Nội dung dưới đây được dịch tự động. Có thể chưa hoàn toàn chính xác về thuật ngữ Phật học. Vui lòng tham chiếu bản gốc tiếng Anh hoặc Pāli để đối chiếu.
Đây là điều đã được Thế Tôn nói…
“Này các tỳ-kheo, thành tựu hai pháp, vị tỳ-kheo sống ngay trong đời này với nhiều hoan hỷ và an lạc, và được động viên đúng đắn để đoạn tận các lậu hoặc. Hai pháp ấy là gì? Được cảm động bởi sự khẩn cấp vào những lúc cần khẩn cấp, và khi được cảm động, nỗ lực đúng đắn. Này các tỳ-kheo, đó là hai pháp…”
Người trí nên khẩn cấp tinh tấn
Vào những lúc cần sự khẩn cấp;
Là vị tỳ-kheo nhiệt tâm sáng suốt
Vị ấy nên quán sát với trí tuệ.
Người sống tinh tấn như vậy,
Hành vi an tịnh, không kiêu mạn,
Tu tập sự tĩnh lặng nội tâm,
Có thể đạt sự đoạn tận khổ đau.
Vuttañhetaṁ bhagavatā vuttamarahatāti me sutaṁ:
“Dvīhi, bhikkhave, dhammehi samannāgato bhikkhu diṭṭheva dhamme sukhasomanassabahulo viharati, yoni cassa āraddhā hoti āsavānaṁ khayāya.
Katamehi dvīhi?
Saṁvejanīyesu ṭhānesu saṁvejanena, saṁviggassa ca yoniso padhānena.
Imehi kho, bhikkhave, dvīhi dhammehi samannāgato bhikkhu diṭṭheva dhamme sukhasomanassabahulo viharati, yoni cassa āraddhā hoti āsavānaṁ khayāyā”ti.
Etamatthaṁ bhagavā avoca.
Tatthetaṁ iti vuccati:
“Saṁvejanīyaṭṭhānesu,
saṁvijjetheva paṇḍito;
Ātāpī nipako bhikkhu,
paññāya samavekkhiya.
Evaṁ vihārī ātāpī,
santavutti anuddhato;
Cetosamathamanuyutto,
khayaṁ dukkhassa pāpuṇe”ti.
Ayampi attho vutto bhagavatā, iti me sutanti.
Dasamaṁ.
Paṭhamo vaggo.
Tassuddānaṁ
Dve ca bhikkhū tapanīyā,
tapanīyā paratthehi;
Ātāpī nakuhanā dve,
somanassena te dasāti.
This was said by the Lord…
“Bhikkhus, possessing two things a bhikkhu lives here and now with much pleasure and happiness and is properly motivated for the destruction of the taints. What are the two things? Being moved by a sense of urgency on occasions for urgency, and, being moved, making a proper endeavour. These, bhikkhus, are the two things…”
A wise person should be urgently moved
On occasions that make for urgency;
As an ardent discerning bhikkhu
He should investigate with wisdom.
One living ardent thus,
Of peaceful conduct, not proud,
Practising tranquillity of mind,
May attain the destruction of suffering.
Đây là điều đã được Thế Tôn nói…
“Này các tỳ-kheo, thành tựu hai pháp, vị tỳ-kheo sống ngay trong đời này với nhiều hoan hỷ và an lạc, và được động viên đúng đắn để đoạn tận các lậu hoặc. Hai pháp ấy là gì? Được cảm động bởi sự khẩn cấp vào những lúc cần khẩn cấp, và khi được cảm động, nỗ lực đúng đắn. Này các tỳ-kheo, đó là hai pháp…”
Người trí nên khẩn cấp tinh tấn
Vào những lúc cần sự khẩn cấp;
Là vị tỳ-kheo nhiệt tâm sáng suốt
Vị ấy nên quán sát với trí tuệ.
Người sống tinh tấn như vậy,
Hành vi an tịnh, không kiêu mạn,
Tu tập sự tĩnh lặng nội tâm,
Có thể đạt sự đoạn tận khổ đau.
Vuttañhetaṁ bhagavatā vuttamarahatāti me sutaṁ:
“Dvīhi, bhikkhave, dhammehi samannāgato bhikkhu diṭṭheva dhamme sukhasomanassabahulo viharati, yoni cassa āraddhā hoti āsavānaṁ khayāya.
Katamehi dvīhi?
Saṁvejanīyesu ṭhānesu saṁvejanena, saṁviggassa ca yoniso padhānena.
Imehi kho, bhikkhave, dvīhi dhammehi samannāgato bhikkhu diṭṭheva dhamme sukhasomanassabahulo viharati, yoni cassa āraddhā hoti āsavānaṁ khayāyā”ti.
Etamatthaṁ bhagavā avoca.
Tatthetaṁ iti vuccati:
“Saṁvejanīyaṭṭhānesu,
saṁvijjetheva paṇḍito;
Ātāpī nipako bhikkhu,
paññāya samavekkhiya.
Evaṁ vihārī ātāpī,
santavutti anuddhato;
Cetosamathamanuyutto,
khayaṁ dukkhassa pāpuṇe”ti.
Ayampi attho vutto bhagavatā, iti me sutanti.
Dasamaṁ.
Paṭhamo vaggo.
Tassuddānaṁ
Dve ca bhikkhū tapanīyā,
tapanīyā paratthehi;
Ātāpī nakuhanā dve,
somanassena te dasāti.