Nội dung dưới đây được dịch tự động. Có thể chưa hoàn toàn chính xác về thuật ngữ Phật học. Vui lòng tham chiếu bản gốc tiếng Anh hoặc Pāli để đối chiếu.
Điều này đã được Đức Phật, bậc Toàn Giác thuyết: đây là điều tôi nghe.
"Này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo nên tu tập trong trạng thái tỉnh giác, chánh niệm và tỉnh thức, hoan hỷ và sáng suốt, và theo thời quán chiếu các thiện pháp trong trạng thái ấy.
Vị tỳ-kheo tu tập như vậy có thể mong đợi một trong hai quả:
giác ngộ ngay trong đời này, hoặc nếu còn dư y, chứng quả Bất Lai."
Đức Phật đã thuyết về vấn đề này.
Về điều này, Ngài nói:
"Hãy lắng nghe, những người tỉnh giác!
Và những ai đang ngủ, hãy thức dậy!
Tỉnh giác tốt hơn say ngủ,
người tỉnh giác chẳng có gì phải sợ.
Những ai tỉnh giác, chánh niệm tỉnh thức,
an trú thiền định, hoan hỷ sáng suốt,
đúng thời quán chiếu Pháp chân chính,
hợp nhất, sẽ xua tan bóng tối.
Vì thế hãy tinh tấn trong sự tỉnh giác.
Vị tỳ-kheo tinh cần, tỉnh giác, đắc thiền định,
đã cắt đứt kiết sử sanh và già,
sẽ chứng ngộ giác ngộ tối thượng ngay trong đời này."
Đây cũng là điều đã được Đức Thế Tôn thuyết: đây là điều tôi nghe.
Vuttañhetaṁ bhagavatā vuttamarahatāti me sutaṁ:
“Jāgaro cassa, bhikkhave, bhikkhu vihareyya sato sampajāno samāhito pamudito vippasanno ca tattha kālavipassī ca kusalesu dhammesu.
Jāgarassa, bhikkhave, bhikkhuno viharato satassa sampajānassa samāhitassa pamuditassa vippasannassa tattha kālavipassino kusalesu dhammesu dvinnaṁ phalānaṁ aññataraṁ phalaṁ pāṭikaṅkhaṁ—
diṭṭheva dhamme aññā, sati vā upādisese anāgāmitā”ti.
Etamatthaṁ bhagavā avoca.
Tatthetaṁ iti vuccati:
“Jāgarantā suṇāthetaṁ,
ye suttā te pabujjhatha;
Suttā jāgaritaṁ seyyo,
natthi jāgarato bhayaṁ.
Yo jāgaro ca satimā sampajāno,
Samāhito mudito vippasanno ca;
Kālena so sammā dhammaṁ parivīmaṁsamāno,
Ekodibhūto vihane tamaṁ so.
Tasmā have jāgariyaṁ bhajetha,
Ātāpī bhikkhu nipako jhānalābhī;
Saṁyojanaṁ jātijarāya chetvā,
Idheva sambodhimanuttaraṁ phuse”ti.
Ayampi attho vutto bhagavatā, iti me sutanti.
Dasamaṁ.
This was said by the Lord…
“Bhikkhus, a bhikkhu should be vigilant; he should live mindful, clearly comprehending, concentrated, happy and calm, and should know when it is suitable to cultivate those things that are wholesome. Bhikkhus, for a bhikkhu who is vigilant and living thus, one of two fruits is to be expected: final knowledge here and now or, there being some residual defilement, the state of non-returning.”
You vigilant ones hear this:
Wake up, you who are asleep!
Vigilance is better than sleep:
There is no fear for the vigilant.
One who is vigilant and mindful,
Comprehending and concentrated,
Joyful and calm in his thoughts,
By rightly investigating the Dhamma
With unified mind, will in time
Destroy the darkness of ignorance.
Therefore be devoted to vigilance,
An ardent, discerning, meditative bhikkhu.
Having severed the fetter of birth and decay,
One may here and now attain
Enlightenment which is supreme.
Điều này đã được Đức Phật, bậc Toàn Giác thuyết: đây là điều tôi nghe.
"Này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo nên tu tập trong trạng thái tỉnh giác, chánh niệm và tỉnh thức, hoan hỷ và sáng suốt, và theo thời quán chiếu các thiện pháp trong trạng thái ấy.
Vị tỳ-kheo tu tập như vậy có thể mong đợi một trong hai quả:
giác ngộ ngay trong đời này, hoặc nếu còn dư y, chứng quả Bất Lai."
Đức Phật đã thuyết về vấn đề này.
Về điều này, Ngài nói:
"Hãy lắng nghe, những người tỉnh giác!
Và những ai đang ngủ, hãy thức dậy!
Tỉnh giác tốt hơn say ngủ,
người tỉnh giác chẳng có gì phải sợ.
Những ai tỉnh giác, chánh niệm tỉnh thức,
an trú thiền định, hoan hỷ sáng suốt,
đúng thời quán chiếu Pháp chân chính,
hợp nhất, sẽ xua tan bóng tối.
Vì thế hãy tinh tấn trong sự tỉnh giác.
Vị tỳ-kheo tinh cần, tỉnh giác, đắc thiền định,
đã cắt đứt kiết sử sanh và già,
sẽ chứng ngộ giác ngộ tối thượng ngay trong đời này."
Đây cũng là điều đã được Đức Thế Tôn thuyết: đây là điều tôi nghe.
Vuttañhetaṁ bhagavatā vuttamarahatāti me sutaṁ:
“Jāgaro cassa, bhikkhave, bhikkhu vihareyya sato sampajāno samāhito pamudito vippasanno ca tattha kālavipassī ca kusalesu dhammesu.
Jāgarassa, bhikkhave, bhikkhuno viharato satassa sampajānassa samāhitassa pamuditassa vippasannassa tattha kālavipassino kusalesu dhammesu dvinnaṁ phalānaṁ aññataraṁ phalaṁ pāṭikaṅkhaṁ—
diṭṭheva dhamme aññā, sati vā upādisese anāgāmitā”ti.
Etamatthaṁ bhagavā avoca.
Tatthetaṁ iti vuccati:
“Jāgarantā suṇāthetaṁ,
ye suttā te pabujjhatha;
Suttā jāgaritaṁ seyyo,
natthi jāgarato bhayaṁ.
Yo jāgaro ca satimā sampajāno,
Samāhito mudito vippasanno ca;
Kālena so sammā dhammaṁ parivīmaṁsamāno,
Ekodibhūto vihane tamaṁ so.
Tasmā have jāgariyaṁ bhajetha,
Ātāpī bhikkhu nipako jhānalābhī;
Saṁyojanaṁ jātijarāya chetvā,
Idheva sambodhimanuttaraṁ phuse”ti.
Ayampi attho vutto bhagavatā, iti me sutanti.
Dasamaṁ.