Nội dung dưới đây được dịch tự động. Có thể chưa hoàn toàn chính xác về thuật ngữ Phật học. Vui lòng tham chiếu bản gốc tiếng Anh hoặc Pāli để đối chiếu.
Điều này đã được Đức Phật, bậc Toàn Giác thuyết: đây là điều tôi nghe.
“Này các tỳ-kheo, bị khống chế bởi hai tà kiến, một số chư thiên và loài người bị mắc kẹt, một số đi quá đà, trong khi những vị có nhãn quan thì thấy rõ.
Thế nào là một số bị mắc kẹt?
Do yêu thích, vui thú và say mê sự hiện hữu, khi Pháp được giảng dạy để sự hiện hữu đoạn diệt, tâm của một số chư thiên và loài người không phóng tới, không đạt niềm tin, không an trú, và không quyết định.
Đó là cách một số bị mắc kẹt.
Và thế nào là một số đi quá đà?
Một số, vì hoảng sợ, ghê tởm, và chán ghét sự hiện hữu, lại vui thú trong sự đoạn diệt vô hữu:
‘Khi ngã này bị tiêu diệt và phá hủy sau khi thân hoại mạng chung, và không còn tồn tại sau khi chết:
đó là an bình, đó là vi diệu, đó là như vậy.’
Đó là cách một số đi quá đà.
Và những người có nhãn quan thấy rõ như thế nào?
Đó là khi một tỳ-kheo thấy cái đã sanh là cái đã sanh.
Thấy vậy, vị ấy thực hành để nhàm chán, ly tham, và đoạn diệt đối với cái đã sanh.
Đó là cách người có nhãn quan thấy rõ.”
Đức Phật đã thuyết về vấn đề này.
Về điều này, Ngài nói:
“Những ai thấy cái đã sanh là cái đã sanh,
và thấy sự vượt qua của cái đã sanh,
họ được giải thoát đúng theo sự thật,
với sự đoạn diệt ái đối với sự tiếp tục hiện hữu.
Họ hiểu biết hoàn toàn cái đã sanh,
trừ sạch ái đối với tái sanh trong các cảnh giới này kia.
Khi cái đã sanh đi đến đoạn diệt,
tỳ-kheo không còn trở lại các đời tương lai.”
Đây cũng là điều đã được Đức Thế Tôn thuyết: đây là điều tôi nghe.
Vuttañhetaṁ bhagavatā vuttamarahatāti me sutaṁ:
“Dvīhi, bhikkhave, diṭṭhigatehi pariyuṭṭhitā devamanussā olīyanti eke, atidhāvanti eke; cakkhumanto ca passanti.
Kathañca, bhikkhave, olīyanti eke?
Bhavārāmā, bhikkhave, devamanussā bhavaratā bhavasammuditā tesaṁ bhavanirodhāya dhamme desiyamāne cittaṁ na pakkhandati na pasīdati na santiṭṭhati nādhimuccati.
Evaṁ kho, bhikkhave, olīyanti eke.
Kathañca, bhikkhave, atidhāvanti eke?
Bhaveneva kho paneke aṭṭīyamānā harāyamānā jigucchamānā vibhavaṁ abhinandanti—
yato kira, bho, ayaṁ attā kāyassa bhedā paraṁ maraṇā ucchijjati vinassati na hoti paraṁ maraṇā;
etaṁ santaṁ etaṁ paṇītaṁ etaṁ yāthāvanti.
Evaṁ kho, bhikkhave, atidhāvanti eke.
Kathañca, bhikkhave, cakkhumanto passanti?
Idha bhikkhu bhūtaṁ bhūtato passati;
bhūtaṁ bhūtato disvā bhūtassa nibbidāya virāgāya nirodhāya paṭipanno hoti.
Evaṁ kho, bhikkhave, cakkhumanto passantī”ti.
Etamatthaṁ bhagavā avoca.
Tatthetaṁ iti vuccati:
“Ye bhūtaṁ bhūtato disvā,
bhūtassa ca atikkamaṁ;
Yathābhūte vimuccanti,
bhavataṇhā parikkhayā.
Sa ve bhūtapariñño so,
vītataṇho bhavābhave;
Bhūtassa vibhavā bhikkhu,
nāgacchati punabbhavan”ti.
Ayampi attho vutto bhagavatā, iti me sutanti.
Dvādasamaṁ.
Dutiyo vaggo.
Tassuddānaṁ
Dve indriyā dve tapanīyā,
sīlena apare duve;
Anottāpī kuhanā dve ca,
saṁvejanīyena te dasa.
Vitakkā desanā vijjā,
paññā dhammena pañcamaṁ;
Ajātaṁ dhātusallānaṁ,
sikkhā jāgariyena ca;
Apāyadiṭṭhiyā ceva,
bāvīsati pakāsitāti.
Dukanipāto niṭṭhito.
This was said by the Lord…
“Bhikkhus, held by two kinds of views, some devas and
human beings hold back and some overreach; only those with vision see.
“And how, bhikkhus, do some hold back? Devas and humans enjoy being, delight in being, are satisfied with being. When Dhamma is taught to them for the cessation of being, their minds do not enter into it or acquire confidence in it or settle upon it or become resolved upon it. Thus, bhikkhus, do some hold back.
“How, bhikkhus, do some overreach? Now some are troubled, ashamed, and disgusted by this very same being and they rejoice in (the idea of) non-being, asserting: ‘In as much as this self, good sirs, when the body perishes at death, is annihilated and destroyed and does not exist after death—this is peaceful, this is excellent, this is reality!’ Thus, bhikkhus, do some overreach.
“How, bhikkhus, do those with vision see? Herein a bhikkhu sees what has come to be as having come to be. Having seen it thus, he practises the course for turning away, for dispassion, for the cessation of what has come to be. Thus, bhikkhus, do those with vision see.”
Having seen what has come to be
As having come to be,
Passing beyond what has come to be,
They are released in accordance with truth
By exhausting the craving for being.
When a bhikkhu has fully understood
That which has come to be as such,
Free from craving to be this or that,
By the extinction of what has come to be
He comes no more to renewal of being.
This too is the meaning of what was said by the Lord, so I heard.
Điều này đã được Đức Phật, bậc Toàn Giác thuyết: đây là điều tôi nghe.
“Này các tỳ-kheo, bị khống chế bởi hai tà kiến, một số chư thiên và loài người bị mắc kẹt, một số đi quá đà, trong khi những vị có nhãn quan thì thấy rõ.
Thế nào là một số bị mắc kẹt?
Do yêu thích, vui thú và say mê sự hiện hữu, khi Pháp được giảng dạy để sự hiện hữu đoạn diệt, tâm của một số chư thiên và loài người không phóng tới, không đạt niềm tin, không an trú, và không quyết định.
Đó là cách một số bị mắc kẹt.
Và thế nào là một số đi quá đà?
Một số, vì hoảng sợ, ghê tởm, và chán ghét sự hiện hữu, lại vui thú trong sự đoạn diệt vô hữu:
‘Khi ngã này bị tiêu diệt và phá hủy sau khi thân hoại mạng chung, và không còn tồn tại sau khi chết:
đó là an bình, đó là vi diệu, đó là như vậy.’
Đó là cách một số đi quá đà.
Và những người có nhãn quan thấy rõ như thế nào?
Đó là khi một tỳ-kheo thấy cái đã sanh là cái đã sanh.
Thấy vậy, vị ấy thực hành để nhàm chán, ly tham, và đoạn diệt đối với cái đã sanh.
Đó là cách người có nhãn quan thấy rõ.”
Đức Phật đã thuyết về vấn đề này.
Về điều này, Ngài nói:
“Những ai thấy cái đã sanh là cái đã sanh,
và thấy sự vượt qua của cái đã sanh,
họ được giải thoát đúng theo sự thật,
với sự đoạn diệt ái đối với sự tiếp tục hiện hữu.
Họ hiểu biết hoàn toàn cái đã sanh,
trừ sạch ái đối với tái sanh trong các cảnh giới này kia.
Khi cái đã sanh đi đến đoạn diệt,
tỳ-kheo không còn trở lại các đời tương lai.”
Đây cũng là điều đã được Đức Thế Tôn thuyết: đây là điều tôi nghe.
Vuttañhetaṁ bhagavatā vuttamarahatāti me sutaṁ:
“Dvīhi, bhikkhave, diṭṭhigatehi pariyuṭṭhitā devamanussā olīyanti eke, atidhāvanti eke; cakkhumanto ca passanti.
Kathañca, bhikkhave, olīyanti eke?
Bhavārāmā, bhikkhave, devamanussā bhavaratā bhavasammuditā tesaṁ bhavanirodhāya dhamme desiyamāne cittaṁ na pakkhandati na pasīdati na santiṭṭhati nādhimuccati.
Evaṁ kho, bhikkhave, olīyanti eke.
Kathañca, bhikkhave, atidhāvanti eke?
Bhaveneva kho paneke aṭṭīyamānā harāyamānā jigucchamānā vibhavaṁ abhinandanti—
yato kira, bho, ayaṁ attā kāyassa bhedā paraṁ maraṇā ucchijjati vinassati na hoti paraṁ maraṇā;
etaṁ santaṁ etaṁ paṇītaṁ etaṁ yāthāvanti.
Evaṁ kho, bhikkhave, atidhāvanti eke.
Kathañca, bhikkhave, cakkhumanto passanti?
Idha bhikkhu bhūtaṁ bhūtato passati;
bhūtaṁ bhūtato disvā bhūtassa nibbidāya virāgāya nirodhāya paṭipanno hoti.
Evaṁ kho, bhikkhave, cakkhumanto passantī”ti.
Etamatthaṁ bhagavā avoca.
Tatthetaṁ iti vuccati:
“Ye bhūtaṁ bhūtato disvā,
bhūtassa ca atikkamaṁ;
Yathābhūte vimuccanti,
bhavataṇhā parikkhayā.
Sa ve bhūtapariñño so,
vītataṇho bhavābhave;
Bhūtassa vibhavā bhikkhu,
nāgacchati punabbhavan”ti.
Ayampi attho vutto bhagavatā, iti me sutanti.
Dvādasamaṁ.
Dutiyo vaggo.
Tassuddānaṁ
Dve indriyā dve tapanīyā,
sīlena apare duve;
Anottāpī kuhanā dve ca,
saṁvejanīyena te dasa.
Vitakkā desanā vijjā,
paññā dhammena pañcamaṁ;
Ajātaṁ dhātusallānaṁ,
sikkhā jāgariyena ca;
Apāyadiṭṭhiyā ceva,
bāvīsati pakāsitāti.
Dukanipāto niṭṭhito.