Nội dung dưới đây được dịch tự động. Có thể chưa hoàn toàn chính xác về thuật ngữ Phật học. Vui lòng tham chiếu bản gốc tiếng Anh hoặc Pāli để đối chiếu.
Đây là điều đã được Thế Tôn nói…
“Này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo không có nhiệt tâm và không có sự sợ hãi lỗi lầm thì không có khả năng đạt được giác ngộ, không có khả năng đạt được Niết-bàn, không có khả năng đạt sự an ổn tối thượng khỏi trói buộc. Nhưng vị tỳ-kheo có nhiệt tâm và có sự sợ hãi lỗi lầm thì có khả năng đạt được điều ấy.”
Kẻ không nhiệt tâm, buông lung,
Lười biếng, ít tinh tấn,
Đầy hôn trầm thụy miên,
Không biết hổ thẹn, không tôn trọng—
Vị tỳ-kheo như vậy không thể đạt
Sự giác ngộ tối thượng.
Nhưng bậc chánh niệm, sáng suốt, thiền định,
Nhiệt tâm, cẩn thận và tinh cần,
Đã cắt đứt xiềng xích sinh tử,
Có thể tự mình đạt được ngay tại đây và bây giờ
Sự giác ngộ tối thượng.
Vuttañhetaṁ bhagavatā vuttamarahatāti me sutaṁ:
“Anātāpī, bhikkhave, bhikkhu anottāpī abhabbo sambodhāya, abhabbo nibbānāya, abhabbo anuttarassa yogakkhemassa adhigamāya.
Ātāpī ca kho, bhikkhave, bhikkhu ottāpī bhabbo sambodhāya, bhabbo nibbānāya, bhabbo anuttarassa yogakkhemassa adhigamāyā”ti.
Etamatthaṁ bhagavā avoca.
Tatthetaṁ iti vuccati:
“Anātāpī anottāpī,
kusīto hīnavīriyo;
Yo thinamiddhabahulo,
ahirīko anādaro;
Abhabbo tādiso bhikkhu,
phuṭṭhuṁ sambodhimuttamaṁ.
Yo ca satimā nipako jhāyī,
Ātāpī ottāpī ca appamatto;
Saṁyojanaṁ jātijarāya chetvā,
Idheva sambodhimanuttaraṁ phuse”ti.
Ayampi attho vutto bhagavatā, iti me sutanti.
Sattamaṁ.
This was said by the Lord…
“Bhikkhus, a bhikkhu who is without ardour and without fear of wrongdoing is incapable of attaining enlightenment, incapable of attaining Nibbāna, incapable of attaining the supreme security from bondage. But a bhikkhu who has ardour and fear of wrongdoing is capable of doing so.”
One who is not ardent, reckless,
Lazy, and of little vigour,
Full of lethargy and torpor,
Shameless and without respect—
Such a bhikkhu cannot attain
Enlightenment which is supreme.
But a mindful and discerning meditator,
Ardent, scrupulous, and diligent,
Having severed the fetters of birth and decay,
Can attain for himself right here and now
Enlightenment which is supreme.
Đây là điều đã được Thế Tôn nói…
“Này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo không có nhiệt tâm và không có sự sợ hãi lỗi lầm thì không có khả năng đạt được giác ngộ, không có khả năng đạt được Niết-bàn, không có khả năng đạt sự an ổn tối thượng khỏi trói buộc. Nhưng vị tỳ-kheo có nhiệt tâm và có sự sợ hãi lỗi lầm thì có khả năng đạt được điều ấy.”
Kẻ không nhiệt tâm, buông lung,
Lười biếng, ít tinh tấn,
Đầy hôn trầm thụy miên,
Không biết hổ thẹn, không tôn trọng—
Vị tỳ-kheo như vậy không thể đạt
Sự giác ngộ tối thượng.
Nhưng bậc chánh niệm, sáng suốt, thiền định,
Nhiệt tâm, cẩn thận và tinh cần,
Đã cắt đứt xiềng xích sinh tử,
Có thể tự mình đạt được ngay tại đây và bây giờ
Sự giác ngộ tối thượng.
Vuttañhetaṁ bhagavatā vuttamarahatāti me sutaṁ:
“Anātāpī, bhikkhave, bhikkhu anottāpī abhabbo sambodhāya, abhabbo nibbānāya, abhabbo anuttarassa yogakkhemassa adhigamāya.
Ātāpī ca kho, bhikkhave, bhikkhu ottāpī bhabbo sambodhāya, bhabbo nibbānāya, bhabbo anuttarassa yogakkhemassa adhigamāyā”ti.
Etamatthaṁ bhagavā avoca.
Tatthetaṁ iti vuccati:
“Anātāpī anottāpī,
kusīto hīnavīriyo;
Yo thinamiddhabahulo,
ahirīko anādaro;
Abhabbo tādiso bhikkhu,
phuṭṭhuṁ sambodhimuttamaṁ.
Yo ca satimā nipako jhāyī,
Ātāpī ottāpī ca appamatto;
Saṁyojanaṁ jātijarāya chetvā,
Idheva sambodhimanuttaraṁ phuse”ti.
Ayampi attho vutto bhagavatā, iti me sutanti.
Sattamaṁ.