Tôi nghe như vầy:
Một thời, Phật ở tại nước Úy-nhã, trong rừng Kim bàn Lộc dã, cùng với chúng đại Tỳ-kheo một ngàn hai trăm năm mươi người.
Bấy giờ, có một phạm-chí lõa hình họ là Ca-diệp đi đến chỗ Thế Tôn, sau khi chào hỏi xong, ngồi xuống một bên. Phạm-chí lõa hình Ca-diệp bạch Phật rằng:
“Sa-môn Cù-đàm chê bai tất cả các pháp tế tự; mắng những người khổ hạnh là dơ dáy. Cù-đàm, nếu có người nói rằng: ‘Sa-môn Cù-đàm chê bai tất cả các pháp tế tự; mắng những người khổ hạnh là dơ dáy.’ Nói như vậy có phải là nói tùy thuận pháp không? Có nói tùy thuận pháp không? Không phỉ báng Sa-môn Cù-đàm chăng?”
Phật nói:
“Ca-diệp, người kia nói: ‘Sa-môn Cù-đàm chê bai tất cả các pháp tế tự; mắng những người khổ hạnh là dơ dáy.’ Đó không phải là lời nói đúng pháp, không phải tùy thuận pháp, là phỉ báng Ta, không phải là lời nói thành thật. Vì sao? Này Ca-diệp, Ta thấy, trong những người khổ hạnh kia, có người khi thân hoại mạng chung đọa vào địa ngục; lại thấy có người khổ hạnh khi thân hoại mạng chung được sanh thiên, sanh chỗ thiện. Hoặc thấy người khổ hạnh ưa làm việc khổ hành, khi thân hoại mạng chung, sanh vào địa ngục. Hoặc thấy người khổ hạnh ưa làm việc khổ hạnh, khi thân hoại mạng chung, sanh thiên, sanh chỗ thiện. Ta đối với trường hợp thọ báo với hai thú hướng ấy, thấy hết biết hết, làm sao có thể Ta chỉ trích người tu khổ hạnh cho là dơ dáy? Điều Ta rõ ràng nói là phải, người kia nói là không phải. Điều Ta rõ ràng nói không phải, người kia nói là phải.
“Này Ca-diệp, có pháp đồng với Sa-môn, Bà-la-môn. Có pháp không đồng với Sa-môn, Bà-la-môn. Ca-diệp, pháp nào không đồng, Ta bỏ qua, vì pháp ấy không đồng Sa-môn, Bà-la-môn vậy.
“Này Ca-diệp, những người có trí kia quán sát như vầy: đối với pháp bất thiện, nặng nề ô trược, tối tăm, không phải là pháp Hiền Thánh, giữa Sa-môn Cù-đàm và các Tông sư dị học kia, ai là người có khả năng diệt trừ pháp này? Ca-diệp, người có trí kia khi quán sát như vậy, liền thấy biết như vầy: duy chỉ Sa-môn Cù-đàm có khả năng diệt trừ pháp ấy. Ca-diệp, người có trí kia khi quán sát như vậy, suy cầu như vậy, luận thuyết như vậy, Ta ở trong đó có được danh xưng.
“Lại nữa, Ca-diệp, vị có trí kia quán sát như vầy: đệ tử của Sa-môn Cù-đàm, đối với pháp bất thiện, nặng nề ô trược, tối tăm, không phải pháp Hiền Thánh; hay đệ tử các Tông sư dị học kia, đối với pháp bất thiện, nặng nề, ô trược, tối tăm, không phải pháp Hiền Thánh; ai có khả năng diệt trừ pháp này? Ca-diệp, vị có trí kia quán sát như vậy, liền thấy, biết như vầy: duy chỉ đệ tử của Sa-môn Cù-đàm có khả năng diệt trừ pháp ấy. Ca-diệp, vị có trí kia khi quán sát như vậy, suy cầu như vậy, luận như vậy, đệ tử Ta có được danh xưng.
“Lại nữa, Ca-diệp, vị có trí kia quán sát như vầy: Sa-môn Cù-đàm, đối với pháp thiện, thanh bạch, vi diệu, và là pháp Hiền Thánh; hay các Tông sư dị học kia, đối với pháp thiện, thanh bạch, vi diệu, và là pháp Hiền Thánh; ai là người có khả năng làm lớn rộng để tu hành? Ca-diệp, vị có trí kia quán sát như vậy, liền thấy biết như vầy: duy chỉ có Sa-môn Cù-đàm có khả năng làm lớn rộng, tu hành pháp ấy. Ca-diệp, người có trí kia khi quán sát như vậy, suy cầu như vậy, luận thuyết như vậy, Ta ở trong đó có được danh xưng.
“Lại nữa, Ca-diệp, vị có trí kia quán sát như vầy: đệ tử của Sa-môn Cù-đàm, đối với pháp thiện, thanh bạch, vi diệu, và là pháp Hiền Thánh; hay đệ tử của các tông sư dị học kia, đối với pháp thiện, thanh bạch, vi diệu, và là pháp Hiền Thánh; ai là người có khả năng làm lớn rộng, tu hành? Ca-diệp, vị có trí kia quán sát như vậy, liền thấy biết như vầy: duy chỉ có đệ tử của Sa-môn Cù-đàm có khả năng làm lớn rộng, tu hành pháp ấy. Ca-diệp, người có trí kia khi quán sát như vậy, suy cầu như vậy, luận thuyết như vậy, đệ tử Ta ở trong đó có được danh xưng.
“Ca-diệp, có đạo, có tích, để Tỳ-kheo ở trong đó tu hành mà tự mình thấy, tự mình biết: Sa-môn Cù-đàm nói đúng thời, nói sự thật, nói có nghĩa, nói đúng pháp, nói đúng luật.
“Ca-diệp, thế nào là đạo, thế nào là tích, để Tỳ-kheo ở trong đó tu hành mà tự mình thấy, tự mình biết: Sa-môn Cù-đàm nói đúng thời, nói sự thật, nói có nghĩa, nói đúng pháp, nói đúng luật? Này Ca-diệp, ở đây Tỳ-kheo tu niệm giác chi, y tịch diệt, y vô dục, y xuất ly. Tu pháp, tinh tấn, hỷ, khinh an, định, xả giác ý, y tịch diệt, y vô dục, y xuất yếu. Ca-diệp, đó là đạo, đó là tích, để Tỳ-kheo ở trong đó tu hành mà tự mình thấy, tự mình biết: Sa-môn Cù-đàm nói đúng thời, nói sự thật, nói có nghĩa, nói đúng pháp, nói đúng luật.”
Ca-diệp nói:
“Cù-đàm, duy chỉ đạo ấy, tích ấy, Tỳ-kheo ở trong đó tu hành mà tự mình thấy, tự mình biết: Sa-môn Cù-đàm nói đúng thời, nói sự thật, nói có nghĩa, nói đúng pháp, nói đúng luật. Nhưng với khổ hạnh ô uế, có trường hợp đựơc gọi là Bà-la-môn, có trường hợp được gọi là Sa-môn.
“Những khổ hạnh ô uế nào, mà có trường hợp được gọi là Bà-la-môn, có trường hợp được gọi là Sa-môn?
“Thưa Cù Đàm, đó là: khỏa thân, cởi bỏ y phục, rồi lấy tay che; không nhận đồ ăn từ nồi chảo; không nhận đồ ăn từ chậu nước; không nhận đồ ăn giữa hai vách tường; không nhận đồ ăn giữa hai người, không nhận đồ ăn giữa hai cái chày; không nhận đồ ăn từ gia đình đang ăn; không nhận đồ ăn từ nhà có thai; không ăn đồ ăn có chó đứng trước cửa; không nhận đồ ăn nơi nhà có ruồi; không nhận mời ăn; không nhận của người nói đã biết trước; không ăn cá; không ăn thịt; không uống rượu, không ăn bằng hai bát; một bữa ăn một lần nuốt, cho đến bảy bữa thì thôi; nhận thức ăn thêm của người, không nhận quá bảy lần thêm; hoặc một ngày ăn một bữa; hoặc hai ngày, ba ngày, bốn ngày, năm ngày, sáu ngày, bảy ngày ăn một bữa; hoặc chỉ ăn quả; hoặc chỉ ăn cỏ vực; hoặc chỉ uống nước cơm; hoặc ăn mè; hoặc chỉ ăn lúa liêm; hoặc ăn phân bò; hoặc ăn phân nai; hoặc ăn rễ, cành, lá, hoa, hạt của cây; hoặc ăn trái cây tự rụng; hoặc mặc áo; hoặc mặc áo sa thảo; hoặc mặc áo vỏ cây; hoặc lấy cỏ đắp lên mình; hoặc khoác áo da hươu; hoặc bện tóc; hoặc áo bện bằng lông; hoặc áo lượm từ bãi tha ma; hoặc thường đưa tay lên; hoặc không ngồi giường chiếu; hoặc thường ngồi chồm hổm; hoặc có người cạo tóc nhưng để râu; hoặc có người nằm trên gai; hoặc có người nằm trên bầu trái; hoặc có người khỏa thân nằm trên phân bò; hoặc một ngày ba lần tắm; hoặc một đêm ba lần tắm. Bằng vô số sự khổ mà làm khổ thân này. Cù-đàm, đó gọi là khổ hạnh ô uế, có trường hợp được gọi là Sa-môn pháp, có trường hợp được gọi là Bà-la-môn pháp.”
Phật nói:
“Những người khỏa thân cởi bỏ y phục, bằng vô số phương tiện làm khổ thân này; nhưng nếu những người ấy không đầy đủ giới, không đầy đủ kiến, không thể tinh cần tu tập, thì cũng không phát triển rộng lớn.”
Ca-diệp bạch Phật:
“Thế nào là giới đầy đủ, kiến đầy đủ, vượt xa các khổ hạnh, vi diệu bậc nhất?”
Phật bảo Ca-diệp:
“Hãy lắng nghe, hãy suy ngẫm kỹ! Ta sẽ nói cho ông nghe.”
Ca-diệp nói:
“Thưa vâng. Vui lòng xin được nghe.”
Phật nói với Ca-diệp:
“Nếu Như Lai xuất hiện ở đời, cho đến, tứ thiền, ở ngay trong hiện tại mà được an lạc. Vì sao vậy? Ấy do tinh cần, chuyên niệm nhất tâm, ưa ở chỗ nhàn tĩnh, không buông lung vậy. Ca-diệp, đó là giới đầy đủ, kiến đầy đủ, thù thắng hơn các thứ khổ hạnh.”
Ca-diệp nói:
“Cù-đàm, tuy nói rằng giới đầy đủ, kiến đầy đủ, vượt hơn các thứ khổ hạnh, vi diệu bậc nhất; nhưng thật khó thay là pháp Sa-môn; thật khó thay là pháp Bà-la-môn.”
Phật nói:
“Ca-diệp, đó là pháp bất cộng của thế gian, tức là, Sa-môn pháp, Bà-la-môn pháp thật là khó. Ca-diệp, ngay cả cho đến ưu-bà-di cũng biết được pháp đó, là khỏa thân cởi bỏ y phục, cho đến, bằng vô số phương tiện làm khổ mình. Nhưng không biết rằng tâm của người ấy là tâm có nhuế, hay tâm không có nhuế; tâm có hận hay tâm không có hận; tâm có hại hay tâm không có hại. Nếu biết tâm của người ấy, thì không nói rằng pháp Sa-môn, Bà-la-môn là khó. Vì không biết, cho nên nói pháp Sa-môn, Bà-la-môn khó.”
Bấy giờ, Ca-diệp bạch Phật rằng:
“Thế nào là Sa-môn, thế nào là Bà-la-môn có giới cụ túc, kiến cụ túc, là tối thượng, là tối thắng, vi diệu bậc nhất?”
Phật nói:
“Hãy lắng nghe, hãy suy ngẫm kỹ! Ta sẽ nói cho ông nghe.”
“Thưa vâng, Cù-đàm. Vui lòng xin được nghe.”
Phật nói:
“Ca-diệp, Tỳ-kheo kia, bằng với tâm định tĩnh, cho đến, chứng đắc ba minh, diệt trừ các si mê tối tăm, sanh ánh sáng trí tuệ, gọi là lậu tận trí. Vì sao? Ấy là do tinh cần, chánh niệm, chánh tri, ưa chỗ nhàn tĩnh, không buông lung vậy. Ca-diệp, đó gọi là Sa-môn, Bà-la-môn có giới cụ túc, kiến cụ túc, là tối thượng, là tối thắng, vi diệu bậc nhất.”
Ca-diệp nói:
“Cù-đàm, tuy nói đó gọi là Sa-môn, Bà-la-môn có giới cụ túc, kiến cụ túc, là tối thượng, là tối thắng, vi diệu bậc nhất, nhưng pháp Sa-môn, Bà-la-môn thật quá khó, quá khó! Sa-môn cũng khó biết, Bà-la-môn cũng khó biết.”
Phật nói:
“Ưu-bà-tắc cũng có thể tu hành được pháp ấy, nói rằng: ‘Tôi, kể từ hôm nay, có thể khỏa thân cởi bỏ y phục, cho đến, bằng vô số phương tiện gieo khổ cho thân này.’ Không thể do hành vi này mà được gọi là Sa-môn, Bà-la-môn. Nếu chỉ do hành này mà có thể được gọi là Sa-môn, Bà-la-môn, thì không thể nói pháp Sa-môn là quá khó, pháp Bà-la-môn là quá khó. Nhưng không vì hành ấy mà được gọi là Sa-môn, Bà-la-môn, cho nên nói rằng Sa-môn rất khó, Bà-la-môn rất khó.”
Phật lại nói với Ca-diệp:
“Xưa, một thời, Ta ở tại La-duyệt-kỳ, trong hang Thất diệp trên Cao sơn, đã từng giảng về khổ hạnh thanh tịnh cho Phạm-chí Ni-câu-đà. Khi ấy Phạm-chí sanh tâm hoan hỷ, được tín tâm thanh tịnh; cúng dường Ta, xưng tán Ta, cúng dường, tán thán Ta một cách tối thượng.”
Ca-diệp nói:
“Thưa Cù-đàm, ai đối với Cù-đàm mà không phát sanh hoan hỷ, tịnh tín, cúng dường, xưng tán một cách tối thượng? Tôi nay đối với Cù-đàm cũng phát sanh hoan hỷ, tịnh tín, cúng dường, xưng tán một cách tối thượng. Tôi quy y Cù-đàm.”
Phật nói với Ca-diệp:
“Những gì là giới trong thế gian, không có giới nào sánh bằng tăng thượng giới này, huống hồ muốn nói hơn. Những gì là tam-muội, trí tuệ, giải thoát kiến, giải thoát tuệ, không có cái gì sánh ngang với tăng thượng tam-muội, trí tuệ, giải thoát kiến, giải thoát tuệ; huống hồ muốn nói là hơn.
“Này Ca-diệp, được nói là sư tử, là chỉ cho Như Lai, Chí Chân, Đẳng Chánh Giác. Như Lai, khi ở giữa đại chúng tuyên bố Chánh pháp một cách rộng rãi, tự tại, vô úy. Do đó được gọi là sư tử. Thế nào, Ca-diệp, Như Lai khi rống tiếng sư tử, lúc ấy không dũng mãnh sao? Chớ nghĩ như vậy. Như Lai ở giữa đại chúng cất tiếng rống sư tử một cách dũng mãnh. Ca-diệp, ngươi bảo rằng Như Lai ở giữa đại chúng cất tiếng rống sư tử một cách dũng mãnh, nhưng không thể thuyết pháp chăng? Chớ nghĩ như vậy. Vì sao? Như Lai ở giữa đại chúng cất tiếng rống sư tử một cách dũng mãnh và thuyết pháp một cách thiện xảo.
“Thế nào, Ca-diệp, ngươi bảo rằng Như Lai ở giữa đại chúng dũng cảm, vô uý mà cất tiếng rống sư tử, thuyết pháp một cách thiện xảo, nhưng thính giả trong chúng hội không nhất tâm chăng? Chớ nghĩ vậy. Vì sao? Như Lai ở giữa đại chúng dũng cảm, vô uý mà cất tiếng rống sư tử, thuyết pháp một cách thiện xảo, những người đến hội thảy nhất tâm lắng nghe. Thế nào, Ca-diệp, ngươi bảo rằng Như Lai ở giữa đại chúng dũng cảm, vô uý mà cất tiếng rống sư tử, thuyết pháp một cách thiện xảo, những người đến hội thảy nhất tâm lắng nghe, nhưng không hoan hỷ tín thọ phụng hành chăng? Chớ nghĩ như vậy. Vì sao? Như Lai ở giữa đại chúng dũng cảm, vô uý mà cất tiếng rống sư tử, thuyết pháp một cách thiện xảo, những người đến hội thảy nhất tâm lắng nghe, và hoan hỷ tín thọ. Ca-diệp, ngươi bảo rằng Như Lai ở giữa đại chúng dũng cảm, vô uý mà cất tiếng rống sư tử, thuyết pháp một cách thiện xảo, những người đến hội thảy nhất tâm lắng nghe, và hoan hỷ tín thọ, nhưng không cúng dường chăng? Chớ nghĩ như vậy. Vì sao? Như Lai ở giữa đại chúng dũng cảm, vô uý mà cất tiếng rống sư tử, thuyết pháp một cách thiện xảo, những người đến hội thảy nhất tâm lắng nghe, hoan hỷ tín thọ, và thi thiết cúng dường.
“Ca-diệp, ngươi bảo rằng, Như Lai ở giữa đại chúng dũng cảm, vô uý mà cất tiếng rống sư tử, cho đến, tín kính cúng dường, nhưng không cạo bỏ râu tóc, bận ba pháp y, xuất gia tu đạo chăng? Chớ nghĩ như vậy. Vì sao? Như Lai ở giữa đại chúng dũng cảm, vô uý mà cất tiếng rống sư tử, cho đến, tín kính cúng dường, rồi cạo bỏ râu tóc, bận ba pháp y, xuất gia tu đạo.
“Ca-diệp, ngươi bảo rằng Như Lai ở giữa đại chúng dũng cảm, vô uý mà cất tiếng rống sư tử, cho đến, tín kính cúng dường, rồi cạo bỏ râu tóc, bận ba pháp y, xuất gia tu đạo, nhưng không cứu cánh phạm hạnh, đến chỗ an ổn, vô dư Niết-bàn chăng? Chớ nghĩ như vậy. Vì sao? Như Lai ở giữa đại chúng dũng cảm, vô uý mà cất tiếng rống sư tử, cho đến, tín kính cúng dường, cạo bỏ râu tóc, bận ba pháp y, xuất gia tu đạo, rồi cứu cánh phạm hạnh, đến chỗ an nổn, vô dư Niết-bàn.”
Bấy giờ, Ca-diệp bạch Phật rằng:
“Thế nào, thưa Cù-đàm, tôi có thể xuất gia thọ cụ giới trong pháp này được chăng?”
Phật bảo Ca-diệp:
“Nếu dị học muốn đến xuất gia tu đạo trong giáo pháp của Ta, phải lưu bốn tháng quán sát, làm hài lòng chúng tăng, sau đó mới có thể xuất gia thọ giới. Ca-diệp, tuy có pháp như vậy, nhưng cũng xét theo người.”
Ca-diệp nói:
“Nếu dị học muốn đến xuất gia tu đạo trong Phật pháp, phải lưu bốn tháng quán sát, làm hài lòng chúng tăng, sau đó mới có thể xuất gia thọ giới. Con nay có thể ở trong Phật pháp bốn năm quán sát, làm hài lòng chúng tăng, sau đó mới xuất gia thọ giới.”
Phật bảo Ca-diệp:
“Ta đã có nói, cũng còn xét theo người.”
Bấy giờ, Ca-diệp liền ở trong Phật pháp xuất gia thọ cụ túc giới. Rồi thì, Ca-diệp xuất gia thọ giới chưa bao lâu, bằng tín tâm, tu phạm hạnh vô thượng, ở ngay trong đời này mà tự thân chứng ngộ: sanh tử đã dứt, phạm hạnh đã đứng vững, điều cần làm đã làm xong, không còn tái sanh nữa; tức thời thành A-la-hán.
Bấy giờ, Ca-diệp nghe những điều Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.
如是我聞:
一時,佛在委若國金槃鹿野林 T 0102c26中,與大比丘眾千二百五十人俱。
時,有倮 T 0102c27形梵志姓迦葉,詣世尊所,問訊已,一面坐。 T 0102c28倮形迦葉白佛言:「我聞沙門瞿曇呵責一切 T 0102c29諸祭祀法,罵諸苦行人以為弊穢。瞿曇!若 T 0103a01有言:『沙門瞿曇呵責一切諸祭祀法,罵苦行 T 0103a02人以為弊穢。』作此言者,是為法語,法法成 T 0103a03就,不誹謗沙門瞿曇耶?」
佛言:「迦葉!彼若言: T 0103a04『沙門瞿曇呵責一切諸祭祀法,罵苦行人 T 0103a05以為弊穢。』者,彼非法言,非法法成就,為 T 0103a06誹謗我,非誠實言。所以者何?迦葉!我見彼 T 0103a07等苦行人,有身壞命終,墮地獄中者;又見 T 0103a08苦行人身壞命終,生天善處者;或見苦行 T 0103a09人樂為苦行,身壞命終,生地獄中者;或見 T 0103a10苦行人樂為苦行,身壞命終,生天善處者。 T 0103a11迦葉!我於此二趣所受報處,盡知盡見,我寧 T 0103a12可呵責諸苦行者以為弊穢耶?我正說是, T 0103a13彼則言非,我正說非,彼則言是。迦葉!有法 T 0103a14沙門、婆羅門同,有法沙門、婆羅門不同。迦 T 0103a15葉!彼不同者,我則捨置,以此法不與沙門、 T 0103a16婆羅門同故。
「迦葉!彼有智者作如是觀,沙 T 0103a17門瞿曇於不善法、重濁、黑冥、非賢聖法,彼異 T 0103a18眾師於不善法、重濁、黑冥、非賢聖法,誰能堪 T 0103a19任滅此法者?迦葉!彼有智者作是觀時,如 T 0103a20是知見,唯沙門瞿曇能滅是法。迦葉!彼有智 T 0103a21者作如是觀,如是推求,如是論時,我於此 T 0103a22中則有名稱。
「復次,迦葉!彼有智者作如是 T 0103a23觀,沙門瞿曇弟子於不善法、重濁、黑冥、非賢 T 0103a24聖法,彼異眾師弟子於不善法、重濁、黑冥、非 T 0103a25賢聖法,誰能堪任滅此法者?迦葉!彼有智 T 0103a26者作如是觀,如是知見,唯沙門瞿曇弟子能 T 0103a27滅是法。迦葉!彼有智者作如是觀,如是推 T 0103a28求,如是論時,我弟子則得名稱。
「復次,迦葉! T 0103a29彼有智者作如是觀,沙門瞿曇於諸善法、 T 0103b01清白、微妙及賢聖法,彼異眾師於諸善法、清 T 0103b02白、微妙及賢聖法,誰能堪任增廣修行者?迦 T 0103b03葉!彼有智者作如是觀,如是知見,唯有沙 T 0103b04門瞿曇堪任增長修行是法。迦葉!彼有智 T 0103b05者作如是觀,如是推求,如是論時,我於此 T 0103b06中則有名稱。
「迦葉!彼有智者作如是觀,沙 T 0103b07門瞿曇弟子於諸善法、清白、微妙及賢聖法, T 0103b08彼異眾師弟子於諸善法、清白、微妙及賢聖 T 0103b09法,誰能堪任增長修行者?迦葉!彼有智者 T 0103b10作如是觀,如是知見,唯有沙門瞿曇弟子 T 0103b11能堪任增長修行是法。迦葉!彼有智者作 T 0103b12如是觀,如是推求,如是論時,於我弟子 T 0103b13則有名稱。迦葉!有道有迹,比丘於中修行, T 0103b14則自知自見,沙門瞿曇時說、實說、義說、法說、 T 0103b15律說。
「迦葉!何等是道?何等是迹?比丘於中修 T 0103b16行,自知自見,沙門瞿曇時說、實說、義說、法說、 T 0103b17律說。迦葉!於是比丘修念覺意,依止息,依 T 0103b18無欲,依出要;修法、精進、喜、猗、定、捨覺意,依 T 0103b19止息,依無欲,依出要。迦葉!是為道,是為 T 0103b20迹,比丘於中修行,自知自見,沙門瞿曇時說、 T 0103b21實說、義說、法說、律說。」
迦葉言:「瞿曇!唯有是道、 T 0103b22是迹,比丘於中修行,自知自見。沙門瞿曇時 T 0103b23說、實說、義說、法說、律說。但苦行穢污,有得婆 T 0103b24羅門名,有得沙門名。何等是苦行穢污,有 T 0103b25得婆羅門名,有得沙門名?瞿曇!離服倮形, T 0103b26以手自障蔽,不受夜食,不受朽食,不 T 0103b27受兩壁中間食,不受 二 人中間食,不受 T 0103b28兩刀中間食,不受兩杇中間食,不受共食 T 0103b29家食,不受懷姙家食,狗在門前不食其 T 0103c01食,不受有蠅家食,不受請食。他言先識則 T 0103c02不受其飡,不食魚,不食肉,不飲酒,不兩 T 0103c03器食,一飡一咽,至七飡止,受人益食,不過 T 0103c04七益,或一日一食,或二日、三日、四日、五日、六 T 0103c05日、七日一食。或復食果,或復食莠,或食飯 T 0103c06汁,或食麻米,或食 [禾*咸] 稻,或食牛糞,或食 T 0103c07鹿糞,或食樹根枝葉花實,或食自落果;或 T 0103c08披衣,或披莎衣,或衣樹皮,或草襜身,或 T 0103c09衣鹿皮,或留髮,或被毛編,或著塚間衣;或 T 0103c10有常舉手者,或不坐床席,或有常蹲者,或 T 0103c11有剃髮留髭鬚者,或有臥荊棘上者,或有 T 0103c12臥果蓏上者,或有倮形臥牛糞上者;或一 T 0103c13日三浴,或一夜三浴,以無數苦,苦役此身。 T 0103c14瞿曇!是為苦行穢污,或得沙門名,或得婆 T 0103c15羅門名。」
佛言:「迦葉!離服倮形者,以無數方 T 0103c16便苦役此身,彼戒不具足,見不具足,不 T 0103c17能勤修,亦不廣普。」
迦葉白佛言:「云何為戒 T 0103c18具足?云何為見具足?過諸苦行,微妙第一。」
T 0103c19佛告迦葉:「諦聽,善思念之,當為汝說。」
迦葉 T 0103c20言:「唯然。瞿曇!願樂欲聞。」
佛告迦葉:「若如來、 T 0103c21至真出現於世,乃至四禪,於現法中而得 T 0103c22快樂。所以者何?斯由精勤,專念一心,樂於 T 0103c23閑靜,不放逸故。迦葉!是為戒具足,見具足, T 0103c24勝諸苦行,微妙第一。」
迦葉言:「瞿曇!雖曰戒 T 0103c25具足,見具足,過諸苦行,微妙第一,但沙門法 T 0103c26難,婆羅門法難。」
佛言:「迦葉!此是世間不共 T 0103c27法。所謂沙門法、婆羅門法難,迦葉!乃至優婆 T 0103c28夷亦能知此法。離服倮形,乃至無數方便苦 T 0103c29役此身,但不知其心:為有恚心、為無恚心, T 0104a01有恨心、無恨心,有害心、無害心?若知此心 T 0104a02者,不名沙門、婆羅門,為已不知故,沙門、婆 T 0104a03羅門為難。」
爾時,迦葉白佛言:「何等是沙門、 T 0104a04何等是婆羅門,戒具足、見具足,為上為勝,微 T 0104a05妙第一?」
佛告迦葉:「諦聽,諦聽,善思念之,當 T 0104a06為汝說。」
迦葉言:「唯然。瞿曇!願樂欲聞。」
佛言: T 0104a07「迦葉!彼比丘以三昧心,乃至得三明,滅諸 T 0104a08癡冥,生智慧明,所謂漏盡智生。所以者何? T 0104a09斯由精勤,專念不忘,樂獨閑靜,不放逸故。 T 0104a10迦葉!此名沙門、婆羅門,戒具足、見具足,最勝 T 0104a11最上,微妙第一。」
迦葉言:「瞿曇!雖言是沙門、 T 0104a12婆羅門,見具足、戒具足,為上為勝,微妙第一。 T 0104a13但沙門、婆羅門法,甚難!甚難!沙門亦難知,婆 T 0104a14羅門亦難知。」
佛告迦葉:「優婆塞亦能修行 T 0104a15此法。」白言:「我從今日能離服倮形,乃至以 T 0104a16無數方便苦役此身,不可以此行名為沙 T 0104a17門、婆羅門,若當以此行名為沙門、婆羅門 T 0104a18者,不得言沙門甚難!婆羅門甚難!不以此 T 0104a19行為沙門、婆羅門故,言沙門甚難!婆羅門 T 0104a20甚難!」
佛告迦葉:「我昔一時在羅閱祇,於高 T 0104a21山七葉窟中,曾為尼俱陀梵志說清淨苦 T 0104a22行。時梵志生歡喜心,得清淨信,供養我、稱 T 0104a23讚我,第一供養稱讚於我。」
迦葉言:「瞿曇!誰 T 0104a24於瞿曇不生第一歡喜、淨信、供養、稱讚者? T 0104a25我今於瞿曇亦生第一歡喜,得清淨信,供 T 0104a26養、稱讚,歸依瞿曇。」
佛告迦葉:「諸世間諸所有 T 0104a27戒,無有與此增上戒等者,況欲出其上? T 0104a28諸有三昧、智慧、解脫、見解脫慧,無有與此增 T 0104a29上三昧、智慧、解脫、見解脫慧等者,況欲出其 T 0104b01上?迦葉!所謂師子者,是如來、至真、等正覺, T 0104b02如來於大眾中廣說法時,自在無畏,故號師 T 0104b03子。云何?迦葉!汝謂如來師子吼時不勇捍 T 0104b04耶?勿造斯觀,如來師子吼勇捍無畏。迦葉! T 0104b05汝謂如來勇捍師子吼時不在大眾中耶? T 0104b06勿造斯觀,如來在大眾中勇捍師子吼。迦 T 0104b07葉!汝謂如來在大眾中作師子吼不能說 T 0104b08法耶?勿造斯觀。所以者何?如來在大眾中 T 0104b09勇捍無畏,作師子吼,善能說法。
「云何?迦葉! T 0104b10汝謂如來於大眾中勇捍無畏,為師子吼, T 0104b11善能說法,眾 會 聽者不一心耶?勿造斯觀。 T 0104b12所以者何?如來在大眾中勇捍無畏,為師 T 0104b13子吼,善能說法,諸來會者皆一心聽。云何?迦 T 0104b14葉!汝謂如來在大眾中勇捍無畏,為師子 T 0104b15吼,善能說法,諸來會者皆一心聽,而不歡喜信 T 0104b16受行耶?勿造斯觀。所以者何?如來在大眾 T 0104b17中勇捍多力,能師子吼,善能說法,諸來會 T 0104b18者皆一心聽,歡喜信受。迦葉!汝謂如來在大 T 0104b19眾中勇捍無畏,為師子吼,善能說法,諸來 T 0104b20會者歡喜信受,而不供養耶?勿造斯觀,如 T 0104b21來在大眾中勇捍無畏,為師子吼,善能說 T 0104b22法,諸來會者皆一心聽,歡喜信受,而設供養。
T 0104b23「迦葉!汝謂如來在大眾中勇捍無畏,為師 T 0104b24子吼,乃至信敬供養,而不剃除鬚髮,服三法 T 0104b25衣,出家修道耶?勿造斯觀。所以者何?如來 T 0104b26在大眾中勇捍無畏,乃至信敬供養,剃 T 0104b27除鬚髮,服三法衣,出家修道。迦葉!汝謂如來 T 0104b28在大眾中勇捍無畏,乃至出家修道,而不究 T 0104b29竟梵行,至安隱處,無餘泥洹耶?勿造斯觀。 T 0104c01所以者何?如來於大眾中勇捍無畏,乃至出 T 0104c02家修道,究竟梵行,至安隱處,無餘泥洹。」
時,迦 T 0104c03葉白佛言:「云何?瞿曇!我得於此法中出家 T 0104c04受具戒不?」
佛告迦葉:「若異學欲來入我法 T 0104c05中出家修道者,當留四月觀察,稱可眾意, T 0104c06然後當得出家受戒。迦葉!雖有是法,亦觀 T 0104c07其人耳。」
迦葉言:「若有異學欲來入佛法中 T 0104c08修梵行者,當留四月觀察,稱可眾意,然後 T 0104c09當得出家受戒。我今能於佛法中四歲觀 T 0104c10察,稱可眾意,然後乃出家受戒。」
佛告迦葉: T 0104c11「我已有言,但觀其人耳。」
爾時,迦葉即於佛 T 0104c12法中出家受具足戒。時,迦葉受戒未久,以 T 0104c13淨信心修無上梵行,現法中自身作證,生 T 0104c14死已盡,梵行已立,所作已辦,不受後有,即 T 0104c15成阿羅漢。
爾時,迦葉聞佛所說,歡喜奉行。
T 0104c16 SC 1Thus I have heard: One time, the Buddha was staying at the deer preserve near Karṇakāṣṭha of [Ujuññā]. He was accompanied by a large assembly of 1,250 monks.
SC 2A naked wanderer from the Kāśyapa clan visited the Bhagavān. After they exchanged greetings, he sat to one side. That naked Kāśyapa said to the Buddha, “I hear that the ascetic Gautama criticizes all ritual practices and rebukes other ascetics, considering them corrupt. Gautama, suppose someone said, ‘The ascetic Gautama criticizes all the ritual practices and rebukes other ascetics, considering them corrupt.’ If someone says this is Dharma speech that accomplishes the teachings, would they not be slandering the ascetic Gautama?”
SC 3The Buddha replied, “Kāśyapa, suppose someone said, ‘The ascetic Gautama criticizes all ritual practices and rebukes other ascetics, considering them corrupt.’ That wouldn’t be Dharma speech that accomplishes the teachings. They would be slandering me, for it’s not a true statement. Why is that?
SC 4“Kāśyapa, I’ve seen those ascetics fall into hell when their bodies broke up and their lives ended. I’ve also seen ascetics born in a heavenly good place when their bodies broke up and their lives ended. Sometimes, I’ve seen ascetics who enjoyed the ascetic practices born in hell when their bodies broke up and their lives ended. Sometimes, I’ve seen ascetics who enjoyed the ascetic practices born in a heavenly good place.
SC 5“Kāśyapa, I fully know and fully see these two destinies that are places gotten as rewards. Why would I want to rebuke all those ascetics and consider them corrupt? When I correctly say ‘Yes,’ they then say ‘No.’ When I correctly say ‘No,’ they say ‘Yes.’ Kāśyapa, there are ascetics and priests who equally possess the way, and there are ascetics and priest who don’t equally possess the way. Kāśyapa, those who aren’t equal are the ones that I set aside because their teaching isn’t shared with ascetics and priests equally.
SC 6“Kāśyapa, those who are wise make this observation: ‘When the ascetic Gautama had unskillful qualities, quite defiled, dark, and ignoble and when other teachers had the same qualities, which of them was capable of destroying these qualities?’ Kāśyapa, when the wise make this observation, they thus know and see that only the ascetic Gautama was able to destroy these qualities. Kāśyapa, when those who are wise make this observation, inquire into this, and discuss this, I’m the one who they name as being so.
SC 7“Furthermore, Kāśyapa, those who are wise make this observation: ‘When the ascetic Gautama’s disciples have unskillful qualities, quite defiled, dark, and ignoble and the disciple of other teachers have the same qualities, which of them is capable of destroying these qualities? Kāśyapa, when those who are wise make this observation, they thus know and see: ‘The ascetic Gautama’s disciples are able to destroy these qualities.’ Kāśyapa, when the wise make this observation, inquire into this, and discuss this, my disciples are who they name.
SC 8“Furthermore, Kāśyapa, those who are wise make this observation, ‘The ascetic Gautama has skillful qualities, pristine, sublime, and noble and other teachers have the same qualities. Which of them is capable of cultivating and making them grow?’ Kāśyapa, when the wise make this observation, they thus know and see: ‘Only the ascetic Gautama is capable of cultivating these qualities and making them grow.’ Kāśyapa, when the wise make this observation, inquire into this, and discuss this, I’m the one who they name as being so.
SC 9“Kāśyapa, those who are wise make this observation: ‘When the ascetic Gautama’s disciples have skillful qualities, pristine, sublime, and noble, and the disciples of other teachers have the same qualities, which of them is capable of cultivating them and making them grow?’ Kāśyapa, when the wise make this observation, they thus know and see, ‘Only the ascetic Gautama’s disciples are capable of cultivating these qualities and making them grow.’ Kāśyapa, when the wise make this observation, inquire into this, and discuss this, my disciples are who they name.
SC 10“Kāśyapa, there’s a path and a way that a monk cultivates, and then he himself will know and see: ‘The ascetic Gautama’s speech is timely, genuine, meaningful, the teaching, and the discipline.’ Kāśyapa, what is the path and what are the way that a monk cultivates, and then he himself will know and see: ‘The ascetic Gautama’s speech is timely, genuine, meaningful, the teaching, and the discipline’?
SC 11“Kāśyapa, a monk cultivates the awakening factor of mindfulness based on stopping, lack of desire, and escape. He cultivates the awakening factor of the teaching … effort … joy … calm … samādhi … equanimity based on stopping, lack of desire, and escape. Kāśyapa, this is the path and the way that a monk cultivates, and then he himself will know and see: ‘The ascetic Gautama’s speech is timely, genuine, meaningful, the teaching, and the discipline.”
SC 12Kāśyapa said, “Gautama, there’s only this path and this way that a monk cultivates, and then he himself knows and sees: ‘The ascetic Gautama’s speech is timely, genuine, meaningful, the teaching, and the discipline.’ It’s only the dirty ascetic practices that make it possible to be named a priest or an ascetic. What dirty ascetic practices make it possible to be named a priest or an ascetic?
SC 13“Gautama, they part with clothing and go naked, covering themselves with their hands. They don’t accept food in pots or bowls. They don’t accept food while between two walls, between two people, between two blades, or between two bowls. They don’t accept food when a family is eating together, when there’s a pregnancy in the household, when they see a dog at the door, or when a home has many flies.
SC 14“They don’t accept invitations to meals or food from someone who says they know them. They don’t eat fish or meat and don’t drink wine. They don’t take two bowls of food, considering one swallow to be a meal up to seven meals and stopping. When they accept a person’s beneficial food, they don’t do so more than seven times. Sometimes, they eat one meal a day or one every two days, three days, four days, five days, six days, or seven days.
SC 15“Sometimes, they eat fruit or weeds and drink juice. They eat flax seed, rice, long-grain rice, cow dung, deer dung, tree roots, branches, leaves, and fruit, or fruit that has fallen naturally.
SC 16“Sometimes, they wear clothes, throw on sedge as clothes, wear tree bark, curtain yourselves in grass, or wear deerskin. Sometimes, they fasten head hair to themselves, wear plaited hair, or wear clothes from a charnel ground.
SC 17“Sometimes, they keep your arms raised all the time, don’t sit on couches or mats, or crouch all the time. Sometimes, they cut their hair and fasten it to their beard, lie on thorns, lie on fruits and berries, or lie naked on cow dung. Sometimes, they bath three times a day or three times a night. They torment their bodies with these countless hardships. Gautama, these are the dirty practices that make it possible to be named a priest or ascetic.”
SC 18The Buddha said, “Kāśyapa, parting with clothes and going naked … tormenting one’s body with these countless hardships, their precepts aren’t complete, and their views aren’t complete. They aren’t able to diligently cultivate, and their [teachings] aren’t broad and open.”
SC 19Kāśyapa said to the Buddha, “What are the completion of precepts and completion of views that go beyond the ascetic practices and that are fine and supreme?”
SC 20The Buddha told Kāśyapa, “Listen closely, and well consider it. I’ll explain it for you.”
Kāśyapa said, “Very well, Gautama. I’d be glad to hear it.”
SC 21The Buddha addressed Kāśyapa, “If a Tathāgata, an Arhat, arises in the world … the four dhyānas, then he attains happiness in the present life. Why is that? These things are a result of diligence, focused attention, unified mind, delighting in quiet seclusion, and not being self-indulgent. Kāśyapa, this is the completion of precepts and completion of views that surpasses the ascetic practices, that’s fine and supreme.”
Kāśyapa said, “Gautama, although you say this completion of precepts and completion of views surpasses the ascetic practices and is fine and supreme, it’s only being an ascetic or priest that’s difficult.”
SC 22The Buddha said, “Kāśyapa, this is world’s special teaching, that the teachings of ascetics and priests are difficult. Kāśyapa, even a laywoman can understand these teachings. Parting with clothing and going naked … tormenting one’s body with these countless hardships, a person still doesn’t understand their mind: ‘Am I angry or not … resentful or not … harmful or not?’ If someone knows these mental states, they aren’t named ascetics or priests. It’s because they don’t understand themselves that being an ascetic or priest is difficult.”
SC 23Kāśyapa then said to the Buddha, “What’s an ascetic or a priest like whose precepts and views are complete and who’s higher, superior, fine, and supreme?”
SC 24The Buddha told Kāśyapa, “Listen closely, listen closely! Consider it well. I will explain this for you.”
Kāśyapa said, “Very well, Gautama. I’d be glad to hear it.”
SC 25The Buddha said, “Kāśyapa, with samādhi of mind, a monk … attains the three insights, destroys the darkness of delusions, and produces the light of wisdom. This is called producing the knowledge that the contaminants have ended. Why is that? These things are a result of diligence, focused attention, not being forgetful, delighting in quiet seclusion, and not being self-indulgent. Kāśyapa, this is called an ascetic or priest whose precepts and views are complete, and who’s superior, higher, fine, and supreme.
Kāśyapa said, “Gautama, although you say this is an ascetic or priest whose views and precepts are complete and who’s higher, superior, fine, and supreme, it’s only being an ascetic or priest that’s exceedingly difficult. It’s exceedingly difficult! An ascetic is also hard to know, and a priest is also hard to know.”
SC 26The Buddha told Kāśyapa, “A layman can cultivate this teaching, too. Someone who says ‘From this day forward, I will part with clothing and go naked … and torment my body with these countless hardships’ can’t be called an ascetic or a priest on account of these practices. If they were called an ascetic or priest because of these practices, it couldn’t be said, ‘Being an ascetic is exceedingly difficult! Being a priest is exceedingly difficult!’ That isn’t possible to say on account of these practices of ascetics and priests, ‘Being an ascetic is exceedingly difficult! Being a priest is exceedingly difficult!’”
SC 27The Buddha told Kāśyapa, “There was once a time I was in Rājagṛha, staying at Saptaparṇa Cave near Mount Vaibhāra. There, I explained to that wanderer Nigrodha the pure ascetic practices. That wanderer rejoiced, attained pure faith, gave offerings to me, praised me, and gave his best offerings and praise to me.”
Kāśyapa said, “Gautama, who hasn’t Gautama made rejoice greatly, attain pure faith, make offerings, and praise him? Now, Gautama has made me rejoice, attain pure faith, make offerings, and praise him. I take refuge in Gautama.”
SC 28The Buddha told Kāśyapa, “Those precepts possessed by the world don’t possess or accompany the higher precepts, and the rest. How could they want to produce anything higher? They possess samādhi, wisdom, and liberation, and have seen the liberation of wisdom, but they don’t possess or accompany these higher samādhi, wisdom, liberation, and seeing the liberation of wisdom. How could they want to produce anything higher?
SC 29“Kāśyapa, the Tathāgata, Arhat, and Completely Awakened One is a lion. When he teachings Dharma in detail in a great assembly, he’s sovereign and fearless, so he’s called a lion.
SC 30“How is it, Kāśyapa? Would you say that Tathāgata isn’t courageous when he roars the lion’s roar? Don’t imagine this. The Tathāgata’s lion’s roar is courageous and fearless.
SC 31“Kāśyapa, would you say the Tathāgata’s courageous and fearless lion’s roar isn’t done in a large assembly? Don’t imagine this. The Tathāgata courageously roars the lion’s roar in a large assembly.
SC 32“Kāśyapa, would you say that the Tathāgata doesn’t teach the Dharma when he courageously roars the lion’s roar in a large assembly? Don’t imagine this. Why is that? The Tathāgata skillfully teaches the Dharma when he courageously and fearlessly roars the lion’s roar in a large assembly.
SC 33“How is it, Kāśyapa? Would you say that the audience isn’t unified in mind when the Tathāgata courageously and fearlessly roars the lion’s roar in a large assembly and skillfully teaches the Dharma? Don’t imagine this. Why is that? When the Tathāgata courageously and fearlessly roars the lion’s roar in a large assembly and skillfully teaches the Dharma, the audience is unified in mind.
SC 34“How is it, Kāśyapa? Would you say that the audience doesn’t rejoice, believe, and accept it when the Tathāgata courageously and fearlessly roars the lion’s roar in a large assembly, skillfully teaches the Dharma, and those present listen with unified minds? Don’t imagine this. Why is that? When the Tathāgata courageously and fearlessly roars the lion’s roar in a large assembly, skillfully teaches the Dharma, and the audience that’s present listens with unified minds, they rejoice, believe, and accept it.
SC 35“Kāśyapa, would you say that the audience doesn’t make offerings when the Tathāgata courageously and fearlessly roars the lion’s roar in a large assembly, skillfully teaches the Dharma, and the audience rejoices, believes, and accepts it? Don’t imagine this. [Why is that?] When the Tathāgata courageously and fearlessly roars the lion’s roar in a large assembly, skillfully teaches the Dharma, and the audience rejoices, believes, and accepts it, they make offerings to him.
SC 36“Kāśyapa, would you say that the audience doesn’t shave their hair and beard, put on the three Dharma robes, leave home, and cultivate the path when the Tathāgata courageously and fearlessly roars the lion’s roar in a large assembly … and they believe, respect, and make offerings? Don’t imagine this. Why is that? When the Tathāgata courageously and fearlessly roars the lion’s roar in a large assembly … and they believe, respect, and make offerings, the audience shaves their hair and beard, put on the three Dharma robes, leave home, and cultivate the path.
SC 37“Kāśyapa, would you say that the audience doesn’t practice the ultimate religious practice and reach the peaceful abode, which is Nirvāṇa without remainder, when the Tathāgata courageously and fearlessly roars the lion’s roar in a large assembly … and they leave home and cultivate the path? Don’t imagine this. Why is that? When the Tathāgata courageously and fearlessly roars the lion’s roar in a large assembly … and they leave home and cultivate the path, the audience does practice the ultimate religious practice and reach a peaceful abode, which is Nirvāṇa without remainder.”
SC 38Kāśyapa then said to the Buddha, “How, Gautama, do I leave home and accept the full precepts in this teaching?”
The Buddha told Kāśyapa, “If someone from another training wishes to enter my teaching, leave home, and cultivate the path, they will wait and be observed for four months and receive the Saṅgha’s assent. Afterward, they can leave home and accept the precepts. Kāśyapa, this is simply because, while there is this teaching, we also observe the person.”
SC 39Kāśyapa said, “If someone from another training wishes to enter the Buddha’s teaching and cultivate the religious life, they will wait to be observed for four months to assess their many ideas. Afterward, they can leave home and receive the Saṅgha’s assent. Now, I would be willing to wait for four years of observation to enter the Buddha’s teaching to receive the Saṅgha’s assent. Afterward, I’ll leave home and accept the precepts.”
The Buddha told Kāśyapa, “I would give you my assent, but it’s simply that we observe the person [first].”
SC 40Kāśyapa then left home and accepted the full precepts in the Buddha’s teaching. It wasn’t long after Kāśyapa had accepted the precepts that he was cultivating the unsurpassed religious practice with pure faith. In the present life, he himself realized: “My births have been ended, the religious practice has been established, and the task has been accomplished. I won’t be subject to a later existence.” He had become an arhat.
SC 41When Kāśyapa heard what the Buddha taught, he rejoiced and approved.
Tôi nghe như vầy:
Một thời, Phật ở tại nước Úy-nhã, trong rừng Kim bàn Lộc dã, cùng với chúng đại Tỳ-kheo một ngàn hai trăm năm mươi người.
Bấy giờ, có một phạm-chí lõa hình họ là Ca-diệp đi đến chỗ Thế Tôn, sau khi chào hỏi xong, ngồi xuống một bên. Phạm-chí lõa hình Ca-diệp bạch Phật rằng:
“Sa-môn Cù-đàm chê bai tất cả các pháp tế tự; mắng những người khổ hạnh là dơ dáy. Cù-đàm, nếu có người nói rằng: ‘Sa-môn Cù-đàm chê bai tất cả các pháp tế tự; mắng những người khổ hạnh là dơ dáy.’ Nói như vậy có phải là nói tùy thuận pháp không? Có nói tùy thuận pháp không? Không phỉ báng Sa-môn Cù-đàm chăng?”
Phật nói:
“Ca-diệp, người kia nói: ‘Sa-môn Cù-đàm chê bai tất cả các pháp tế tự; mắng những người khổ hạnh là dơ dáy.’ Đó không phải là lời nói đúng pháp, không phải tùy thuận pháp, là phỉ báng Ta, không phải là lời nói thành thật. Vì sao? Này Ca-diệp, Ta thấy, trong những người khổ hạnh kia, có người khi thân hoại mạng chung đọa vào địa ngục; lại thấy có người khổ hạnh khi thân hoại mạng chung được sanh thiên, sanh chỗ thiện. Hoặc thấy người khổ hạnh ưa làm việc khổ hành, khi thân hoại mạng chung, sanh vào địa ngục. Hoặc thấy người khổ hạnh ưa làm việc khổ hạnh, khi thân hoại mạng chung, sanh thiên, sanh chỗ thiện. Ta đối với trường hợp thọ báo với hai thú hướng ấy, thấy hết biết hết, làm sao có thể Ta chỉ trích người tu khổ hạnh cho là dơ dáy? Điều Ta rõ ràng nói là phải, người kia nói là không phải. Điều Ta rõ ràng nói không phải, người kia nói là phải.
“Này Ca-diệp, có pháp đồng với Sa-môn, Bà-la-môn. Có pháp không đồng với Sa-môn, Bà-la-môn. Ca-diệp, pháp nào không đồng, Ta bỏ qua, vì pháp ấy không đồng Sa-môn, Bà-la-môn vậy.
“Này Ca-diệp, những người có trí kia quán sát như vầy: đối với pháp bất thiện, nặng nề ô trược, tối tăm, không phải là pháp Hiền Thánh, giữa Sa-môn Cù-đàm và các Tông sư dị học kia, ai là người có khả năng diệt trừ pháp này? Ca-diệp, người có trí kia khi quán sát như vậy, liền thấy biết như vầy: duy chỉ Sa-môn Cù-đàm có khả năng diệt trừ pháp ấy. Ca-diệp, người có trí kia khi quán sát như vậy, suy cầu như vậy, luận thuyết như vậy, Ta ở trong đó có được danh xưng.
“Lại nữa, Ca-diệp, vị có trí kia quán sát như vầy: đệ tử của Sa-môn Cù-đàm, đối với pháp bất thiện, nặng nề ô trược, tối tăm, không phải pháp Hiền Thánh; hay đệ tử các Tông sư dị học kia, đối với pháp bất thiện, nặng nề, ô trược, tối tăm, không phải pháp Hiền Thánh; ai có khả năng diệt trừ pháp này? Ca-diệp, vị có trí kia quán sát như vậy, liền thấy, biết như vầy: duy chỉ đệ tử của Sa-môn Cù-đàm có khả năng diệt trừ pháp ấy. Ca-diệp, vị có trí kia khi quán sát như vậy, suy cầu như vậy, luận như vậy, đệ tử Ta có được danh xưng.
“Lại nữa, Ca-diệp, vị có trí kia quán sát như vầy: Sa-môn Cù-đàm, đối với pháp thiện, thanh bạch, vi diệu, và là pháp Hiền Thánh; hay các Tông sư dị học kia, đối với pháp thiện, thanh bạch, vi diệu, và là pháp Hiền Thánh; ai là người có khả năng làm lớn rộng để tu hành? Ca-diệp, vị có trí kia quán sát như vậy, liền thấy biết như vầy: duy chỉ có Sa-môn Cù-đàm có khả năng làm lớn rộng, tu hành pháp ấy. Ca-diệp, người có trí kia khi quán sát như vậy, suy cầu như vậy, luận thuyết như vậy, Ta ở trong đó có được danh xưng.
“Lại nữa, Ca-diệp, vị có trí kia quán sát như vầy: đệ tử của Sa-môn Cù-đàm, đối với pháp thiện, thanh bạch, vi diệu, và là pháp Hiền Thánh; hay đệ tử của các tông sư dị học kia, đối với pháp thiện, thanh bạch, vi diệu, và là pháp Hiền Thánh; ai là người có khả năng làm lớn rộng, tu hành? Ca-diệp, vị có trí kia quán sát như vậy, liền thấy biết như vầy: duy chỉ có đệ tử của Sa-môn Cù-đàm có khả năng làm lớn rộng, tu hành pháp ấy. Ca-diệp, người có trí kia khi quán sát như vậy, suy cầu như vậy, luận thuyết như vậy, đệ tử Ta ở trong đó có được danh xưng.
“Ca-diệp, có đạo, có tích, để Tỳ-kheo ở trong đó tu hành mà tự mình thấy, tự mình biết: Sa-môn Cù-đàm nói đúng thời, nói sự thật, nói có nghĩa, nói đúng pháp, nói đúng luật.
“Ca-diệp, thế nào là đạo, thế nào là tích, để Tỳ-kheo ở trong đó tu hành mà tự mình thấy, tự mình biết: Sa-môn Cù-đàm nói đúng thời, nói sự thật, nói có nghĩa, nói đúng pháp, nói đúng luật? Này Ca-diệp, ở đây Tỳ-kheo tu niệm giác chi, y tịch diệt, y vô dục, y xuất ly. Tu pháp, tinh tấn, hỷ, khinh an, định, xả giác ý, y tịch diệt, y vô dục, y xuất yếu. Ca-diệp, đó là đạo, đó là tích, để Tỳ-kheo ở trong đó tu hành mà tự mình thấy, tự mình biết: Sa-môn Cù-đàm nói đúng thời, nói sự thật, nói có nghĩa, nói đúng pháp, nói đúng luật.”
Ca-diệp nói:
“Cù-đàm, duy chỉ đạo ấy, tích ấy, Tỳ-kheo ở trong đó tu hành mà tự mình thấy, tự mình biết: Sa-môn Cù-đàm nói đúng thời, nói sự thật, nói có nghĩa, nói đúng pháp, nói đúng luật. Nhưng với khổ hạnh ô uế, có trường hợp đựơc gọi là Bà-la-môn, có trường hợp được gọi là Sa-môn.
“Những khổ hạnh ô uế nào, mà có trường hợp được gọi là Bà-la-môn, có trường hợp được gọi là Sa-môn?
“Thưa Cù Đàm, đó là: khỏa thân, cởi bỏ y phục, rồi lấy tay che; không nhận đồ ăn từ nồi chảo; không nhận đồ ăn từ chậu nước; không nhận đồ ăn giữa hai vách tường; không nhận đồ ăn giữa hai người, không nhận đồ ăn giữa hai cái chày; không nhận đồ ăn từ gia đình đang ăn; không nhận đồ ăn từ nhà có thai; không ăn đồ ăn có chó đứng trước cửa; không nhận đồ ăn nơi nhà có ruồi; không nhận mời ăn; không nhận của người nói đã biết trước; không ăn cá; không ăn thịt; không uống rượu, không ăn bằng hai bát; một bữa ăn một lần nuốt, cho đến bảy bữa thì thôi; nhận thức ăn thêm của người, không nhận quá bảy lần thêm; hoặc một ngày ăn một bữa; hoặc hai ngày, ba ngày, bốn ngày, năm ngày, sáu ngày, bảy ngày ăn một bữa; hoặc chỉ ăn quả; hoặc chỉ ăn cỏ vực; hoặc chỉ uống nước cơm; hoặc ăn mè; hoặc chỉ ăn lúa liêm; hoặc ăn phân bò; hoặc ăn phân nai; hoặc ăn rễ, cành, lá, hoa, hạt của cây; hoặc ăn trái cây tự rụng; hoặc mặc áo; hoặc mặc áo sa thảo; hoặc mặc áo vỏ cây; hoặc lấy cỏ đắp lên mình; hoặc khoác áo da hươu; hoặc bện tóc; hoặc áo bện bằng lông; hoặc áo lượm từ bãi tha ma; hoặc thường đưa tay lên; hoặc không ngồi giường chiếu; hoặc thường ngồi chồm hổm; hoặc có người cạo tóc nhưng để râu; hoặc có người nằm trên gai; hoặc có người nằm trên bầu trái; hoặc có người khỏa thân nằm trên phân bò; hoặc một ngày ba lần tắm; hoặc một đêm ba lần tắm. Bằng vô số sự khổ mà làm khổ thân này. Cù-đàm, đó gọi là khổ hạnh ô uế, có trường hợp được gọi là Sa-môn pháp, có trường hợp được gọi là Bà-la-môn pháp.”
Phật nói:
“Những người khỏa thân cởi bỏ y phục, bằng vô số phương tiện làm khổ thân này; nhưng nếu những người ấy không đầy đủ giới, không đầy đủ kiến, không thể tinh cần tu tập, thì cũng không phát triển rộng lớn.”
Ca-diệp bạch Phật:
“Thế nào là giới đầy đủ, kiến đầy đủ, vượt xa các khổ hạnh, vi diệu bậc nhất?”
Phật bảo Ca-diệp:
“Hãy lắng nghe, hãy suy ngẫm kỹ! Ta sẽ nói cho ông nghe.”
Ca-diệp nói:
“Thưa vâng. Vui lòng xin được nghe.”
Phật nói với Ca-diệp:
“Nếu Như Lai xuất hiện ở đời, cho đến, tứ thiền, ở ngay trong hiện tại mà được an lạc. Vì sao vậy? Ấy do tinh cần, chuyên niệm nhất tâm, ưa ở chỗ nhàn tĩnh, không buông lung vậy. Ca-diệp, đó là giới đầy đủ, kiến đầy đủ, thù thắng hơn các thứ khổ hạnh.”
Ca-diệp nói:
“Cù-đàm, tuy nói rằng giới đầy đủ, kiến đầy đủ, vượt hơn các thứ khổ hạnh, vi diệu bậc nhất; nhưng thật khó thay là pháp Sa-môn; thật khó thay là pháp Bà-la-môn.”
Phật nói:
“Ca-diệp, đó là pháp bất cộng của thế gian, tức là, Sa-môn pháp, Bà-la-môn pháp thật là khó. Ca-diệp, ngay cả cho đến ưu-bà-di cũng biết được pháp đó, là khỏa thân cởi bỏ y phục, cho đến, bằng vô số phương tiện làm khổ mình. Nhưng không biết rằng tâm của người ấy là tâm có nhuế, hay tâm không có nhuế; tâm có hận hay tâm không có hận; tâm có hại hay tâm không có hại. Nếu biết tâm của người ấy, thì không nói rằng pháp Sa-môn, Bà-la-môn là khó. Vì không biết, cho nên nói pháp Sa-môn, Bà-la-môn khó.”
Bấy giờ, Ca-diệp bạch Phật rằng:
“Thế nào là Sa-môn, thế nào là Bà-la-môn có giới cụ túc, kiến cụ túc, là tối thượng, là tối thắng, vi diệu bậc nhất?”
Phật nói:
“Hãy lắng nghe, hãy suy ngẫm kỹ! Ta sẽ nói cho ông nghe.”
“Thưa vâng, Cù-đàm. Vui lòng xin được nghe.”
Phật nói:
“Ca-diệp, Tỳ-kheo kia, bằng với tâm định tĩnh, cho đến, chứng đắc ba minh, diệt trừ các si mê tối tăm, sanh ánh sáng trí tuệ, gọi là lậu tận trí. Vì sao? Ấy là do tinh cần, chánh niệm, chánh tri, ưa chỗ nhàn tĩnh, không buông lung vậy. Ca-diệp, đó gọi là Sa-môn, Bà-la-môn có giới cụ túc, kiến cụ túc, là tối thượng, là tối thắng, vi diệu bậc nhất.”
Ca-diệp nói:
“Cù-đàm, tuy nói đó gọi là Sa-môn, Bà-la-môn có giới cụ túc, kiến cụ túc, là tối thượng, là tối thắng, vi diệu bậc nhất, nhưng pháp Sa-môn, Bà-la-môn thật quá khó, quá khó! Sa-môn cũng khó biết, Bà-la-môn cũng khó biết.”
Phật nói:
“Ưu-bà-tắc cũng có thể tu hành được pháp ấy, nói rằng: ‘Tôi, kể từ hôm nay, có thể khỏa thân cởi bỏ y phục, cho đến, bằng vô số phương tiện gieo khổ cho thân này.’ Không thể do hành vi này mà được gọi là Sa-môn, Bà-la-môn. Nếu chỉ do hành này mà có thể được gọi là Sa-môn, Bà-la-môn, thì không thể nói pháp Sa-môn là quá khó, pháp Bà-la-môn là quá khó. Nhưng không vì hành ấy mà được gọi là Sa-môn, Bà-la-môn, cho nên nói rằng Sa-môn rất khó, Bà-la-môn rất khó.”
Phật lại nói với Ca-diệp:
“Xưa, một thời, Ta ở tại La-duyệt-kỳ, trong hang Thất diệp trên Cao sơn, đã từng giảng về khổ hạnh thanh tịnh cho Phạm-chí Ni-câu-đà. Khi ấy Phạm-chí sanh tâm hoan hỷ, được tín tâm thanh tịnh; cúng dường Ta, xưng tán Ta, cúng dường, tán thán Ta một cách tối thượng.”
Ca-diệp nói:
“Thưa Cù-đàm, ai đối với Cù-đàm mà không phát sanh hoan hỷ, tịnh tín, cúng dường, xưng tán một cách tối thượng? Tôi nay đối với Cù-đàm cũng phát sanh hoan hỷ, tịnh tín, cúng dường, xưng tán một cách tối thượng. Tôi quy y Cù-đàm.”
Phật nói với Ca-diệp:
“Những gì là giới trong thế gian, không có giới nào sánh bằng tăng thượng giới này, huống hồ muốn nói hơn. Những gì là tam-muội, trí tuệ, giải thoát kiến, giải thoát tuệ, không có cái gì sánh ngang với tăng thượng tam-muội, trí tuệ, giải thoát kiến, giải thoát tuệ; huống hồ muốn nói là hơn.
“Này Ca-diệp, được nói là sư tử, là chỉ cho Như Lai, Chí Chân, Đẳng Chánh Giác. Như Lai, khi ở giữa đại chúng tuyên bố Chánh pháp một cách rộng rãi, tự tại, vô úy. Do đó được gọi là sư tử. Thế nào, Ca-diệp, Như Lai khi rống tiếng sư tử, lúc ấy không dũng mãnh sao? Chớ nghĩ như vậy. Như Lai ở giữa đại chúng cất tiếng rống sư tử một cách dũng mãnh. Ca-diệp, ngươi bảo rằng Như Lai ở giữa đại chúng cất tiếng rống sư tử một cách dũng mãnh, nhưng không thể thuyết pháp chăng? Chớ nghĩ như vậy. Vì sao? Như Lai ở giữa đại chúng cất tiếng rống sư tử một cách dũng mãnh và thuyết pháp một cách thiện xảo.
“Thế nào, Ca-diệp, ngươi bảo rằng Như Lai ở giữa đại chúng dũng cảm, vô uý mà cất tiếng rống sư tử, thuyết pháp một cách thiện xảo, nhưng thính giả trong chúng hội không nhất tâm chăng? Chớ nghĩ vậy. Vì sao? Như Lai ở giữa đại chúng dũng cảm, vô uý mà cất tiếng rống sư tử, thuyết pháp một cách thiện xảo, những người đến hội thảy nhất tâm lắng nghe. Thế nào, Ca-diệp, ngươi bảo rằng Như Lai ở giữa đại chúng dũng cảm, vô uý mà cất tiếng rống sư tử, thuyết pháp một cách thiện xảo, những người đến hội thảy nhất tâm lắng nghe, nhưng không hoan hỷ tín thọ phụng hành chăng? Chớ nghĩ như vậy. Vì sao? Như Lai ở giữa đại chúng dũng cảm, vô uý mà cất tiếng rống sư tử, thuyết pháp một cách thiện xảo, những người đến hội thảy nhất tâm lắng nghe, và hoan hỷ tín thọ. Ca-diệp, ngươi bảo rằng Như Lai ở giữa đại chúng dũng cảm, vô uý mà cất tiếng rống sư tử, thuyết pháp một cách thiện xảo, những người đến hội thảy nhất tâm lắng nghe, và hoan hỷ tín thọ, nhưng không cúng dường chăng? Chớ nghĩ như vậy. Vì sao? Như Lai ở giữa đại chúng dũng cảm, vô uý mà cất tiếng rống sư tử, thuyết pháp một cách thiện xảo, những người đến hội thảy nhất tâm lắng nghe, hoan hỷ tín thọ, và thi thiết cúng dường.
“Ca-diệp, ngươi bảo rằng, Như Lai ở giữa đại chúng dũng cảm, vô uý mà cất tiếng rống sư tử, cho đến, tín kính cúng dường, nhưng không cạo bỏ râu tóc, bận ba pháp y, xuất gia tu đạo chăng? Chớ nghĩ như vậy. Vì sao? Như Lai ở giữa đại chúng dũng cảm, vô uý mà cất tiếng rống sư tử, cho đến, tín kính cúng dường, rồi cạo bỏ râu tóc, bận ba pháp y, xuất gia tu đạo.
“Ca-diệp, ngươi bảo rằng Như Lai ở giữa đại chúng dũng cảm, vô uý mà cất tiếng rống sư tử, cho đến, tín kính cúng dường, rồi cạo bỏ râu tóc, bận ba pháp y, xuất gia tu đạo, nhưng không cứu cánh phạm hạnh, đến chỗ an ổn, vô dư Niết-bàn chăng? Chớ nghĩ như vậy. Vì sao? Như Lai ở giữa đại chúng dũng cảm, vô uý mà cất tiếng rống sư tử, cho đến, tín kính cúng dường, cạo bỏ râu tóc, bận ba pháp y, xuất gia tu đạo, rồi cứu cánh phạm hạnh, đến chỗ an nổn, vô dư Niết-bàn.”
Bấy giờ, Ca-diệp bạch Phật rằng:
“Thế nào, thưa Cù-đàm, tôi có thể xuất gia thọ cụ giới trong pháp này được chăng?”
Phật bảo Ca-diệp:
“Nếu dị học muốn đến xuất gia tu đạo trong giáo pháp của Ta, phải lưu bốn tháng quán sát, làm hài lòng chúng tăng, sau đó mới có thể xuất gia thọ giới. Ca-diệp, tuy có pháp như vậy, nhưng cũng xét theo người.”
Ca-diệp nói:
“Nếu dị học muốn đến xuất gia tu đạo trong Phật pháp, phải lưu bốn tháng quán sát, làm hài lòng chúng tăng, sau đó mới có thể xuất gia thọ giới. Con nay có thể ở trong Phật pháp bốn năm quán sát, làm hài lòng chúng tăng, sau đó mới xuất gia thọ giới.”
Phật bảo Ca-diệp:
“Ta đã có nói, cũng còn xét theo người.”
Bấy giờ, Ca-diệp liền ở trong Phật pháp xuất gia thọ cụ túc giới. Rồi thì, Ca-diệp xuất gia thọ giới chưa bao lâu, bằng tín tâm, tu phạm hạnh vô thượng, ở ngay trong đời này mà tự thân chứng ngộ: sanh tử đã dứt, phạm hạnh đã đứng vững, điều cần làm đã làm xong, không còn tái sanh nữa; tức thời thành A-la-hán.
Bấy giờ, Ca-diệp nghe những điều Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.
SC 1Thus I have heard: One time, the Buddha was staying at the deer preserve near Karṇakāṣṭha of [Ujuññā]. He was accompanied by a large assembly of 1,250 monks.
SC 2A naked wanderer from the Kāśyapa clan visited the Bhagavān. After they exchanged greetings, he sat to one side. That naked Kāśyapa said to the Buddha, “I hear that the ascetic Gautama criticizes all ritual practices and rebukes other ascetics, considering them corrupt. Gautama, suppose someone said, ‘The ascetic Gautama criticizes all the ritual practices and rebukes other ascetics, considering them corrupt.’ If someone says this is Dharma speech that accomplishes the teachings, would they not be slandering the ascetic Gautama?”
SC 3The Buddha replied, “Kāśyapa, suppose someone said, ‘The ascetic Gautama criticizes all ritual practices and rebukes other ascetics, considering them corrupt.’ That wouldn’t be Dharma speech that accomplishes the teachings. They would be slandering me, for it’s not a true statement. Why is that?
SC 4“Kāśyapa, I’ve seen those ascetics fall into hell when their bodies broke up and their lives ended. I’ve also seen ascetics born in a heavenly good place when their bodies broke up and their lives ended. Sometimes, I’ve seen ascetics who enjoyed the ascetic practices born in hell when their bodies broke up and their lives ended. Sometimes, I’ve seen ascetics who enjoyed the ascetic practices born in a heavenly good place.
SC 5“Kāśyapa, I fully know and fully see these two destinies that are places gotten as rewards. Why would I want to rebuke all those ascetics and consider them corrupt? When I correctly say ‘Yes,’ they then say ‘No.’ When I correctly say ‘No,’ they say ‘Yes.’ Kāśyapa, there are ascetics and priests who equally possess the way, and there are ascetics and priest who don’t equally possess the way. Kāśyapa, those who aren’t equal are the ones that I set aside because their teaching isn’t shared with ascetics and priests equally.
SC 6“Kāśyapa, those who are wise make this observation: ‘When the ascetic Gautama had unskillful qualities, quite defiled, dark, and ignoble and when other teachers had the same qualities, which of them was capable of destroying these qualities?’ Kāśyapa, when the wise make this observation, they thus know and see that only the ascetic Gautama was able to destroy these qualities. Kāśyapa, when those who are wise make this observation, inquire into this, and discuss this, I’m the one who they name as being so.
SC 7“Furthermore, Kāśyapa, those who are wise make this observation: ‘When the ascetic Gautama’s disciples have unskillful qualities, quite defiled, dark, and ignoble and the disciple of other teachers have the same qualities, which of them is capable of destroying these qualities? Kāśyapa, when those who are wise make this observation, they thus know and see: ‘The ascetic Gautama’s disciples are able to destroy these qualities.’ Kāśyapa, when the wise make this observation, inquire into this, and discuss this, my disciples are who they name.
SC 8“Furthermore, Kāśyapa, those who are wise make this observation, ‘The ascetic Gautama has skillful qualities, pristine, sublime, and noble and other teachers have the same qualities. Which of them is capable of cultivating and making them grow?’ Kāśyapa, when the wise make this observation, they thus know and see: ‘Only the ascetic Gautama is capable of cultivating these qualities and making them grow.’ Kāśyapa, when the wise make this observation, inquire into this, and discuss this, I’m the one who they name as being so.
SC 9“Kāśyapa, those who are wise make this observation: ‘When the ascetic Gautama’s disciples have skillful qualities, pristine, sublime, and noble, and the disciples of other teachers have the same qualities, which of them is capable of cultivating them and making them grow?’ Kāśyapa, when the wise make this observation, they thus know and see, ‘Only the ascetic Gautama’s disciples are capable of cultivating these qualities and making them grow.’ Kāśyapa, when the wise make this observation, inquire into this, and discuss this, my disciples are who they name.
SC 10“Kāśyapa, there’s a path and a way that a monk cultivates, and then he himself will know and see: ‘The ascetic Gautama’s speech is timely, genuine, meaningful, the teaching, and the discipline.’ Kāśyapa, what is the path and what are the way that a monk cultivates, and then he himself will know and see: ‘The ascetic Gautama’s speech is timely, genuine, meaningful, the teaching, and the discipline’?
SC 11“Kāśyapa, a monk cultivates the awakening factor of mindfulness based on stopping, lack of desire, and escape. He cultivates the awakening factor of the teaching … effort … joy … calm … samādhi … equanimity based on stopping, lack of desire, and escape. Kāśyapa, this is the path and the way that a monk cultivates, and then he himself will know and see: ‘The ascetic Gautama’s speech is timely, genuine, meaningful, the teaching, and the discipline.”
SC 12Kāśyapa said, “Gautama, there’s only this path and this way that a monk cultivates, and then he himself knows and sees: ‘The ascetic Gautama’s speech is timely, genuine, meaningful, the teaching, and the discipline.’ It’s only the dirty ascetic practices that make it possible to be named a priest or an ascetic. What dirty ascetic practices make it possible to be named a priest or an ascetic?
SC 13“Gautama, they part with clothing and go naked, covering themselves with their hands. They don’t accept food in pots or bowls. They don’t accept food while between two walls, between two people, between two blades, or between two bowls. They don’t accept food when a family is eating together, when there’s a pregnancy in the household, when they see a dog at the door, or when a home has many flies.
SC 14“They don’t accept invitations to meals or food from someone who says they know them. They don’t eat fish or meat and don’t drink wine. They don’t take two bowls of food, considering one swallow to be a meal up to seven meals and stopping. When they accept a person’s beneficial food, they don’t do so more than seven times. Sometimes, they eat one meal a day or one every two days, three days, four days, five days, six days, or seven days.
SC 15“Sometimes, they eat fruit or weeds and drink juice. They eat flax seed, rice, long-grain rice, cow dung, deer dung, tree roots, branches, leaves, and fruit, or fruit that has fallen naturally.
SC 16“Sometimes, they wear clothes, throw on sedge as clothes, wear tree bark, curtain yourselves in grass, or wear deerskin. Sometimes, they fasten head hair to themselves, wear plaited hair, or wear clothes from a charnel ground.
SC 17“Sometimes, they keep your arms raised all the time, don’t sit on couches or mats, or crouch all the time. Sometimes, they cut their hair and fasten it to their beard, lie on thorns, lie on fruits and berries, or lie naked on cow dung. Sometimes, they bath three times a day or three times a night. They torment their bodies with these countless hardships. Gautama, these are the dirty practices that make it possible to be named a priest or ascetic.”
SC 18The Buddha said, “Kāśyapa, parting with clothes and going naked … tormenting one’s body with these countless hardships, their precepts aren’t complete, and their views aren’t complete. They aren’t able to diligently cultivate, and their [teachings] aren’t broad and open.”
SC 19Kāśyapa said to the Buddha, “What are the completion of precepts and completion of views that go beyond the ascetic practices and that are fine and supreme?”
SC 20The Buddha told Kāśyapa, “Listen closely, and well consider it. I’ll explain it for you.”
Kāśyapa said, “Very well, Gautama. I’d be glad to hear it.”
SC 21The Buddha addressed Kāśyapa, “If a Tathāgata, an Arhat, arises in the world … the four dhyānas, then he attains happiness in the present life. Why is that? These things are a result of diligence, focused attention, unified mind, delighting in quiet seclusion, and not being self-indulgent. Kāśyapa, this is the completion of precepts and completion of views that surpasses the ascetic practices, that’s fine and supreme.”
Kāśyapa said, “Gautama, although you say this completion of precepts and completion of views surpasses the ascetic practices and is fine and supreme, it’s only being an ascetic or priest that’s difficult.”
SC 22The Buddha said, “Kāśyapa, this is world’s special teaching, that the teachings of ascetics and priests are difficult. Kāśyapa, even a laywoman can understand these teachings. Parting with clothing and going naked … tormenting one’s body with these countless hardships, a person still doesn’t understand their mind: ‘Am I angry or not … resentful or not … harmful or not?’ If someone knows these mental states, they aren’t named ascetics or priests. It’s because they don’t understand themselves that being an ascetic or priest is difficult.”
SC 23Kāśyapa then said to the Buddha, “What’s an ascetic or a priest like whose precepts and views are complete and who’s higher, superior, fine, and supreme?”
SC 24The Buddha told Kāśyapa, “Listen closely, listen closely! Consider it well. I will explain this for you.”
Kāśyapa said, “Very well, Gautama. I’d be glad to hear it.”
SC 25The Buddha said, “Kāśyapa, with samādhi of mind, a monk … attains the three insights, destroys the darkness of delusions, and produces the light of wisdom. This is called producing the knowledge that the contaminants have ended. Why is that? These things are a result of diligence, focused attention, not being forgetful, delighting in quiet seclusion, and not being self-indulgent. Kāśyapa, this is called an ascetic or priest whose precepts and views are complete, and who’s superior, higher, fine, and supreme.
Kāśyapa said, “Gautama, although you say this is an ascetic or priest whose views and precepts are complete and who’s higher, superior, fine, and supreme, it’s only being an ascetic or priest that’s exceedingly difficult. It’s exceedingly difficult! An ascetic is also hard to know, and a priest is also hard to know.”
SC 26The Buddha told Kāśyapa, “A layman can cultivate this teaching, too. Someone who says ‘From this day forward, I will part with clothing and go naked … and torment my body with these countless hardships’ can’t be called an ascetic or a priest on account of these practices. If they were called an ascetic or priest because of these practices, it couldn’t be said, ‘Being an ascetic is exceedingly difficult! Being a priest is exceedingly difficult!’ That isn’t possible to say on account of these practices of ascetics and priests, ‘Being an ascetic is exceedingly difficult! Being a priest is exceedingly difficult!’”
SC 27The Buddha told Kāśyapa, “There was once a time I was in Rājagṛha, staying at Saptaparṇa Cave near Mount Vaibhāra. There, I explained to that wanderer Nigrodha the pure ascetic practices. That wanderer rejoiced, attained pure faith, gave offerings to me, praised me, and gave his best offerings and praise to me.”
Kāśyapa said, “Gautama, who hasn’t Gautama made rejoice greatly, attain pure faith, make offerings, and praise him? Now, Gautama has made me rejoice, attain pure faith, make offerings, and praise him. I take refuge in Gautama.”
SC 28The Buddha told Kāśyapa, “Those precepts possessed by the world don’t possess or accompany the higher precepts, and the rest. How could they want to produce anything higher? They possess samādhi, wisdom, and liberation, and have seen the liberation of wisdom, but they don’t possess or accompany these higher samādhi, wisdom, liberation, and seeing the liberation of wisdom. How could they want to produce anything higher?
SC 29“Kāśyapa, the Tathāgata, Arhat, and Completely Awakened One is a lion. When he teachings Dharma in detail in a great assembly, he’s sovereign and fearless, so he’s called a lion.
SC 30“How is it, Kāśyapa? Would you say that Tathāgata isn’t courageous when he roars the lion’s roar? Don’t imagine this. The Tathāgata’s lion’s roar is courageous and fearless.
SC 31“Kāśyapa, would you say the Tathāgata’s courageous and fearless lion’s roar isn’t done in a large assembly? Don’t imagine this. The Tathāgata courageously roars the lion’s roar in a large assembly.
SC 32“Kāśyapa, would you say that the Tathāgata doesn’t teach the Dharma when he courageously roars the lion’s roar in a large assembly? Don’t imagine this. Why is that? The Tathāgata skillfully teaches the Dharma when he courageously and fearlessly roars the lion’s roar in a large assembly.
SC 33“How is it, Kāśyapa? Would you say that the audience isn’t unified in mind when the Tathāgata courageously and fearlessly roars the lion’s roar in a large assembly and skillfully teaches the Dharma? Don’t imagine this. Why is that? When the Tathāgata courageously and fearlessly roars the lion’s roar in a large assembly and skillfully teaches the Dharma, the audience is unified in mind.
SC 34“How is it, Kāśyapa? Would you say that the audience doesn’t rejoice, believe, and accept it when the Tathāgata courageously and fearlessly roars the lion’s roar in a large assembly, skillfully teaches the Dharma, and those present listen with unified minds? Don’t imagine this. Why is that? When the Tathāgata courageously and fearlessly roars the lion’s roar in a large assembly, skillfully teaches the Dharma, and the audience that’s present listens with unified minds, they rejoice, believe, and accept it.
SC 35“Kāśyapa, would you say that the audience doesn’t make offerings when the Tathāgata courageously and fearlessly roars the lion’s roar in a large assembly, skillfully teaches the Dharma, and the audience rejoices, believes, and accepts it? Don’t imagine this. [Why is that?] When the Tathāgata courageously and fearlessly roars the lion’s roar in a large assembly, skillfully teaches the Dharma, and the audience rejoices, believes, and accepts it, they make offerings to him.
SC 36“Kāśyapa, would you say that the audience doesn’t shave their hair and beard, put on the three Dharma robes, leave home, and cultivate the path when the Tathāgata courageously and fearlessly roars the lion’s roar in a large assembly … and they believe, respect, and make offerings? Don’t imagine this. Why is that? When the Tathāgata courageously and fearlessly roars the lion’s roar in a large assembly … and they believe, respect, and make offerings, the audience shaves their hair and beard, put on the three Dharma robes, leave home, and cultivate the path.
SC 37“Kāśyapa, would you say that the audience doesn’t practice the ultimate religious practice and reach the peaceful abode, which is Nirvāṇa without remainder, when the Tathāgata courageously and fearlessly roars the lion’s roar in a large assembly … and they leave home and cultivate the path? Don’t imagine this. Why is that? When the Tathāgata courageously and fearlessly roars the lion’s roar in a large assembly … and they leave home and cultivate the path, the audience does practice the ultimate religious practice and reach a peaceful abode, which is Nirvāṇa without remainder.”
SC 38Kāśyapa then said to the Buddha, “How, Gautama, do I leave home and accept the full precepts in this teaching?”
The Buddha told Kāśyapa, “If someone from another training wishes to enter my teaching, leave home, and cultivate the path, they will wait and be observed for four months and receive the Saṅgha’s assent. Afterward, they can leave home and accept the precepts. Kāśyapa, this is simply because, while there is this teaching, we also observe the person.”
SC 39Kāśyapa said, “If someone from another training wishes to enter the Buddha’s teaching and cultivate the religious life, they will wait to be observed for four months to assess their many ideas. Afterward, they can leave home and receive the Saṅgha’s assent. Now, I would be willing to wait for four years of observation to enter the Buddha’s teaching to receive the Saṅgha’s assent. Afterward, I’ll leave home and accept the precepts.”
The Buddha told Kāśyapa, “I would give you my assent, but it’s simply that we observe the person [first].”
SC 40Kāśyapa then left home and accepted the full precepts in the Buddha’s teaching. It wasn’t long after Kāśyapa had accepted the precepts that he was cultivating the unsurpassed religious practice with pure faith. In the present life, he himself realized: “My births have been ended, the religious practice has been established, and the task has been accomplished. I won’t be subject to a later existence.” He had become an arhat.
SC 41When Kāśyapa heard what the Buddha taught, he rejoiced and approved.