BJT 87“Tôi đã lễ bái ngọn lửa, mặt trăng, mặt trời, và chư Thiên. Sau khi đi đến các bến nước ở dòng sông, tôi đã lội xuống nước.
BJT 88Với sự thọ trì nhiều phận sự, tôi đã cạo một nửa đầu tóc, tôi sắp xếp việc nằm ở mặt đất, tôi đã không thọ dụng thức ăn vào ban đêm.
BJT 89Ưa thích việc trang sức và tô điểm, với các việc tắm rửa và thoa bóp, tôi đã hầu hạ thân xác này, bị khổ sở vì sự luyến ái ở các dục.
BJT 90Sau đó, khi đã đạt được niềm tin, tôi đã xuất gia sống đời không nhà, sau khi nhìn thấy xác thân đúng theo bản thể, sự luyến ái ở các dục đã được xóa sạch.
BJT 91Tất cả các hữu, các sự ước muốn, và các điều mong mỏi đã được trừ tuyệt. Không còn bị ràng buộc bởi tất cả các điều ràng buộc, tôi đã đạt được sự an tịnh của tâm.”
Trưởng lão ni Nanduttarā đã nói những lời kệ như thế.
Kệ ngôn của trưởng lão ni Nanduttarā.
“Aggiṁ candañca sūriyañca,
devatā ca namassihaṁ;
Nadītitthāni gantvāna,
udakaṁ oruhāmihaṁ.
Bahūvatasamādānā,
aḍḍhaṁ sīsassa olikhiṁ;
Chamāya seyyaṁ kappemi,
rattiṁ bhattaṁ na bhuñjahaṁ.
Vibhūsāmaṇḍanaratā,
nhāpanucchādanehi ca;
Upakāsiṁ imaṁ kāyaṁ,
kāmarāgena aṭṭitā.
Tato saddhaṁ labhitvāna,
pabbajiṁ anagāriyaṁ;
Disvā kāyaṁ yathābhūtaṁ,
kāmarāgo samūhato.
Sabbe bhavā samucchinnā,
icchā ca patthanāpi ca;
Sabbayogavisaṁyuttā,
santiṁ pāpuṇi cetaso”ti.
… Nanduttarā therī ….
In the past I worshiped the sacred flame,
the moon, the sun, and the gods.
Having gone to a river ford,
I plunged into the water.
Undertaking many vows,
I shaved half my head.
Preparing a bed on the ground,
I ate no food at night.
I loved my ornaments and decorations;
and with baths and oil-massages,
I pandered to this body,
racked by desire for pleasures of the senses.
But then I gained faith,
and went forth to homelessness.
Truly seeing the body,
desire for sensual pleasure is eradicated.
All rebirths are cut off,
wishes and aspirations too.
Unyoked from all yokes,
I’ve found peace of mind.
BJT 87“Tôi đã lễ bái ngọn lửa, mặt trăng, mặt trời, và chư Thiên. Sau khi đi đến các bến nước ở dòng sông, tôi đã lội xuống nước.
BJT 88Với sự thọ trì nhiều phận sự, tôi đã cạo một nửa đầu tóc, tôi sắp xếp việc nằm ở mặt đất, tôi đã không thọ dụng thức ăn vào ban đêm.
BJT 89Ưa thích việc trang sức và tô điểm, với các việc tắm rửa và thoa bóp, tôi đã hầu hạ thân xác này, bị khổ sở vì sự luyến ái ở các dục.
BJT 90Sau đó, khi đã đạt được niềm tin, tôi đã xuất gia sống đời không nhà, sau khi nhìn thấy xác thân đúng theo bản thể, sự luyến ái ở các dục đã được xóa sạch.
BJT 91Tất cả các hữu, các sự ước muốn, và các điều mong mỏi đã được trừ tuyệt. Không còn bị ràng buộc bởi tất cả các điều ràng buộc, tôi đã đạt được sự an tịnh của tâm.”
Trưởng lão ni Nanduttarā đã nói những lời kệ như thế.
Kệ ngôn của trưởng lão ni Nanduttarā.
“Aggiṁ candañca sūriyañca,
devatā ca namassihaṁ;
Nadītitthāni gantvāna,
udakaṁ oruhāmihaṁ.
Bahūvatasamādānā,
aḍḍhaṁ sīsassa olikhiṁ;
Chamāya seyyaṁ kappemi,
rattiṁ bhattaṁ na bhuñjahaṁ.
Vibhūsāmaṇḍanaratā,
nhāpanucchādanehi ca;
Upakāsiṁ imaṁ kāyaṁ,
kāmarāgena aṭṭitā.
Tato saddhaṁ labhitvāna,
pabbajiṁ anagāriyaṁ;
Disvā kāyaṁ yathābhūtaṁ,
kāmarāgo samūhato.
Sabbe bhavā samucchinnā,
icchā ca patthanāpi ca;
Sabbayogavisaṁyuttā,
santiṁ pāpuṇi cetaso”ti.
… Nanduttarā therī ….