘This world is created by another.’ They also say, ‘This world is created by itself and by another.’ They also say, ‘This world is neither created by itself nor by another. It comes into existence spontaneously.’ These views are the same. They exist because of contact. Without contact, they wouldn’t exist.”
How to Cease Such Wrong Views
SC 97The Buddha told the monks, “If you want to cease these wrong and evil views, you should cultivate the four abodes of mindfulness in three ways. In which three ways should a monk cultivate the four abodes of mindfulness to cease these evil things?
SC 98“A monk observes internal body as body. He’s diligent and not negligent. His attention to it isn’t lost, and he removes worldly craving and sorrow. He observes external body as body. He’s diligent and not negligent. His attention to it isn’t lost, and he removes worldly craving and sorrow. He observes internal and external body as body. He’s diligent and not negligent. His attention to it isn’t lost, and he removes worldly craving and sorrow. He observes feeling, mind, and principles in the same way. This is ceasing the myriad evil things by cultivating the four abodes of mindfulness in three ways.
SC 99“There are eight liberations. What are the eight? He observes form as form. This is the first liberation. He observes external form without an internal perception of form. This is the second liberation. He’s liberated by purity. This is the third liberation. He goes beyond notions of form, ceases notions of resistance, and abides in the abode of space. This is the fourth liberation. He discards the abode of space and abides in the abode of consciousness. This is the fifth liberation. He discards the abode of consciousness and abides in the abode of nothingness. This is the sixth liberation. He discards the abode of nothingness and abides in the abode with and without conception. This is the seventh liberation. The samādhi of complete cessation is the eighth liberation.”
SC 100Ānanda was at the time standing behind the Bhagavān holding a fan. He adjusted his robes to bare his right shoulder and knelt on his right knee. With his palms together, he said to the Buddha, “Amazing, Bhagavān! This teaching is pure, sublime, and supreme! What shall be its name? How shall we uphold it?”
SC 101The Buddha told Ānanda, ‘This sutra’s name is ‘Purity.’ You should uphold it as ‘Purification.’”
SC 102When Ānanda heard what the Buddha taught, he rejoiced and approved.
Tôi nghe như vầy:
Một thời, Phật ở tại nước Ca-duy-la-vệ, trong khu rừng của Ưu-bà-tắc Miên-kỳ, cùng với chúng đại Tỳ-kheo một ngàn hai trăm năm mươi người.
Bấy giờ, có sa-di Châu-na, ở tại nước Ba-ba, sau an cư mùa hạ, cầm y bát, đi lần đến nước Ca-duy-la-vệ, trong vườn Miên-kỳ; đến chỗ A-nan, cúi đầu lễ dưới chân, rồi đứng sang một bên, bạch A-nan rằng:
“Có Ni-kiền Tử trong thành Ba-ba, chết chưa bao lâu, mà các đệ tử của ông đã chia làm hai phe. Họ tranh chấp nhau, trực diện mắng chửi nhau, không còn phân biệt trên dưới; tỳm tòi khuyết điểm của nhau, ganh đua kiến thức với nhau rằng: ‘Ta có thể biết điều này; ngươi không thể biết điều này. Hành động của ta chân chính, còn ngươi là tà kiến. Ngươi đặt cái trước ra sau; để cái sau ra trước; điên đảo, thác loạn, không có phép tắc. Những điều ta làm thật là vi diệu. Những điều ngươi nói thì sai lầm. Ngươi có điều gì nghi ngờ, cứ hỏi ta.’ Bạch Đại đức A-nan, bấy giờ, những người thờ Ni-kiền Tử trong nước này nghe những tranh tụng như vậy sinh lòng chán ghét.”
A-nan nói với sa-di Châu-na:
“Ta có điều muốn bạch Thế Tôn. Ngươi hãy đi với ta, trình bày Thế Tôn về sự việc này. Nếu Thế Tôn có răn dạy điều gì, chúng ta hãy cùng phụng hành.”
Rồi thì, sa-di Châu-na sau khi nghe A-nan nói bèn cùng đi theo đến chỗ Thế Tôn. Sau khi cúi lạy dưới chân Thế Tôn, bèn đứng sang một bên. Lúc bấy giờ, A-nan bạch Thế Tôn rằng:
“Sa-di Châu-na này, sau an cư mùa hạ ở nước Ba-ba, cầm y bát, đi lần đến đây. Sau khi đảnh lễ dưới chân con, nói với con rằng: ‘Có Ni-kiền Tử trong thành Ba-ba, chết chưa bao lâu, mà các đệ tử của ông đã chia làm hai phe. Họ tranh chấp nhau, trực diện mắng chửi nhau, không còn phân biệt trên dưới; tỳm tòi khuyết điểm của nhau, ganh đua kiến thức với nhau rằng: ‘Ta có thể biết điều này; ngươi không thể biết điều này. Hành động của ta chân chính, còn ngươi là tà kiến. Ngươi đặt cái trước ra sau; để cái sau ra trước; điên đảo, thác loạn, không có phép tắc. Những điều ta làm thật là vi diệu. Những điều ngươi nói thì sai lầm. Ngươi có điều gì nghi ngờ, cứ hỏi ta.’ Bấy giờ, những người thời Ni-kiền Tử trong nước này nghe những tranh tụng như vậy sinh lòng chán ghét.’”
Thế Tôn nói với Châu-na:
“Quả vậy, Châu-na, trong phi pháp ấy không có gì đáng để nghe. Đó không phải là những điều được nói bởi một vị Chánh Đẳng Chánh Giác. Cũng như ngôi tháp đổ nát, khó có thể tô trét. Kia tuy có thầy, nhưng thảy đều ôm giữ tà kiến. Tuy có pháp, nhưng thảy đều không chân chánh, không đáng để nghe theo, không có khả năng xuất ly, không phải là những điều được nói bởi Chánh Đẳng Chánh Giác. Cũng như ngôi tháp đổ nát không thể tô trét được nữa vậy.
“Trong số các đệ tử của vị ấy có người không thuận theo pháp ấy, dứt bỏ tà kiến ấy, đi theo chánh kiến. Châu-na, nếu có người đến nói với các đệ tử ấy rằng: ‘Này Chư Hiền, pháp của thầy ông là chân chánh, nên tu hành trong pháp ấy, sao lại bỏ đi?’ Nếu người đệ tử này mà tin lời ấy, thì cả hai đều thất đạo, mắc tội vô lượng. Vì sao vậy? Kia tuy có pháp, nhưng không chân chánh.
“Châu-na, nếu thầy không tà kiến, và pháp ấy chân chánh, có thể khéo léo nghe theo, có khả năng xuất yếu, là pháp được nói bởi ChánhĐẳng Chánh Giác. Cũng như ngôi tháp mới có thể dễ dàng tô trét. Nhưng nếu các đệ tử, ở trong pháp ấy, không tinh cần tu tập, không thể thành tựu, bỏ con đường bình đẳng, đi vào tà kiến. Nếu có người đến nói với các đệ tử ấy rằng: ‘Này Chư Hiền, pháp của thầy các người là chân chánh, nên ở trong đó mà tu hành, sao lại bỏ đi mà đi vào tà kiến?’ Các đệ tử ấy nếu tin lời ấy, thì cả hai đều thấy chân chánh, được phước vô lượng. Vì sao vậy? Vì pháp ấy chân chánh.”
Phật bảo Châu-na:
“Những người kia tuy có thầy, nhưng ôm giữ tà kiến. Tuy cũng có pháp, nhưng thảy đều không chân chánh, không có khả năng xuất yếu, không phải là pháp được thuyết bởi Chánh Đẳng Chánh Giác. Cũng như ngôi tháp đổ nát không thể tô trét. Các đệ tử kia thành tựu pháp tùy pháp, tùy thuận theo mà tu hành, nhưng lại khởi tà kiến. Châu-na, nếu có người đến nói đệ tử ấy rằng: ‘Pháp của thầy ngươi là chân chánh. Điều ngươi làm là đúng. Nay ngươi tu hành cần khổ như vậy, có thể ở trong đời này ngươi sẽ thành tựu đạo quả.’ Các đệ tử kia tin lời ấy, thì cả hai đều thất đạo, mắc tội vô lượng. Vì sao vậy? Vì pháp không chân chánh vậy.
“Này Châu-na, nếu bậc thầy không tà kiến; pháp của vị ấy chân chánh, có thể khéo léo nghe theo, có khả năng xuất ly, là pháp được thuyết bởi Chánh Đẳng Chánh Giác. Cũng như ngôi tháp mới thì dễ tô trét. Nay đệ tử của vị ấy thành tựu pháp tùy pháp, tùy thuận tu hành mà sanh chánh kiến. Nếu có người đến nói với các đệ tử ấy rằng: ‘Pháp của thầy ngươi là chân chánh. Sở hành của ngươi là đúng. Nay cần khổ tu hành như vậy, có thể ở trong đời này mà thành tựu đạo quả.’ Các đệ tử kia tin lời ấy, cả hai đều chánh kiến, được phước vô lượng. Vì sao vậy? Vì pháp ấy chân chánh.
“Này Châu-na, hoặc có bậc Đạo sư xuất thế khiến cho các đệ tử buồn rầu. Hoặc có Đạo sư xuất thế khiến các đệ tử không ưu sầu.
“Thế nào là Đạo sư xuất thế khiến các đệ tử sinh ưu sầu?
“Này Châu-na! Đạo sư mới xuất hiện thế gian, thành Đạo chưa lâu, pháp của vị ấy đầy đủ phạm hạnh thanh tịnh, như thật chơn yếu nhưng không được phân bố rộng khắp, rồi vị Đạo sư ấy lại chóng diệt độ. Các đệ tử vì thế không được tu hành, thảy đều ưu sầu mà nói rằng: ‘Thầy vừa mới xuất thế, thành Đạo chưa lâu, pháp của Thầy đầy đủ phạm hạnh thanh tịnh, như thật chơn yếu, nhưng rốt cùng lại không được phân bố rộng khắp, mà nay Đạo sư lại nhanh chóng diệt độ, khiến cho đệ tử chúng ta không được tu hành.’ Đấy là có vị Đạo sư xuất thế nhưng đệ tử lại ưu sầu.
“Thế nào là Đạo sư xuất thế, đệ tử không ưu sầu?
“Có vị Đạo sư xuất thế, pháp của vị ấy thanh tịnh, đầy đủ phạm hạnh, như thật chơn yếu, lại được lưu bố rộng rãi, rồi sau đó mới vào diệt độ. Các đệ tử vì thế mà được tu hành, không ưu sầu, mà nói rằng: ‘Thầy mới xuất hiện thế gian, thành Đạo chưa lâu, pháp của Thầy thanh tịnh, đầy đủ phạm hạnh, như thật chơn yếu, lại được lưu bố rộng rãi, rồi sau đó mới vào diệt độ, khiến cho đệ tử chúng ta thảy đều được tu hành.’ Này Châu-na, như vậy, Đạo sư xuất thế, đệ tử không ưu sầu.”
Phật lại bảo Châu-na:
“Phạm hạnh thành tựu với những chi này, nhưng Đạo sư xuất thế mà xuất gia chưa bao lâu, danh tiếng chưa rộng, đó gọi là phạm hạnh chưa đầy đủ với chi này. Này Châu-na! Đạo sư xuất thế mà xuất gia đã lâu, danh tiếng đã rộng rãi, đó gọi là phạm hạnh đầy đủ với chi này.
“Này Châu-na, Đạo sư xuất thế, xuất gia đã lâu, danh tiếng đã rộng, nhưng các đệ tử chưa nhận được sự dạy dỗ, chưa đầy đủ phạm hạnh, chưa đến nơi an ổn, chưa đạt được mục đích của mình, chưa thể phân bố diễn thuyết pháp đã được thọ lãnh; nếu có dị luận nổi lên thì không thể như pháp mà diệt, chưa chứng đắc thần thông có khả năng biến hóa. Đó là phạm hạnh chưa đầy đủ với chi này.
“Này Châu-na! Đạo sư xuất thế, xuất gia đã lâu, danh tiếng đã rộng, mà các đệ tử thảy đều chịu giáo huấn, phạm hạnh đầy đủ, đã đến nơi an ổn, đã đạt được mục đích của mình, lại có thể phân biệt diễn thuyết pháp được lãnh thọ; nếu có dị luận khởi thì có thể như pháp mà diệt, đã chứng đắc thần thông có khả năng biến hóa đầy đủ. Đó là phạm hạnh đầy đủ với chi này.
“Này Châu-na! Đạo sư xuất thế, xuất gia chưa lâu, danh tiếng chưa rộng, các Tỳ-kheo ni chưa nhận được sự dạy dỗ, chưa đến chỗ an ổn, chưa đạt được mục đích của mình, chưa thể phân bố diễn thuyết pháp đã được lãnh thọ; nếu có dị luận khởi lên chưa thể như thật diệt trừ bằng Chánh pháp, chưa chứng đắc thần thông có khả năng biến hóa. Đó là phạm hạnh chưa đầy đủ với chi này.
“Này Châu-na! Đạo sư xuất thế, xuất gia đã lâu, danh tiếng đã rộng, các Tỳ-kheo ni thảy đều nhận được giáo huấn, phạm hạnh đầy đủ, đã đến nơi an ổn, có thể phân biệt diễn thuyết pháp đã lãnh thọ; nếu có dị luận khởi lên thì như pháp mà trừ diệt, đã chứng đắc thần thông có khả năng biến hóa. Đó là phạm hạnh đầy đủ với chi này.
“Này Châu-na! Các Ưu bà tắc, Ưu bà di rộng tu phạm hạnh... cho đến... đã chứng đắc thần thông có khả năng biến hóa, cũng vậy.
“Này Châu-na, nếu Đạo sư không còn ở đời, không có danh tiếng, sự lợi dưỡng tổn giảm; đó là phạm hạnh không đầy đủ với chi này. Nếu Đạo sư tại thế, danh tiếng và lợi dưỡng đều có đủ, không có tổn giảm; đó là phạm hạnh đầy đủ với chi này.
“Nếu Đạo sư còn ở đời, danh tiếng và lợi dưỡng thảy đều đầy đủ, nhưng các Tỳ-kheo không thể đầy đủ danh tiếng và lợi dưỡng; đó là phạm hạnh không đầy đủ với chi này. Nếu Đạo sư tại thế, danh tiếng và lợi dưỡng đầy đủ không tổn giảm, chúng các Tỳ-kheo cũng đầy đủ như vậy; đó là phạm hạnh đầy đủ với chi này.
“Chúng Tỳ-kheo ni cũng vậy.
“Châu-na, Ta xuất gia đã lâu, danh tiếng rộng xa, các Tỳ-kheo của Ta đã nhận lãnh giáo huấn, đã đến chỗ an ổn, đã tự mình đạt được mục đích, lại có thể nói cho người khác pháp đã lãnh thọ; nếu có dị luận khởi lên có thể như pháp mà diệt, đã chứng đắc thần thông có khả năng biến hóa. Các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, ưu-bà-tắc, ưu-bà-di, cũng vậy.
“Châu-na, Ta đã lưu bố rộng rãi phạm hạnh... cho đến, đã chứng đắc thần thông có khả năng biến hóa.
“Này Châu-na! Hết thảy Đạo sư trong thế gian, không thấy có ai có danh tiếng và lợi dưỡng như Ta, Như Lai, Chí Chân, Đẳng Chánh Giác.
“Này Châu-na, hết thảy đồ chúng có trong thế gian, không thấy ai có danh tiếng và lợi dưỡng như chúng của Như Lai.
“Châu-na, nếu muốn nói cho chân chánh, thì nên nói ‘thấy mà không thấy.’ Thế nào là thấy mà không thấy? Hết thảy phạm hạnh thanh tịnh cụ túc, đã được tuyên thuyết, được lưu bố hiển thị. Đó gọi là thấy mà không thấy.”
Rồi thì, đức Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:
“Uất-đầu-lam Tử, ở giữa đại chúng, nói như vậy: ‘Thấy mà không thấy. Thế nào là thấy mà không thấy? Như có thể thấy con dao nhưng không thể thấy sự bén nhọn.’ Này các Tỳ-kheo, vị ấy chỉ dẫn lời nói không nhận thức của phàm phu mà ví dụ. Như vậy, này Châu-na, nếu muốn nói một cách chân chánh, nên nói: ‘Thấy mà không thấy.’ Thế nào là thấy mà không thấy? Ngươi cần phải nói một cách chân chánh rằng: ‘Hết thảy phạm hạnh thanh tịnh đầy đủ, được tuyên thị, lưu bố. Đó là thấy mà không thấy.’
“Này Châu-na, pháp tương tục kia không đầy đủ nhưng có thể đạt được. Pháp không tương tục kia tuy đầy đủ nhưng không thể đạt được. Này Châu-na, phạm hạnh trong các pháp, là đề hồ trong các thứ tô lạc.”
Rồi Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:
“Những pháp này mà Ta đã tự thân tác chứng, đó là bốn niệm xứ, bốn thần túc, bốn chánh cần, bốn thiền, năm căn, năm lực, bảy giác chi, tám đạo Hiền Thánh. Các ngươi tất cả hãy cùng hòa hiệp chớ sanh tranh cãi. Cùng theo học một Thầy, cũng như nước và sữa hòa một, ở trong Chánh pháp của Như Lai, hãy tự thắp sáng cho mình, nhanh chóng được an lạc. Sau khi đã được an lạc, nếu có Tỳ-kheo nào, trong lúc có Tỳ-kheo đang thuyết pháp, mà nói rằng: ‘Điều được nói của vị kia, văn cú không chánh; nghĩa lý không chánh.’ Tỳ-kheo nghe như thế không nên nói đấy là đúng, cũng không nên nói đấy là sai, mà hãy nói với Tỳ-kheo ấy rằng: ‘Thế nào, Chư Hiền? Câu của tôi như vậy. Câu của các ngài như vậy. Nghĩa của tôi như vậy. Nghĩa của các ngài như vậy. Cái nào hơn? Cái nào kém?’ Nếu Tỳ-kheo kia nói rằng: ‘Câu của tôi như vậy. Câu của ngài như vậy. Nghĩa của tôi như vậy. Nghĩa của ngài như vậy. Câu của ngài hơn. Nghĩa của ngài cũng hơn.’ Tỳ-kheo kia nói vậy, nhưng cũng chớ cho là đúng, cũng chớ cho là sai, mà nên can gián Tỳ-kheo ấy, nên khuyến cáo hãy từ bỏ, hãy cùng suy cầu. Như vậy, cùng nhau hòa hiệp, chớ sanh tranh chấp. Cùng một Thầy học, như sữa và nước hiệp nhất, ở trong Chánh pháp của Như Lai, hãy tự mình thắp sáng, chóng được an lạc.
“Sau khi đã an lạc, nếu có Tỳ-kheo nào trong khi có Tỳ-kheo đang thuyết pháp mà nói như vậy: ‘Điều mà vị ấy nói, văn cú không chánh, nhưng nghĩa thì chánh.’ Tỳ-kheo nghe như vậy, không nên nói đấy là đúng, cũng không nên nói đấy là sai, mà nên nói với Tỳ-kheo ấy rằng: ‘Thế nào, Tỳ-kheo? Câu của tôi như vậy. Câu của ngài như vậy. Câu nào đúng? Câu nào sai?’ Nếu Tỳ-kheo ấy nói: ‘Câu của tôi như vậy. Câu của ngài như vậy. Câu của ngài hơn.’ Tỳ-kheo kia nói như vậy, nhưng cũng không nên nói đấy là đúng, cũng không nên nói thế là sai, mà nên can gián Tỳ-kheo ấy, nên khuyến cáo hãy dứt bỏ, hãy cùng suy cầu. Như vậy tất cả cùng hòa hiệp, chớ sanh tranh chấp, đồng một Thầy học, như nước sữa hiệp nhất, ở trong Chánh pháp của Như Lai, hãy tự mình thắp sáng, nhanh chóng được an lạc.
“Sau khi đã an lạc, nếu có Tỳ-kheo nào trong khi có Tỳ-kheo đang thuyết pháp mà nói như vậy: ‘Điều mà vị kia nói, văn cú chánh, nhưng nghĩa không chánh.’ Tỳ-kheo nghe như vậy, không nên nói đấy là đúng, cũng không nên nói đấy là sai, mà nên nói với Tỳ-kheo ấy rằng: ‘Thế nào, Tỳ-kheo? Câu của tôi như vậy. Câu của ngài như vậy. Câu nào đúng? Câu nào sai?’ Nếu Tỳ-kheo ấy nói: ‘Câu của tôi như vậy. Câu của ngài như vậy. Câu của ngài hơn.’ Tỳ-kheo kia nói như vậy, nhưng cũng không nên nói đấy là đúng, cũng không nên nói thế là sai, mà nên can gián Tỳ-kheo ấy, nên khuyến cáo hãy dứt bỏ, hãy cùng suy cầu. Như vậy tất cả cùng hòa hiệp, chớ sanh tranh chấp, đồng một Thầy học, cùng hòa hiệp như nước với sữa, ở trong Chánh pháp của Như Lai, hãy tự mình thắp sáng, chóng được an lạc.
“Sau khi được an lạc, nếu có Tỳ-kheo trong khi có Tỳ-kheo đang thuyết pháp mà nói như vậy ‘Điều được thuyết kia, văn cú chánh, nghĩa chánh.’ Tỳ-kheo nghe như vậy, không nên nói là sai, mà hãy nên khen ngợi Tỳ-kheo ấy rằng: ‘Điều ngài nói là đúng. Điều ngài nói là đúng.’ Vì vậy, này Tỳ-kheo, trong mười hai bộ kinh hãy tự mình chứng nghiệm, rồi lưu bố rộng rãi. Một là Quán kinh. Hai là Kỳ-dạ kinh. Ba là Thọ ký kinh. Bốn là Kệ kinh. Năm là Pháp cú kinh. Sáu là Tương ưng kinh. Bảy là Bổn duyên kinh. Tám là Thiên bổn kinh. Chín là Quảng kinh. Mười là Vị tằng hữu kinh. Mười một là Thí dụ kinh. Mười hai là Đại giáo kinh. Các ngươi hãy khéo thọ trì, hãy tùy năng lực mà suy xét, phân bố rộng rãi.
“Này các Tỳ-kheo, y mà Ta quy định, hoặc y lấy từ bãi tha ma, hoặc y của trưởng giả, hoặc y xấu hèn; các thứ y ấy đủ để che nóng che lạnh, muỗi mòng; đủ để trùm kín bốn chi thể.
“Này các Tỳ-kheo, ẩm thực mà Ta quy định, hoặc thực phẩm do khất thực, hoặc từ cư sỹ; các loại thực phẩm ấy đủ no. Nếu thân thể khổ não, các bệnh hoạn bức thiết mình, sợ rằng có thể vì thế mà chết, cho nên Ta cho phép các loại thực phẩm ấy, để tri túc thì thôi.
“Này các Tỳ-kheo, trú xứ mà Ta quy định, hoặc dưới gốc cây, hoặc chỗ trống, hoặc ở trong phòng, hoặc trên lầu gác, hoặc trong hang, hoặc tại các trú xứ khác; các trú xứ ấy đủ để ngăn che nóng lạnh, che nắng, che mưa, muỗi mòng, cho đến chỗ vắng vẻ để nghỉ ngơi.
“Này các Tỳ-kheo, thuốc men mà Ta quy định, hoặc từ đại tiểu tiện, hoặc bơ, dầu, hoặc mật, đường đen; các thứ thuốc ấy tự đủ, nếu thân thể phát sanh đau nhức, các thứ bịnh hoạn bức thiết mình, sợ rằng có thể chết, cho nên Ta quy định các thứ thuốc ấy.”
Phật lại nói:
“Hoặc có Phạm-chí ngoại đạo đến nói điều này: ‘Sa-môn Thích tử sống chỉ cầu an lạc.’ Nếu có người nói như vậy, nên trả lời rằng: ‘Ông chớ nói như vậy, rằng Sa-môn Thích tử sống chỉ cầu lạc.’ Vì sao? Có thứ lạc trú bị Như Lai chê trách. Có thứ lạc trú được Như Lai khen ngợi. Nếu Phạm-chí ngoại đạo hỏi: ‘Thứ lạc trú bị Cù-đàm chê trách?’ Nếu có hỏi như vậy, nên trả lời rằng: ‘Năm phẩm chất của dục, đáng ưa đáng thích, mọi người đều đam mê. Thế nào là năm? Sắc được biết bới mắt, đáng ưa đáng thích, mọi người đều đam mê. Tiếng nghe bởi tai, hương ngửi bởi mũi, vị nếm bởi lưỡi, xúc cảm bởi thân, đáng ưa đáng thích, mọi người đều đam mê. Này Chư Hiền, hỷ lạc phát sanh do bởi duyên là năm dục, đó là điều mà Như Lai, Chí Chân, Đẳng Chánh Giác chê trách. Cũng như có người cố tỳnh sát hại chúng sanh, tự cho thế là lạc; đó là điều mà Như Lai, Chí Chân, Đẳng Chánh Giác chê trách. Cũng như có người lén lút trộm cắp của người, cho thế là lạc; đó là điều mà Như Lai chê trách. Cũng như có người xâm phạm tịnh hạnh của người khác, tự cho thế là lạc; đó là điều mà Như Lai chê trách. Cũng như có người cố ý nói dối, tự cho thế là lạc; đó là điều mà Như Lai chê trách. Cũng có người sống phóng đãng buông thả; đó là diều Như Lai chê trách. Cũng có người hành khổ hạnh bề ngoài, không phải là hành chân chánh mà Như Lai dạy, tự cho thế là lạc; đó là điều Như Lai chê trách.
“Này các Tỳ-kheo, năm phẩm chất của dục vốn đáng chê trách, mà mọi người tham đắm. Những gì là năm? Sắc được biết bới mắt, đáng ưa đáng thích, là cái mà con người tham đắm. Tiếng nghe bởi tai, hương ngửi bởi mũi, vị nếm bởi lưỡi, xúc cảm bởi thân, đáng ưa đáng thích, mọi người tham đắm. Sa-môn Thích tử không có những thứ lạc như vậy. Cũng như có người cố ý sát sanh, cho đó là lạc; Sa-môn Thích tử không có cái lạc như vậy. Cũng như có người trộm cướp, cho thế là lạc; Sa-môn Thích tử không có cái lạc như vậy. Cũng như có người phạm phạm hạnh, cho thế là lạc; Sa-môn Thích tử không có cái lạc như vậy. Cũng như người cố ý nói dối, cho đó là lạc; Sa-môn Thích tử không có cái lạc như vậy Cũng như có người phóng đãng buông trôi, cho thế là lạc; Sa-môn Thích tử không có cái lạc như vậy. Cũng như có người hành khổ hạnh bề ngoài, cho thế là lạc. Sa-môn Thích tử không có cái lạc như vậy.
“Nếu có Phạm-chí ngoại đạo hỏi như vậy: ‘Thứ lạc trú nào mà Sa-môn Cù-đàm khen ngợi?’ Này các Tỳ-kheo, nếu người kia có nói như vậy, các ngươi nên trả lời rằng: ‘Này Chư Hiền, năm phẩm chất của dục, đáng ưa đáng thích, được người đời tham đắm. Những gì là năm? Sắc được biết bởi mắt... cho đến, xúc biết bởi thân, đáng ưa đáng thích, được người đời tham đắm. Này Chư Hiền, lạc phát sanh do bởi nhân duyên là năm dục, nên nhanh chóng diệt trừ. Cũng như có người cố ý sát sanh, tự cho thế là lạc; lạc như thế, nên nhanh chóng diệt trừ. Có người trộm cắp, tự cho thế là lạc; lạc ấy nên nhanh chóng diệt trừ. Cũng như có người phạm tịnh hạnh, tự cho thế là lạc; lạc ấy nên chóng diệt trừ. Cũng như có người phóng đãng buông trôi, tự cho thế là lạc; lạc ấy nên nhanh chóng diệt trừ. Cũng như có người hành khổ hạnh bề ngoài, cho thế là lạc; lạc ấy nên chóng diệt trừ. Cũng như có người ly dục, lìa bỏ pháp ác bất thiện, có tầm có tứ, có hỷ lạc phát sanh do ly dục, nhập sơ thiền. Lạc như thế là điều Phật khen ngợi. Cũng như có người diệt tầm tứ, nội tĩnh, nhất tâm, không tầm không tứ, có hỷ lạc do định sanh, nhập nhị thiền. Lạc như thế được Phật khen ngợi. Cũng như có người trừ hỷ, an trú xả, tự thân cảm giác lạc, điều mà Hiền Thánh là xả, an trú lạc có niệm, nhất tâm, nhập đệ tam thiền. Lạc như thế được Phật khen ngợi. Lạc hết, khổ hết, ưu và hỷ trước đã diệt, không khổ không lạc, xả, niệm thanh tịnh, nhập đệ tứ thiền. Lạc như vậy được Phật khen ngợi.
“Nếu có Phạm-chí ngoại đạo nói như vầy: ‘Trong lạc ấy, các ông tỳm kết quả gì, công đức gì?’ Nên trả lời rằng: ‘Lạc ấy sẽ đưa đến bảy quả, bảy công đức. Những gì là bảy? Ngay trong đời này, chứng đắc Thánh đạo. Giả sử chưa chứng, thì ngay khi chết, sẽ chứng đắc thánh đạo. Nếu trong khi chết mà chưa chứng đắc, thì sẽ đoạn trừ năm hạ phần kết, sẽ chứng đắc trung bát Niết-bàn, sanh bát Niết-bàn, hành bát Niết-bàn, vô hành bát Niết-bàn, thượng lưu a-ca-nị-trá Niết-bàn. Này Chư Hiền, lạc ấy có bảy công đức là như vậy.
“Chư hiền, hoặc có Tỳ-kheo đang ở bậc học địa mà muốn hướng thượng, tỳm cầu chỗ an ổn, nhưng chưa trừ năm triền cái. Những gì là năm? Tham dục triền cái, sân nhuế triền cái, thụy miên triền cái, trạo hý triền cái, nghi triền cái. Tỳ-kheo hữu học kia muốn cầu hướng thượng, tỳm chỗ an ổn, nhưng chưa diệt trừ năm triền cái, không hay tinh cần nơi bốn niệm xứ, không hay tinh cần với bảy giác chi, nhưng lại muốn chứng được pháp thượng nhân, tăng thượng tuệ của Hiền Thánh, mong cầu muốn biết, muốn thấy; không có trường hợp ấy.
“Chư hiền, Tỳ-kheo hữu học muốn cầu hướng thượng, tỳm cầu chỗ an ổn, mà có thể diệt trừ năm triền cái là tham dục triền cái, sân nhuế triền cái, thụy miên triền cái, trạo hý triền cái, nghi triền cái, hay tinh cần với bốn niệm xứ lại, như thật tu hành bảy giác chi; nếu vị ấy muốn được pháp thượng nhân, tăng thượng tuệ của Hiền Thánh, muốn biết muốn thấy; có trường hợp như vậy.
“Chư hiền, có Tỳ-kheo là A-la-hán lậu tận, điều cần làm đã làm xong, đã đặt gánh nặng xuống, đã đạt được mục đích của mình, đã dứt sạch các kết sử của hữu, với chánh trí đã giải thoát; vị ấy không làm chín việc. Những gì là chín? Một là không giết. Hai là không lấy trộm. Ba là không dâm. Bốn là không nói dối. Năm, không xả đạo. Sáu, không bị dục chi phối. Bảy, không bị sân chi phối. Tám, không bị sợ hãi chi phối. Chín, không bị nghi chi phối. Chư hiền, ấy là vị lậu tận A-la-hán đã làm xong điều cần làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã đạt được mục đích của mình, đã dứt sạch kết sử của hữu, chánh trí giải thoát, xa lìa chín sự.
“Hoặc có Phạm-chí ngoại đạo nói như vầy: ‘Sa-môn Thích tử có pháp bất trụ.’ Nên trả lời vị ấy rằng: ‘Chư hiền, chớ nói như vậy, rằng Sa-môn Thích tử có pháp bất trụ. Vì sao vậy? Pháp của Sa-môn Thích tử là thường trụ, không bị dao động. Cũng như ngưỡng cửa thường trụ không động. Pháp của Sa-môn Thích tử cũng vậy, thường trụ không di động.’
“Hoặc có Phạm-chí ngoại đạo nói như vậy: ‘Sa-môn Cù-đàm biết suốt việc trong đời quá khứ, nhưng không biết việc trong đơì vị lai.’ Tỳ-kheo kia, cùng Phạm-chí dị học ấy bằng trí này mà quán sát trí kia, cho nên lời nói hư dối. Như Lai đối với việc quá khứ kia, không gì không thấy biết, rõ như ở trước mắt. Đối với đời vị lai, Như Lai có trí phát sanh từ đạo. Việc trong đời quá khứ vốn hư dối không thật, không đáng vui thích, không lợi ích gì, Như Lai không ghi nhận. Hoặc việc quá khứ có thật, nhưng không đáng ưa thích, không ích lợi gì, Phật cũng không ghi nhận. Nếu việc quá khứ có thật, đáng ưa, nhưng không lợi ích, Phật cũng không ghi nhận. Nếu việc quá khứ có thật, đáng ưa, có lợi ích, Như Lai biết suốt, sau đó mới ghi nhận. Vị lai, hiện tại, cũng vậy.
“Như Lai đối với quá khứ, vị lai, hiện tại, nói đúng thời, nói sự thật, nói có nghĩa, có lợi, nói đúng pháp, đúng luật, không có lời hư dối. Phật từ đêm đầu tiên thành Vô thượng chánh giác cho đến đêm cuối cùng, trong khoảng giữa, có nói điều gì, thảy đều như thật; do đó gọi là Như Lai.
“Lại nữa, những điều Như Lai nói đúng như sự; sự đúng như lời; do đó gọi là Như Lai.
“Do nghĩa gì mà gọi là Đẳng Chánh Giác? Những gì mà Phật thấy biết, diệt trừ, giác ngộ, Phật thảy đều giác ngộ, biết rõ, nên gọi là Đẳng Chánh Giác.
“Hoặc có Phạm-chí ngoại đạo nói như vậy: ‘Thế gian thường hằng. Duy chỉ điều này là thật; ngoài ra đều là hư dối.’ Hoặc có người lại nói: ‘Thế gian này là không thường hằng. Duy chỉ điều này là thật; ngoài ra đều hư dối.’ Hoặc có người lại nói: ‘Thế gian vừa thường hằng vừa không thường hằng. Duy chỉ điều này là thật; ngoài ra đều hư dối.’ Hoặc có người nói: ‘Thế gian không phải thường hằng, không phải không thường hằng. Duy chỉ điều này là thật; ngoài ra là hư dối.’
“Hoặc có người nói: ‘Thế gian hữu biên. Duy chỉ điều này là thật; ngoài ra đều hư dối.’ Hoặc có người nói: ‘Thế gian vô biên. Duy chỉ điều này là thật; ngoài ra đều hư dối.’ Hoặc có người nói: ‘Thế gian vừa hữu biên vừa vô biên. Duy chỉ điều này là thật; ngoài ra đều hư dối.’ Hoặc nói: ‘Thế gian không phải hữu biên không phải vô biên. Duy chỉ điều này là thật; ngoài ra đều hư dối.’
“Hoặc nói: ‘Chính mạng tức là thân. Duy chỉ điều này là thật; ngoài ra đều dối.’ Hoặc nói: ‘Mạng không phải là thân. Đây là thật; ngoài ra là dối.’ Hoặc nói: ‘Mạng khác thân khác. Đây là thật; ngoài ra là dối.’ Hoặc nói: ‘Không phải mạng khác thân khác. Đây là thật; ngoài ra là dối.’
“Hoặc nói: ‘Như Lai tồn tại sau khi chết. Đây là thật, ngoài ra là dối.’ Hoặc nói: ‘Như Lai không tồn tại sau khi chết. Đây là thật còn ngoài ra là dối.’ Hoặc nói: ‘Như Lai vừa c tồn tại sau khi chết vừa không tồn tại sau khi chết, đây là thật còn ngoài ra là dối.’ Hoặc nói: ‘Như Lai không phải tồn tại sau khi chết cũng không phải không tồn tại sau khi chết, đây là thật còn ngoài ra là dối.’
“Những ai có quan điểm như vậy, gọi là bổn sanh bổn kiến. Nay ta ký thuyết cho ngươi rằng: ‘Thế gian là thường hằng... cho đến, Như Lai không phải tồn tại sau khi chết cũng không phải không tồn tại sau khi chết. Đây là thật còn ngoài ra là dối.’ Đó là bổn kiến bổn sanh. Hãy ghi nhớ lấy.
“Gọi là ‘Mạt kiếp mạt sanh,’ Ta cũng đã ký thuyết. Những gì là mạt kiếp mạt sanh được ta ký thuyết? Sắc là ta, tùy theo tưởng mà có cuối cùng; đây là thật còn ngoài ra là dối. Vô sắc là ta, tùy theo tưởng có cuối cùng. Vừa có sắc vừa vô sắc là ta, tùy theo tưởng mà có cuối cùng. Không phải có sắc không phải không sắc là ta, tùy theo tưởng mà có cuối cùng. Ta là hữu biên, ta là vô biên, ta vừa hữu biên vừa vô biên, ta không phải hữu biên cũng không phải vô biên, tùy theo tưởng mà có cuối cùng. Ta có lạc, tùy theo tưởng mà có cuối cùng. Ta không có lạc, tùy theo tưởng mà có cuối cùng. Ta vừa có khổ vừa có lạc, tùy theo tưởng mà có cuối cùng. Ta không khổ cũng không lạc, tùy theo tưởng mà có cuối cùng. Một tưởng là ta, tùy theo tưởng mà có cuối cùng. Nhiều tưởng là ta, tùy theo tưởng mà có cuối cùng. Ít tưởng là ta, tùy theo tưởng mà có cuối cùng. Vô lượng tưởng là ta, tùy theo tưởng mà có cuối cùng. Đây là thật ngoài ra là dối. Đó là tà kiến bổn kiến bổn sanh, được Ta ký thuyết.
“Hoặc có Sa-môn, Bà-la-môn, có luận như vầy, có kiến như vầy: ‘thế gian này thường hằng: đây là thật, ngoài ra là dối... cho đến, vô lượng tưởng là ta: đây là thật, ngoài ra là dối.’ Sa-môn, Bà-la-môn kia lại nói như vầy, thấy như vầy: ‘Đây là thật ngoài ra là hư dối’. Nên trả lời người ấy rằng: Có phải ông chủ trương rằng, thế giới này là thường hằng: đây là thật còn ngoài ra là dối? Lời nói như vậy Phật không chấp nhận. Vì sao? Trong các kiến giải đó mỗi thứ đều có kết sử. Ta lấy lý mà suy, trong các Sa-môn, Bà-la-môn, không ai bằng Ta, huống hồ muốn hơn Ta. Các tà kiến như vậy chỉ có nơi lời nói mà thôi, không đáng cùng bàn luận... Cho đến vô lượng tưởng là ta, cũng vậy.
“Hoặc có Sa-môn, Bà-la-môn nói như vầy: ‘Thế gian này tự tạo.’ Lại có Sa-môn, Bà-la-môn nói: ‘Thế gian này do cái khác tạo.’ Hoặc nói: ‘Vừa tự tạo vừa do cái khác tạo.’Hoặc nói: ‘không phải tự tạo cũng không phải do cái khác tạo nhưng ngẫu nhiên mà có.’ Sa-môn, Bà-la-môn nào nói rằng thế gian là tự tạo thì các Sa-môn, Bà-la-môn ấy đều nhân bởi nhân duyên là xúc. Nếu lìa xúc là nhân mà có thể nói được; không có trường hợp ấy. Vì sao? Do sáu xứ thân mà phát sanh xúc. Do xúc mà sanh thọ. Do thọ mà sanh ái. Do ái mà sanh thủ. Do thủ mà sanh hữu. Do hữu mà sanh sanh. Do sanh mà có già, chết, ưu, buồn, khổ, não, khối lớn khổ đau. Nếu không có sáu xứ, thì không có xúc. Không có xúc thì không có thọ. Không có thọ thì không có ái. Không có ái thì không có thủ. Không có thủ thì không có hữu. Không có hữu thì không có sanh. Không có sanh thì không có già, chết, ưu, buồn, khổ, não, khối lớn khổ đau.
“Lại nói, ‘thế gian này do cái khác tạo’; lại nói, ‘thế gian này vừa tự tạo vừa do cái khác tạo’; lại nói, ‘thế gian này không phải tự tạo cũng không phải do cái khác tạo, nhưng ngẫu nhiên mà có’; cũng vậy. Nhân xúc mà có, không có xúc thì không.”
Phật bảo các Tỳ-kheo:
“Nếu muốn diệt trừ các quan điểm tà ác ấy, nên tu ba hành nơi bốn niệm xứ. Thế nào Tỳ-kheo diệt trừ các tà ác, nên tu ba hành với bốn niệm xứ? Tỳ-kheo quán thân trên nội thân, tinh cần không biếng nhác, ghi nhớ không quên, trừ tham ưu ở đời. Quán thọ, tâm, pháp, cũng vậy. Đó là muốn diệt trừ ba hành đối với bốn niệm xứ.
“Có tám giải thoát. Những gì là tám? Có sắc, quán sắc, đó là giải thoát thứ nhất. Bên trong có sắc tưởng, quán ngoại sắc; giải thoát thứ hai. Tịnh giải thoát, giải thoát thứ ba. Vượt sắc tưởng, diệt hữu đối tưởng, trú không vô biên xứ, giải thoát thứ tư. Xả không vô biên xứ trú thức vô biên xứ; giải thoát thứ năm. Xả thức vô biên xứ, trú vóowr xứ; giải thoát thứ sáu. Xả sở hữu xứ, trú phiu tưởng phi phi tưởng xứ; giải thoát thứ bảy. Diệt tận định, giải thoát thứ tám.”
Bấy giờ, A-nan đang đứng sau Thế Tôn, cầm quạt quạt Phật, bèn trịch áo bày vai phải, quỳ gối phải xuống đất, chấp tay bạch Phật rằng:
“Kỳ diệu thay, Thế Tôn. Pháp này thanh tịnh, vi diệu bậc nhất, nên gọi là gì? Nên phụng trì như thế nào?”
Phật bảo A-nan:
“Kinh này gọi là “Thanh tịnh”. Ngươi hãy phụng trì như thế.”
Bấy giờ, A-nan sau khi nghe những lời Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.
SC 1Thus I have heard: One time, the Buddha was staying at Layman [Vedhañña]’s Grove in the country of Kapilavastu. He was accompanied by a large assembly of 1,250 monks.
News of Nigranthaputra’s Death
SC 2The novice monk Cunda was staying in Pāpā at the time for the summer retreat. When it was finished, he took his robe and bowl and made his way to Layman [Vedhañña]’s Grove near Kapilavastu. He went to Ānanda, bowed his head at his feet, and stood to one side. He then said to Ānanda, “In the city of Pāpā, Nigranthaputra’s life ended not long ago, and his disciples are divided into two factions. They fight with each other, scolding each other to their faces. They have no hierarchy and look for each other’s shortcomings. They argue about what they know and see: ‘I can understand this, but you cannot.’ ‘My practices are true and correct; yours are wrong views.’ ‘You put what’s first last and what’s last first, getting things reversed and confused, and then there isn’t any order.’ ‘What I do is sublime; what you say is wrong.’ ‘If you have any doubts, feel free to ask me.’ Virtuous Ānanda, the people of that country who served Nirgrantha are disgusted when they hear their fighting.”
SC 3Ānanda said to the novice monk Cunda, “We were going to inform the Bhagavān about something. You can come with us. You ought to tell him about these events. If the Bhagavān has some instructions about it, we’ll accept them together.”
SC 4After hearing what Ānanda said, the novice monk Cunda went with him to visit the Bhagavān. He bowed his head at the Buddha’s feet and then stood to one side.
SC 5Ānanda said to the Bhagavān, “When this novice monk Cunda finished the summer retreat in Pāpā, he took his robe and bowl and made his way here. He bowed at my feet and said to me: ‘In the city of Pāpā, Nigranthaputra’s life ended not long ago, and his disciples are divided into two factions. They fight with each other, scolding each other to their faces. They have no hierarchy and look for each other’s shortcomings. They argue about what they know and see: “I can understand this, but you cannot.” “My practices are true and correct; yours are wrong views.” “You put what’s first last and what’s last first, getting things reversed and confused, and then there isn’t any order.” “What I do is sublime; what you say is wrong.” “If you have any doubts, feel free to ask me.” The people of that country who served Nirgrantha are disgusted when they hear their fighting.’”
Disciples Who Don’t Follow a Teaching
SC 6The Bhagavān told Cunda, “So it is, Cunda. That’s not a teaching that’s worth hearing, nor is it the teaching of a Completely Awakened One. It’s like a crumbling shrine that’s difficult to paint. Although they had a teacher, the views he held were all wrong. Although they also have a teaching, none of it is true. It isn’t worth hearing and can’t escape [suffering]. This isn’t the teaching of a Completely Awakened One. It’s like an ancient shine that can’t be painted. The disciples who didn’t follow his teaching and abandoned his different views practiced right view.
SC 7“Cunda, suppose someone came and said to those disciples, ‘Good men, your teacher’s Dharma was correct. You ought to put it into practice. Why did you abandon it?’ Those disciples who believe it and the speaker will both lose the path and get measureless misdeeds. Why is that? Although they have a teaching, it isn’t true.
SC 8“Cunda, suppose the teacher doesn’t have wrong views. His teaching is true, good to hear, and can reach the escape. That’s the teaching of a Completely Awakened One. It’s like a newly built shrine that’s easy to paint. Still, disciples who don’t diligently cultivate his teaching can’t accomplish it. They abandon the equal path and take up wrong views.
SC 9“Suppose someone came and said to those disciples, ‘Good men, your teacher’s Dharma was correct. You ought to put it into practice. Why did you abandon it and take up wrong views?’ Those disciples who believe it and the speaker will both see correctly and get measureless merits. Why is that? Their teaching is true.”
Disciples Who Accomplish a Teaching
SC 10The Buddha told Cunda, “Although they had a teacher, he held wrong views. Although they also have a teaching, none of it is true. It isn’t worth hearing and can’t escape. This isn’t the teaching of a Completely Awakened One. It’s like a crumbling shine that can’t be painted. Those disciples who accomplished his teachings and followed his practice produced wrong views.
SC 11“Cunda, suppose someone came and said to those disciples, ‘Good men, your teacher’s Dharma was correct. It’s something you ought to practice. Now, your cultivation of asceticism being diligent, you should accomplish the fruit of the path in the present life.’ Those disciples who believe it and the speaker will both lose the path and get measureless misdeeds. Why is that? Because the teaching isn’t true.
SC 12“Cunda, suppose the teacher doesn’t have wrong views. His teaching is true, good to hear, and can reach the escape. That’s the teaching of a Completely Awakened One. It’s like a newly built shrine that’s easy to paint. Those disciples who accomplish his teachings and follow the cultivation of his practice will produce right view.
SC 13“Suppose someone said to those disciples, ‘Good men, your teacher’s Dharma was correct. It’s something you ought to practice. Now, your cultivation of asceticism being diligent, you should accomplish the fruit of the path in the present life.’ Those disciples who believe it and the speaker will both have right view and obtain measureless merits. Why is that? Because the teaching is true.”
Teachers Who Are Grieved and Not Grieved
SC 14“Cunda, when some teachers leave the world, it makes their disciples grieve. Some teachers leave the world, and it doesn’t make their disciples grieve.
SC 15“How does a teacher leaving the world make his disciples grieve? Cunda, suppose a teacher has recently left the world, and it wasn’t long after he achieved awakening. His teaching was complete, his religious practice was pure, and his essentials were true, but these things weren’t widely known. The teacher’s final liberation was so soon that his disciples can’t cultivate his practice. They lament, saying, ‘The teacher was first to leave the world, not long after achieving awakening. His teaching was pure, his religious practice was complete, and his essentials were true, but they weren’t widely known. Now, the teacher’s final liberation was so soon, we disciples can’t cultivate his practice!’ This is a teacher who leaves the world, and his disciple grieve over it.
SC 16“How does a teacher leaving the world not make his disciples grieve? Suppose when a teacher leaves the world, his teaching is pure, his religious practice is complete, and his essentials are true. These things are widely known. After the teacher’s final liberation, his disciples can cultivate his practice. They don’t lament, saying, ‘The teacher was first to leave the world, not long after achieving awakening. His teaching was pure, his religious practice was complete, and his essentials were true, but they weren’t widely known. Now, the teacher’s final liberation was so soon, we disciples can’t cultivate his practice!’ Thus, Cunda, a teacher leaves the world, and his disciples have no grief over it.”
Factors of a Religious Practice
SC 17The Buddha told Cunda, “These factors achieve the religious life. That is, a teacher leaves the world not long after leaving home. His fame hasn’t spread widely. This is a factor of the religious practice being incomplete.
SC 18“Cunda, a teacher leaves the world a long time after he left home, and his fame has become far-reaching. This is a factor of the religious life being fulfilled.
SC 19“Cunda, a teacher leaves the world a long time after he left home, and his fame has become far-reaching, but his disciples have yet to receive his instruction or possess his religious practice. They’ve yet to reach a state of peace, obtain their own reward, or accept his teaching and widely promulgate it. When different interpretations arise, they can’t eliminate them according to the teaching. They still can’t transform themselves or realize miraculous abilities, either. This is a factor of the religious practice being incomplete.
SC 20“Cunda, a teacher leaves the world long after he left home, and his fame has become far-reaching. All his disciples receive his instruction and the complete religious practice. They reach a state of peace, obtain their own reward, and accept, discern, and promulgate his teaching. When different interpretations arise, they can eliminate them according to the teaching. They perfect transforming themselves and realize miraculous abilities. This is a factor of the religious practice being fulfilled.
SC 21“Cunda, a teacher leaves the world long after he left home, and his fame has become far-reaching, but his nuns have yet to receive his instructions. They’ve yet to reach a state of peace, obtain their own reward, or accept, discern, and promulgate his teaching. When different interpretations arise, they can’t eliminate them with the teaching. They still can’t transform themselves or realize miraculous abilities, either. This is a factor of the religious life being incomplete.
SC 22“Cunda, a teacher leaves the world long after he left home, and his fame has become far-reaching. All his nuns receive his instruction and the complete religious practice. They reach a state of peace, obtain their own reward, and accept, discern, and promulgate his teaching. When different interpretations arise, they can eliminate them according to the teaching. They perfect transforming themselves and realize miraculous abilities. This is a factor of the religious practice being completely fulfilled.
SC 23“Cunda, laymen and laywomen widely cultivate his religious practice … transform themselves and realize miraculous abilities in the same way.
SC 24“Cunda, suppose a teacher isn’t present in the world, they don’t have any fame, and offerings are limited. This is a factor of the religious practice being unfulfilled.
SC 25“Suppose a teacher is present in the world, they’re famous, and offerings are fully provided without any limitations. This is a factor of the religious practice being fulfilled.
SC 26“Suppose a teacher is present in the world, they’re famous, and offerings are fully provided, but the monks don’t possess fame or offerings. This is a factor of the religious practice being incomplete.
SC 27“Suppose a teacher is present in the world, they’re famous, and offerings are fully provided without limitations, and the assembly of monks also possesses these things. This is a factor of the religious practice being fulfilled. It’s the same with the assembly of nuns.
SC 28“Cunda, I left home long ago, and my fame is widespread. My monks have received my instruction, reached a state of peace, obtained their own reward, and can accept and explain the teaching for other people. When different interpretations arise, they can eliminate them according to the teaching. They transform themselves and fully realize miraculous abilities. The monks, nuns, laymen, and laywomen are the same.
SC 29“Cunda, I’ve widely promulgated the religious practice in each way … transforming myself and fully realizing miraculous abilities. Cunda, of all the teachers in the world, I don’t see any of them who have attained fame and offerings like myself, the Tathāgata, Arhat, and Completely Awakening One.
SC 30“Cunda, of the followers in the world, I don’t see any with fame and offerings like my assembly.
SC 31“Cunda, to tell the truth, I should say that I see what can’t be seen. How do I see what can’t be seen? All whose religious practice is pure, complete, plainly explained, and widely known are said to see what can’t be seen.”
SC 32The Bhagavān then told the monks, “Udraka Rāmaputra made this statement to a large assembly: ‘There is what’s seen and not seen. What is called the seen and not seen? It’s like a knife that can be seen, and a sword that cannot be seen.’ Monks, Rāmaputra made that metaphor with the ignorant words of ordinary people.
SC 33“Thus, Cunda, to tell the truth, I should say I see what’s not seen. What is seen and not seen? You should correctly say, ‘All whose religious practice is pure, complete, plainly explained, and widely known see what can’t be seen.’
SC 34“Cunda, a continuous teaching that’s incomplete can be found, but a discontinued teaching that’s complete can’t be found. Cunda, among teachings, the religious practice is like the ghee that’s in butter.”
Staying Unified and Resolving Disputes
SC 35The Bhagavān then told the monks, “I’ve personally realized this teaching, namely the four abodes of mindfulness, four miraculous abilities, four mental disciplines, four dhyānas, five faculties, five powers, seven factors of awakening, and the noble eightfold path. All of you are united and don’t start disputes. You have the same teacher and teaching, the same water and milk. You must light yourselves with the Tathāgata’s correct teaching and delight in becoming peaceful.
SC 36“Once you’ve become peaceful, suppose some monk is teaching Dharma, and another says, ‘That statement isn’t correct, and his meaning isn’t correct.’
SC 37“A monk who hears him can’t say he’s right or wrong. He should say to that monk, ‘How is it, good man? I would say it this way, and you say it that way. My meaning is this, and your meaning is that. Which is better? Which is worse?’
SC 38“Suppose that monk replies, ‘I say it this way, and my meaning is this. You say it that way, and your meaning is that. Your statement is better, and your meaning is better, too.’
SC 39“The monk who says this also can’t be found to be right or wrong. You should admonish, rebuke, and stop that monk. You should then investigate the matter together. Thus, all of you will be united without starting disputes. You have the same teacher and teaching, the same water and milk. You should light yourselves with the correct teaching of the Tathāgata and delight in becoming peaceful.
SC 40“Once you’ve become peaceful, suppose a monk is teaching Dharma, and another says, ‘That statement isn’t correct, but his meaning is correct.’
SC 41“A monk who hears him can’t say he’s right or wrong. He should say to that monk, ‘How is it, monk? I say it this way, and you say it that way. Which is correct, and which is wrong?’
SC 42“Suppose that monk replies, ‘I say it this way, and you say it that way. Your statement is better.’
SC 43“A monk who says this also can’t be said to be right or wrong. You should admonish, rebuke, and stop that monk. You should investigate the matter together. Thus, all of you will be united without starting disputes. You have the same teacher and teaching, the same water and milk. You should light yourselves with the correct teaching of the Tathāgata and delight in becoming peaceful.
SC 44“Once you’ve become peaceful, suppose a monk is teaching Dharma, and another monk makes the statement, ‘That statement is correct, but his meaning isn’t correct.’
SC 45“A monk who hears him can’t say that he’s right or wrong. You should say to him, ‘How is it, monk? My meaning is this, and your meaning is that. Which is right, and which is wrong?’
SC 46“Suppose he replies, ‘My meaning is this, and your meaning is that. Your meaning is better.’
SC 47“When a monk says that, he can’t be said to be right or wrong. You should admonish, rebuke, and stop that monk. You should investigate the matter together. Thus, all of you will be united without starting disputes. You have the same teacher and teaching, the same water and milk. You should light yourselves with the correct teaching of the Tathāgata and delight in becoming peaceful.
SC 48“Once you’ve become peaceful, suppose a monk is teaching Dharma, and another monks makes the statement, ‘That statement is correct, and his meaning is correct.’
SC 49“A monk who hears him can’t say that he’s right or wrong. You should commend him by saying, ‘What you say is right! What you say is right!’
SC 50“Therefore, monks, realize for yourself what’s in the twelve divisions of the sutras, and widely promulgate it. They are the sutras, songs, assurances, verses, inspirations, past events, past births, histories, extensive sutras, unprecedented things, parables, and explanations. You should skillfully preserve, assess, investigate, and widely promulgate them.
The Allowance of Requisites
SC 51“Monks, the robes that I allow are robes from cemeteries, robes from prominent people, or crude robes. These robes are sufficient for warding off cold, heat, and biting insects, and they’re enough to cover your four limbs.
SC 52“Monks, the food that I allow is solicited food or a householder’s food. This food is sufficient for your body or troubles. When the myriad ailments become severe, they become a source of anxiety until death, so I permit you this food. Be satisfied with that.
SC 53“Monks, the abodes that I allow are under a tree, out in the open, in a room, in a hall, or in a cave. If you live in these various abodes, be satisfied with them. They ward off the cold, heat, wind, rain, and biting insects. Abide under them in quiet repose.
SC 54“Monks, the medicines that I allow are urine, feces, cream, oil, honey, or rock honey. Be satisfied with these medicines. If your body is troubled by pains, then I permit these medicines when the myriad ailments become severe and cause anxiety until death.”
Pleasures the Buddha Doesn’t Approve
SC 55The Buddha said, “Some wanderers of other religions come and say, ‘The ascetic Śākyans themselves enjoy many pleasures.’
SC 56“When they say this, you should thus reply, ‘You shouldn’t say that the ascetic Śākyans themselves enjoy many pleasures. Why is that? When someone enjoys pleasures, the Tathāgata rebukes them. When someone enjoys pleasures, the Tathāgata commends them.’
SC 57“Suppose that wanderer from another religion asks, ‘The enjoyment of which pleasures does Gautama rebuke?’
SC 58“If they were to ask that, you should reply, ‘The qualities of the five desires are lovely and enjoyable, so people are addicted to them. What are the five? The eye perceives form that’s lovely and enjoyable, so people are addicted to it. The ear hears sound … nose smells odor … tongue tastes flavor … body feels contact that’s lovely and enjoyable, so people are addicted to it.
SC 59“‘Good men, even though these five desires are conditions for joy and happiness, they are rebuked by the Tathāgata, Arhat, and Completely Awakened One. Even though people enjoy killing sentient beings, it’s rebuked by the Tathāgata, Arhat, and Completely Awakened One. Even though people enjoy robbing and stealing from others, it’s rebuked by the Tathāgata. Even though people enjoy violating the religious life, it’s rebuked by the Tathāgata. Even though people enjoy making false statements, it’s rebuked by the Tathāgata. Even though people are unrestrained and self-indulgent, it’s rebuked by the Tathāgata. Even though people enjoy practicing the ascetic practices of other religions and not the correct practices taught by the Tathāgata, it’s rebuked by the Tathāgata.’
SC 60“Monks, I rebuke the qualities of the five desires that make people addicted to them. What are the five? The eye perceives form that’s lovely and enjoyable, so people are addicted to it. The ear hears sound … nose smells odor … tongue tastes flavor … body feels contact that’s lovely and enjoyable, so people are addicted to it.
SC 61“The ascetic Śākyans take no pleasures like these. Even though some people enjoy killing sentient beings, the ascetic Śākyans take no such pleasure. Even though some people enjoy stealing from others, the ascetic Śākyans take no such pleasure. Even though some people enjoy violating the religious life, the ascetic Śākyans take no such pleasure. Even though some people enjoy making false statements, the ascetic Śākyans take no such pleasure. Even though some people are unrestrained and self-indulgent, the ascetic Śākyans take no such pleasure. Even though some people enjoy practicing the ascetic practices of other religions, the ascetic Śākyans take no such pleasure.
Pleasures the Buddha Does Approve
SC 62“Suppose that wanderer of another religion asks this question, ‘The enjoyment of which pleasures does the ascetic Gautama commend?’
SC 63“Monks, if they were to ask this, you should answer them: ‘Good men, there are the qualities of the five desires that are lovely and enjoyable, so people are addicted to them. What are the five? The eye perceives form … body feels contact that’s lovely and enjoyable, so people are addicted to it.
SC 64“‘Good men, the five desires are conditions that give rise to pleasure and must be quickly eliminated. Even though some people enjoy killing sentient beings, such pleasure should be quickly eliminated. Even though some people enjoy stealing, such pleasure should be quickly eliminated. Even though some people enjoy violating the religious life, such pleasure should be quickly eliminated. Even though some people enjoy making false statements, such pleasure should be quickly eliminated. Even though some people are unrestrained and self-indulgent, such pleasure should be quickly eliminated. Even though some people enjoy practicing the ascetic practices of other religions, such pleasure should be quickly eliminated.
SC 65“‘Some people seclude themselves from desire and aren’t subject to any more evil things. With perception and examination, seclusion gives rise to joy and happiness, and they enter the first dhyāna. Such pleasure is commended by the Buddha.
SC 66“‘Some people cease their perception and examination. With inner joy, unified mind, and no perception or examination, samādhi gives rise to joy and happiness, and they enter the second dhyāna. Such pleasure is commended by the Buddha.
SC 67“‘Some people discard joy and enter equanimity. They personally know their own happiness that’s sought by noble people. With equanimity, mindfulness, and unified mind, they enter the third dhyāna. Such pleasure is commended by the Buddha.
SC 68“‘Some people’s pleasure and pain ends, and their prior sorrow and joy subsides. Not discomforted or happy, they are equanimous, mindful, and pure, and they enter the fourth dhyāna. Such pleasure is commended by the Buddha.’
The Benefits of the Pleasures the Buddha Approves
SC 69“Suppose that wanderer of another religion asks this question, ‘How many fruits and virtues do you seek from these pleasures?’
SC 70“You should answer them, ‘These pleasures will have seven fruits and virtues. What are the seven? In the present life, one achieves the realization of awakening. Even if one doesn’t achieve it, they will achieve it right before their life ends. If they don’t achieve it before their life ends, then they will end the five lower bonds and Parinirvāṇa in the interim, Parinirvāṇa at birth, Parinirvāṇa with practice, Parinirvāṇa without practice, or Parinirvāṇa upstream in Akaniṣṭha. Good men, these are the seven virtues of these pleasures.
SC 71“‘Good men, if a monk in training desires to do the above, he’ll look for a peaceful place before eliminating five hindrances. What are the five? The hindrances of desire, anger, sleepiness, agitation, and doubt. If a trainee monk seeks the above place of safety before ceasing the five hindrances, he won’t be capable of diligently cultivating the four abodes of mindfulness or the seven factors of awakening. Attaining the state of the superior man and developing noble wisdom will be impossible for someone seeking to know and see them.
SC 72“‘Good men, suppose a trainee monk seeks the above place of peace and can cease the five hindrances, which are the hindrances of desire, anger, sleepiness, agitation, and doubt. He can also diligently cultivate the four abodes of mindfulness and seven factors of awakening. Attaining the state of the superior man and developing noble wisdom will then be possible for someone seeking to know and see them.
SC 73“‘Good men, suppose there’s a monk, an arhat who’s ended the contaminants. He has accomplished the task, put down the heavy burden, won his own reward, and ended the bonds of existence. He’s liberated by right knowledge and doesn’t do nine things. What are the nine? He doesn’t kill, steal, engage in sex, make false statements, abandon the path, follow desire, follow anger, follow fear, or follow delusion.
SC 74“‘Good men, this is an arhat who has ended the contaminants, accomplished the task, put down the heavy burden, won his own reward, and ended the bonds of existence. He’s liberated by right knowledge and avoids nine things.’
The Śākyan Teaching Is Always Steady
SC 75“Some wanderers of other religions make the statement, ‘The ascetic Śākyans have an unsteady teaching.’
SC 76“You should respond to them, ‘Good men, don’t say that the ascetic Śākyans have a teaching that’s unsteady. Why is that? The teaching of ascetic Śākyans is always steady and immovable. It’s like a gate’s threshold that’s always steady and unmoved. The ascetic Śākyans are likewise. Their teaching is always steady without any movement.’
The Buddha’s Knowledge of the Future
SC 77“Some wanderers of other religions make the statement, ‘The ascetic Gautama entirely knows about past lives, but he doesn’t know the future.’
SC 78“Monks, the knowledge of those wanderers of different trainings is different, and their examination of knowledge is also different. That statement is false. There’s nothing in the past that the Tathāgata doesn’t know and see like seeing it with his own eyes. His knowledge about future lives arose with the knowledge of awakening.
SC 79“When past lives are false, unreal, not worth enjoying, or aren’t beneficial, the Buddha doesn’t relate them. If past lives are real but aren’t worth enjoying or beneficial, the Buddha doesn’t relate them. If past lives are real and worth enjoying but aren’t beneficial, the Buddha doesn’t relate them, either. If past lives are real, worth enjoying, and beneficial, the Tathāgata entirely knows them and relates them afterward. The future and present are likewise.
SC 80“The Tathāgata’s discourses about the past, future, and present are timely, truthful, meaningful, profitable, about Dharma, about discipline, and without any falsehood. From the first night after the Buddha achieved complete awakening to the last night, everything he says in the meantime is true. That’s why he’s called the Tathāgata.
SC 81“Furthermore, what the Tathāgata says is according to the subject, and the subject is as he describes it. Therefore, he’s called the Tathāgata. What’s the meaning of his being called the Completely Awakened One? The Buddha entirely comprehends what he knows and sees, what he ceased, and what he realized. Therefore, he’s called the Completely Awakened One.
Views about the Past and Future
SC 82“Some wanderers of other religions make the statement, ‘The world is eternal. Only this is true; the rest is false.’ Others say, ‘The world is impermanent. Only this is true; the rest is false.’ Others say, ‘The world is eternal and impermanent. Only this is true; the rest is false.’ Others say, ‘The world is neither eternal nor impermanent. Only this is true; the rest is false.’
SC 83“Others say, ‘The world is limited. Only this is true; the rest is false.’ Others say, ‘The world is limitless. Only this is true; the rest is false.’ Others say, ‘The world is limited and limitless. Only this is true; the rest is false.’ Others say, ‘The world is neither limited nor limitless. Only this is true; the rest is false.’
SC 84“Others say, ‘The soul is the body. This is true; the rest is false.’ Others say, ‘This is neither the soul nor the body. This is true; the rest is false.’ Others say, ‘The soul is different than the body. This is true; the rest is false.’ Others say, ‘This isn’t different than the soul or the body. This is true; the rest is false.’
SC 85“Others say, ‘The Tathāgata has an end. This is true; the rest is false.’ Others say, ‘The Tathāgata doesn’t end. This is true; the rest is false.’ Others say, ‘The Tathāgata ends and doesn’t end. This is true; the rest is false.’ Others say, ‘The Tathāgata neither ends nor doesn’t end. This is true; the rest is false.’
SC 86“Those views are called ‘views about the past.’ Now, I’ll explain this for you: ‘This world is eternal … the Tathāgata neither ends nor doesn’t end. Only this is true; the rest is false.’ These are views about the past. I will explain it for you.
SC 87“There are views about the future that I also explain. Which of these views about the future do I explain? ‘The self is form. Its end comes from conception. This is true; the rest is false.’ ‘The self is formless. Its end comes from conception …’ ‘The self is form and formless. Its end comes from conception …’ ‘Self is neither form nor formless. Its end comes from conception …’
SC 88“‘The self is limited …’ ‘The self is limitless …’ ‘The self is limited and limitless …’ ‘The self is neither limited nor limitless. Its end comes from conception …’
SC 89“‘The self is pleasure. Its end comes from conception …’ ‘The self is without pleasure. Its end comes from conception …’ ‘The self has pain and pleasure. Its end comes from conception …’ The self has no pain or pleasure. Its end comes from conception …’
SC 90“‘The self is a single concept. Its end comes from conception …’ ‘The self is diverse concepts. Its end comes from conception …’ ‘The self is conceived as little. Its end comes from conception …’ ‘The self is conceived as measureless. Its end comes from conception. This is true; the rest is false.’ These are the wrong views that are views about the future, which I have explained them.
SC 91“Some ascetics and priests have such theories and such views: ‘This world is eternal. This is true; the rest is false … Self is conceived as measureless. This is true; the rest is false.’ Those ascetics and priests also make such statements and such views: ‘This is true; the rest is false.’
SC 92“The response to that should be, ‘You really have made this theory? How is this world eternal? How is this true, and the rest is false? Such statements as these aren’t permitted by the Buddha.’ Why is that? In each of these views, there is bondage. It’s reasonable to conclude there are no ascetics or priests that are our equals. How could they surpass us? These wrong views are just words that I don’t discuss with you. Each one up to ‘Self is conceived as measureless,’ is likewise.
Views about the World’s Creation
SC 93“Some ascetics and priests make this statement, ‘The world created itself.’ Other ascetics and priests say, ‘The world was created by another.’ Others say, ‘It was created by itself and another.’ Others say, ‘It was neither created by itself nor by another. It spontaneously came into existence.’
SC 94“There are those ascetics and priests who say, ‘The world created itself.’ These ascetics and priests do so as a result of the dependent origination of contact. If they were separated from the causes of contact, saying that would be impossible. Why is that? Contact arises from the body of six senses. Feeling arises from contact. Craving arises from feeling. Grasping arises from craving. Existence arises from grasping. Birth arises from existence. Old, death, grief, sorrow, pain, and trouble arise from birth. This is the formation of the great mass of suffering.
SC 95“If the body of six senses doesn’t exist, then there’s no contact. If there’s no contact, there’s no feeling. If there’s no feeling, there’s no craving. If there’s no craving, there’s no grasping. If there’s no grasping, there’s no existence. If there’s no existence, there’s no birth. If there’s no birth, there are no old age, death, grief, sorrow, pain, and trouble, or the formation of that great mass of suffering.
SC 96“They also say, ‘This world is created by another.’ They also say, ‘This world is created by itself and by another.’ They also say, ‘This world is neither created by itself nor by another. It comes into existence spontaneously.’ These views are the same. They exist because of contact. Without contact, they wouldn’t exist.”
How to Cease Such Wrong Views
SC 97The Buddha told the monks, “If you want to cease these wrong and evil views, you should cultivate the four abodes of mindfulness in three ways. In which three ways should a monk cultivate the four abodes of mindfulness to cease these evil things?
SC 98“A monk observes internal body as body. He’s diligent and not negligent. His attention to it isn’t lost, and he removes worldly craving and sorrow. He observes external body as body. He’s diligent and not negligent. His attention to it isn’t lost, and he removes worldly craving and sorrow. He observes internal and external body as body. He’s diligent and not negligent. His attention to it isn’t lost, and he removes worldly craving and sorrow. He observes feeling, mind, and principles in the same way. This is ceasing the myriad evil things by cultivating the four abodes of mindfulness in three ways.
SC 99“There are eight liberations. What are the eight? He observes form as form. This is the first liberation. He observes external form without an internal perception of form. This is the second liberation. He’s liberated by purity. This is the third liberation. He goes beyond notions of form, ceases notions of resistance, and abides in the abode of space. This is the fourth liberation. He discards the abode of space and abides in the abode of consciousness. This is the fifth liberation. He discards the abode of consciousness and abides in the abode of nothingness. This is the sixth liberation. He discards the abode of nothingness and abides in the abode with and without conception. This is the seventh liberation. The samādhi of complete cessation is the eighth liberation.”
SC 100Ānanda was at the time standing behind the Bhagavān holding a fan. He adjusted his robes to bare his right shoulder and knelt on his right knee. With his palms together, he said to the Buddha, “Amazing, Bhagavān! This teaching is pure, sublime, and supreme! What shall be its name? How shall we uphold it?”
SC 101The Buddha told Ānanda, ‘This sutra’s name is ‘Purity.’ You should uphold it as ‘Purification.’”
SC 102When Ānanda heard what the Buddha taught, he rejoiced and approved.