BJT 291“‘Trước đây, người ấy đã là vị (đạo sĩ) có gậy ở bàn tay. Bây giờ, người ấy là thợ săn thú rừng. Vì tham ái, người ấy đã không thể đi đến bờ kia từ đầm lầy ghê rợn.
BJT 292Trong khi nghĩ rằng tôi là vô cùng cởi mở, Cāpā đã chọc giỡn đứa con trai. Sau khi cắt đứt sự trói buộc của Cāpā, tôi sẽ xuất gia lại lần nữa.’
BJT 293‘Ôi vị đại anh hùng, xin chàng chớ giận thiếp! Ôi vị đại hiền trí, xin chàng chớ giận thiếp! Bởi vì sự thanh tịnh không có cho người bị sự giận dữ chế ngự, từ đâu mà có được sự khổ hạnh?’
BJT 294‘Tôi sẽ rời khỏi Nālā. Ai sẽ sống ở nơi đây, tại Nālā, trong khi cô, với sắc đẹp nữ nhân, trói buộc các Sa-môn có cuộc sống theo Giáo Pháp?’
BJT 295‘Chàng Kāḷa ơi, chàng hãy đến, chàng hãy quay về, chàng hãy thọ hưởng các dục lạc giống như trước đây. Thiếp và những người nào là thân quyến của thiếp sẽ chịu sự sai khiến của chàng.’
BJT 296‘Chỉ cần một phần tư của điều ấy, giống như lời nàng nói với ta, điều ấy quả thật là quý hóa cho người đàn ông đã say đắm nàng.’
BJT 297‘Chàng Kāḷa ơi, (thiếp) tựa như chồi non của cây takkārī đã được đơm hoa ở trên đỉnh núi, tựa như giống dây leo dāḷima đã được nở rộ hoa, tựa như cây hoa kèn ở bên trong hòn đảo.
BJT 298(Thiếp) có tay chân được bôi trầm hương màu vàng, mặc loại vải Kāsī thượng hạng, trong khi thiếp đây đang có sắc đẹp, bởi vì ai chàng nỡ bỏ thiếp ra đi?’
BJT 299‘Giống y như người thợ bẫy chim muốn bắt con chim, nàng muốn trói buộc ta bằng sắc đẹp hấp dẫn. Nàng sẽ không cám dỗ được ta.’
BJT 300‘Chàng Kāḷa ơi, còn kết quả đứa con trai này của thiếp là do chàng đã tạo ra. Trong khi thiếp đây có con trai, bởi vì ai chàng nỡ bỏ thiếp ra đi?’
BJT 301‘Các bậc có trí tuệ lìa bỏ những đứa con trai, rồi các thân quyến, sau đến tài sản. Các bậc đại anh hùng xuất gia, tựa như con voi đã ra đi sau khi giật đứt sự trói buộc.’
BJT 302‘Giờ đây, bằng cây gậy hoặc bằng con dao, thiếp có thể làm đứa con trai này của chàng té ngã ở trên mặt đất. Vì sự lo âu cho con trai, chàng không ra đi.’
BJT 303‘Này cô nàng tồi tệ, nếu nàng cho đứa con trai đến những con chó rừng, đến những con chó hoang, do việc đã làm đối với đứa con trai, nàng cũng sẽ không làm cho ta quay trở lại.’
BJT 304‘Đã thế thì thưa bậc đạo hạnh, giờ đây thì hãy như vậy đi. Này chàng Kāḷa, chàng sẽ đi đâu? Làng mạc, thị trấn , thành phố , các kinh đô nào?’
BJT 305‘Trước đây, bọn ta đã có đồ chúng, không phải là các Sa-môn, nhưng nghĩ là Sa-môn. Bọn ta đã lang thang từ làng này đến làng khác, đến các thành phố, đến các kinh đô.
BJT 306Bởi vì đức Phật Thế Tôn ấy, ở cạnh dòng sông Nerañjarā, thuyết giảng Giáo Pháp nhằm việc dứt bỏ tất cả khổ đau cho các sanh linh. Ta sẽ đi đến gặp vị ấy; vị ấy sẽ là bậc Đạo Sư của ta.’
BJT 307‘Chàng nên thuật lại với đấng Bảo Hộ Thế Gian vô thượng về sự kính lễ bây giờ (của thiếp), và sau khi đã hướng bên phải nhiễu quanh, chàng nên trình lên vật cúng dường (của thiếp).’
BJT 308‘Điều ấy quả là khả dĩ đối với bọn ta, giống như lời nàng nói với ta. Ta sẽ thuật lại với đấng Bảo Hộ Thế Gian vô thượng về sự kính lễ bây giờ (của nàng), và sau khi đã hướng bên phải nhiễu quanh, ta sẽ trình lên vật cúng dường (của nàng).’
BJT 309Ngay sau đó, Kāḷa ra đi về phía dòng sông Nerañjarā. Vị ấy đã nhìn thấy đấng Toàn Giác đang thuyết giảng về vị thế Bất Tử, …
BJT 310… về Khổ, về sự sanh lên của Khổ, về sự vượt qua Khổ, và về Thánh Đạo tám chi phần đưa đến sự yên lặng của Khổ.
BJT 311Sau khi đảnh lễ hai bàn chân của Ngài, sau khi hướng bên phải nhiễu quanh Ngài, sau khi trình lên (vật cúng dường) của Cāpā, vị ấy đã xuất gia sống đời không nhà. Ba Minh đã được thành tựu, lời dạy của đức Phật đã được thực hành.”
Trưởng lão ni Cāpā đã nói những lời kệ như thế.
Kệ ngôn của trưởng lão ni Cāpā.
“Laṭṭhihattho pure āsi,
so dāni migaluddako;
Āsāya palipā ghorā,
nāsakkhi pārametave.
Sumattaṁ maṁ maññamānā,
cāpā puttamatosayi;
Cāpāya bandhanaṁ chetvā,
pabbajissaṁ punopahaṁ”.
“Mā me kujjhi mahāvīra,
mā me kujjhi mahāmuni;
Na hi kodhaparetassa,
suddhi atthi kuto tapo”.
“Pakkamissañca nāḷāto,
kodha nāḷāya vacchati;
Bandhantī itthirūpena,
samaṇe dhammajīvino”.
“Ehi kāḷa nivattassu,
bhuñja kāme yathā pure;
Ahañca te vasīkatā,
ye ca me santi ñātakā”.
“Etto cāpe catubbhāgaṁ,
yathā bhāsasi tvañca me;
Tayi rattassa posassa,
uḷāraṁ vata taṁ siyā”.
“Kāḷaṅginiṁva takkāriṁ,
pupphitaṁ girimuddhani;
Phullaṁ dālimalaṭṭhiṁva,
antodīpeva pāṭaliṁ.
Haricandanalittaṅgiṁ,
kāsikuttamadhāriniṁ;
Taṁ maṁ rūpavatiṁ santiṁ,
kassa ohāya gacchasi”.
“Sākuntikova sakuṇiṁ,
yathā bandhitumicchati;
Āharimena rūpena,
na maṁ tvaṁ bādhayissasi”.
“Imañca me puttaphalaṁ,
kāḷa uppāditaṁ tayā;
Taṁ maṁ puttavatiṁ santiṁ,
kassa ohāya gacchasi”.
“Jahanti putte sappaññā,
tato ñātī tato dhanaṁ;
Pabbajanti mahāvīrā,
nāgo chetvāva bandhanaṁ”.
“Idāni te imaṁ puttaṁ,
Daṇḍena churikāya vā;
Bhūmiyaṁ vā nisumbhissaṁ,
Puttasokā na gacchasi”.
“Sace puttaṁ siṅgālānaṁ,
kukkurānaṁ padāhisi;
Na maṁ puttakatte jammi,
punarāvattayissasi”.
“Handa kho dāni bhaddante,
kuhiṁ kāḷa gamissasi;
Katamaṁ gāmanigamaṁ,
nagaraṁ rājadhāniyo”.
“Ahumha pubbe gaṇino,
Assamaṇā samaṇamānino;
Gāmena gāmaṁ vicarimha,
Nagare rājadhāniyo.
Eso hi bhagavā buddho,
nadiṁ nerañjaraṁ pati;
Sabbadukkhappahānāya,
dhammaṁ deseti pāṇinaṁ;
Tassāhaṁ santikaṁ gacchaṁ,
so me satthā bhavissati”.
“Vandanaṁ dāni vajjāsi,
lokanāthaṁ anuttaraṁ;
Padakkhiṇañca katvāna,
ādiseyyāsi dakkhiṇaṁ”.
“Etaṁ kho labbhamamhehi,
yathā bhāsasi tvañca me;
Vandanaṁ dāni te vajjaṁ,
lokanāthaṁ anuttaraṁ;
Padakkhiṇañca katvāna,
ādisissāmi dakkhiṇaṁ”.
Tato ca kāḷo pakkāmi,
nadiṁ nerañjaraṁ pati;
So addasāsi sambuddhaṁ,
desentaṁ amataṁ padaṁ.
Dukkhaṁ dukkhasamuppādaṁ,
dukkhassa ca atikkamaṁ;
Ariyaṁ caṭṭhaṅgikaṁ maggaṁ,
dukkhūpasamagāminaṁ.
Tassa pādāni vanditvā,
Katvāna naṁ padakkhiṇaṁ;
Cāpāya ādisitvāna,
Pabbajiṁ anagāriyaṁ;
Tisso vijjā anuppattā,
Kataṁ buddhassa sāsanaṁ.
… Cāpā therī ….
“Once I carried a hermit’s staff,
but these days I hunt deer.
My desires have made me unable to cross
from the awful marsh to the far shore.
Thinking me so in love with her,
Cāpā kept our son happy.
Having cut Cāpā’s bond,
I’ll go forth once again.”
“Don’t be mad at me, great hero!
Don’t be mad at me, great sage!
If you’re mired in anger you can’t stay pure,
let alone be fervent.”
“I’m going to leave Nālā!
For who’d stay here at Nālā!
With their figures, the women trap
ascetics who live righteously.”
“Please, Kāḷa, come back to me.
Enjoy pleasures like you did before.
I’ll be under your control,
along with any relatives I have.”
“Cāpā, if even a quarter
of what you say were true,
it would be a splendid thing
for a man in love with you!”
“Kāḷa, I am like a sprouting iris
flowering on a mountain top,
like a blossoming pomegranate,
like a patala tree on an isle;
my limbs are anointed with yellow sandalwood,
and I wear the finest Kāsi cloth:
when I am so very beautiful,
how can you abandon me and leave?”
“You’re like a fowler
who wants to catch a bird;
but you won’t trap me
with your captivating form.”
“But this child, my fruit,
was begotten by you, Kāḷa.
When I have this child,
how can you abandon me and leave?”
“The wise give up
children, family, and wealth.
Great heroes go forth
like elephants breaking their bonds.”
“Now, this son of yours:
I’ll strike him to the ground right here,
with a stick or with a knife!
Grieving your son, you will not leave.”
“Even if you feed our son
to jackals and dogs,
I’d never return again, you bitch,
not even for the child’s sake.”
“Well then, sir, tell me,
where will you go, Kāḷa?
To what village or town,
city or capital?”
“Last time we had followers,
we weren’t ascetics, we just thought we were.
We wandered from village to village,
to cities and capitals.
But now the Blessed One, the Buddha,
back on the bank of the Nerañjara River,
teaches the Dhamma so that living creatures
may abandon all suffering.
I shall go to his presence,
he shall be my Teacher.”
“Now please convey my respects
to the supreme protector of the world.
Circling him to your right,
dedicate my religious donation.”
“This is the proper thing to do,
just as you have said to me.
I’ll convey your respects
to the supreme protector of the world.
Circling him to my right,
I’ll dedicate your religious donation.”
Then Kāḷa set out
back to the bank of the Nerañjara River.
He saw the Awakened One
teaching the state free of death:
suffering, suffering’s origin,
suffering’s transcendence,
and the noble eightfold path
that leads to the stilling of suffering.
He paid homage at his feet,
circling him to his right,
and conveyed Cāpā’s dedication;
then he went forth to homelessness.
He attained the three knowledges,
and fulfilled the Buddha’s instructions.
BJT 291“‘Trước đây, người ấy đã là vị (đạo sĩ) có gậy ở bàn tay. Bây giờ, người ấy là thợ săn thú rừng. Vì tham ái, người ấy đã không thể đi đến bờ kia từ đầm lầy ghê rợn.
BJT 292Trong khi nghĩ rằng tôi là vô cùng cởi mở, Cāpā đã chọc giỡn đứa con trai. Sau khi cắt đứt sự trói buộc của Cāpā, tôi sẽ xuất gia lại lần nữa.’
BJT 293‘Ôi vị đại anh hùng, xin chàng chớ giận thiếp! Ôi vị đại hiền trí, xin chàng chớ giận thiếp! Bởi vì sự thanh tịnh không có cho người bị sự giận dữ chế ngự, từ đâu mà có được sự khổ hạnh?’
BJT 294‘Tôi sẽ rời khỏi Nālā. Ai sẽ sống ở nơi đây, tại Nālā, trong khi cô, với sắc đẹp nữ nhân, trói buộc các Sa-môn có cuộc sống theo Giáo Pháp?’
BJT 295‘Chàng Kāḷa ơi, chàng hãy đến, chàng hãy quay về, chàng hãy thọ hưởng các dục lạc giống như trước đây. Thiếp và những người nào là thân quyến của thiếp sẽ chịu sự sai khiến của chàng.’
BJT 296‘Chỉ cần một phần tư của điều ấy, giống như lời nàng nói với ta, điều ấy quả thật là quý hóa cho người đàn ông đã say đắm nàng.’
BJT 297‘Chàng Kāḷa ơi, (thiếp) tựa như chồi non của cây takkārī đã được đơm hoa ở trên đỉnh núi, tựa như giống dây leo dāḷima đã được nở rộ hoa, tựa như cây hoa kèn ở bên trong hòn đảo.
BJT 298(Thiếp) có tay chân được bôi trầm hương màu vàng, mặc loại vải Kāsī thượng hạng, trong khi thiếp đây đang có sắc đẹp, bởi vì ai chàng nỡ bỏ thiếp ra đi?’
BJT 299‘Giống y như người thợ bẫy chim muốn bắt con chim, nàng muốn trói buộc ta bằng sắc đẹp hấp dẫn. Nàng sẽ không cám dỗ được ta.’
BJT 300‘Chàng Kāḷa ơi, còn kết quả đứa con trai này của thiếp là do chàng đã tạo ra. Trong khi thiếp đây có con trai, bởi vì ai chàng nỡ bỏ thiếp ra đi?’
BJT 301‘Các bậc có trí tuệ lìa bỏ những đứa con trai, rồi các thân quyến, sau đến tài sản. Các bậc đại anh hùng xuất gia, tựa như con voi đã ra đi sau khi giật đứt sự trói buộc.’
BJT 302‘Giờ đây, bằng cây gậy hoặc bằng con dao, thiếp có thể làm đứa con trai này của chàng té ngã ở trên mặt đất. Vì sự lo âu cho con trai, chàng không ra đi.’
BJT 303‘Này cô nàng tồi tệ, nếu nàng cho đứa con trai đến những con chó rừng, đến những con chó hoang, do việc đã làm đối với đứa con trai, nàng cũng sẽ không làm cho ta quay trở lại.’
BJT 304‘Đã thế thì thưa bậc đạo hạnh, giờ đây thì hãy như vậy đi. Này chàng Kāḷa, chàng sẽ đi đâu? Làng mạc, thị trấn , thành phố , các kinh đô nào?’
BJT 305‘Trước đây, bọn ta đã có đồ chúng, không phải là các Sa-môn, nhưng nghĩ là Sa-môn. Bọn ta đã lang thang từ làng này đến làng khác, đến các thành phố, đến các kinh đô.
BJT 306Bởi vì đức Phật Thế Tôn ấy, ở cạnh dòng sông Nerañjarā, thuyết giảng Giáo Pháp nhằm việc dứt bỏ tất cả khổ đau cho các sanh linh. Ta sẽ đi đến gặp vị ấy; vị ấy sẽ là bậc Đạo Sư của ta.’
BJT 307‘Chàng nên thuật lại với đấng Bảo Hộ Thế Gian vô thượng về sự kính lễ bây giờ (của thiếp), và sau khi đã hướng bên phải nhiễu quanh, chàng nên trình lên vật cúng dường (của thiếp).’
BJT 308‘Điều ấy quả là khả dĩ đối với bọn ta, giống như lời nàng nói với ta. Ta sẽ thuật lại với đấng Bảo Hộ Thế Gian vô thượng về sự kính lễ bây giờ (của nàng), và sau khi đã hướng bên phải nhiễu quanh, ta sẽ trình lên vật cúng dường (của nàng).’
BJT 309Ngay sau đó, Kāḷa ra đi về phía dòng sông Nerañjarā. Vị ấy đã nhìn thấy đấng Toàn Giác đang thuyết giảng về vị thế Bất Tử, …
BJT 310… về Khổ, về sự sanh lên của Khổ, về sự vượt qua Khổ, và về Thánh Đạo tám chi phần đưa đến sự yên lặng của Khổ.
BJT 311Sau khi đảnh lễ hai bàn chân của Ngài, sau khi hướng bên phải nhiễu quanh Ngài, sau khi trình lên (vật cúng dường) của Cāpā, vị ấy đã xuất gia sống đời không nhà. Ba Minh đã được thành tựu, lời dạy của đức Phật đã được thực hành.”
Trưởng lão ni Cāpā đã nói những lời kệ như thế.
Kệ ngôn của trưởng lão ni Cāpā.
“Laṭṭhihattho pure āsi,
so dāni migaluddako;
Āsāya palipā ghorā,
nāsakkhi pārametave.
Sumattaṁ maṁ maññamānā,
cāpā puttamatosayi;
Cāpāya bandhanaṁ chetvā,
pabbajissaṁ punopahaṁ”.
“Mā me kujjhi mahāvīra,
mā me kujjhi mahāmuni;
Na hi kodhaparetassa,
suddhi atthi kuto tapo”.
“Pakkamissañca nāḷāto,
kodha nāḷāya vacchati;
Bandhantī itthirūpena,
samaṇe dhammajīvino”.
“Ehi kāḷa nivattassu,
bhuñja kāme yathā pure;
Ahañca te vasīkatā,
ye ca me santi ñātakā”.
“Etto cāpe catubbhāgaṁ,
yathā bhāsasi tvañca me;
Tayi rattassa posassa,
uḷāraṁ vata taṁ siyā”.
“Kāḷaṅginiṁva takkāriṁ,
pupphitaṁ girimuddhani;
Phullaṁ dālimalaṭṭhiṁva,
antodīpeva pāṭaliṁ.
Haricandanalittaṅgiṁ,
kāsikuttamadhāriniṁ;
Taṁ maṁ rūpavatiṁ santiṁ,
kassa ohāya gacchasi”.
“Sākuntikova sakuṇiṁ,
yathā bandhitumicchati;
Āharimena rūpena,
na maṁ tvaṁ bādhayissasi”.
“Imañca me puttaphalaṁ,
kāḷa uppāditaṁ tayā;
Taṁ maṁ puttavatiṁ santiṁ,
kassa ohāya gacchasi”.
“Jahanti putte sappaññā,
tato ñātī tato dhanaṁ;
Pabbajanti mahāvīrā,
nāgo chetvāva bandhanaṁ”.
“Idāni te imaṁ puttaṁ,
Daṇḍena churikāya vā;
Bhūmiyaṁ vā nisumbhissaṁ,
Puttasokā na gacchasi”.
“Sace puttaṁ siṅgālānaṁ,
kukkurānaṁ padāhisi;
Na maṁ puttakatte jammi,
punarāvattayissasi”.
“Handa kho dāni bhaddante,
kuhiṁ kāḷa gamissasi;
Katamaṁ gāmanigamaṁ,
nagaraṁ rājadhāniyo”.
“Ahumha pubbe gaṇino,
Assamaṇā samaṇamānino;
Gāmena gāmaṁ vicarimha,
Nagare rājadhāniyo.
Eso hi bhagavā buddho,
nadiṁ nerañjaraṁ pati;
Sabbadukkhappahānāya,
dhammaṁ deseti pāṇinaṁ;
Tassāhaṁ santikaṁ gacchaṁ,
so me satthā bhavissati”.
“Vandanaṁ dāni vajjāsi,
lokanāthaṁ anuttaraṁ;
Padakkhiṇañca katvāna,
ādiseyyāsi dakkhiṇaṁ”.
“Etaṁ kho labbhamamhehi,
yathā bhāsasi tvañca me;
Vandanaṁ dāni te vajjaṁ,
lokanāthaṁ anuttaraṁ;
Padakkhiṇañca katvāna,
ādisissāmi dakkhiṇaṁ”.
Tato ca kāḷo pakkāmi,
nadiṁ nerañjaraṁ pati;
So addasāsi sambuddhaṁ,
desentaṁ amataṁ padaṁ.
Dukkhaṁ dukkhasamuppādaṁ,
dukkhassa ca atikkamaṁ;
Ariyaṁ caṭṭhaṅgikaṁ maggaṁ,
dukkhūpasamagāminaṁ.
Tassa pādāni vanditvā,
Katvāna naṁ padakkhiṇaṁ;
Cāpāya ādisitvāna,
Pabbajiṁ anagāriyaṁ;
Tisso vijjā anuppattā,
Kataṁ buddhassa sāsanaṁ.
… Cāpā therī ….