BJT 139“‘Nàng trẻ trung và có sắc đẹp, ta cũng trẻ trung và là thanh niên. Này Khemā, nàng hãy đến. Chúng ta hãy vui thú với nhạc cụ gồm có năm loại.’
BJT 140‘Ta bị khổ sở, bị hổ thẹn với xác thân hôi thối, bệnh hoạn, mảnh mai này. Ta có tham ái trong các dục đã được xóa sạch.
BJT 141Các dục như là gươm giáo, các uẩn như là cái thớt của chúng. Điều ngươi gọi là sự thích thú trong các dục, điều ấy giờ đây là sự không thích thú đối với ta.
BJT 142Sự vui thích đã được phá hủy ở tất cả các nơi. Khối đống tăm tối (vô minh) đã được phá tan. Này Ác Nhân, ngươi hãy biết như thế. Này Tử Thần, ngươi đã bị đánh bại.
BJT 143Này những kẻ ngu dốt, trong khi lễ bái các vì tinh tú, trong khi thờ phụng ngọn lửa ở trong rừng, trong khi không biết đúng theo bản thể, các ngươi nghĩ là sự trong sạch.
BJT 144Còn ta, ngay trong khi lễ bái đấng Toàn Giác, bậc Tối Thượng Nhân, ta đã được hoàn toàn giải thoát khỏi tất cả các khổ đau, ta là người thực hành Giáo Pháp của đấng Đạo Sư.’”
Trưởng lão ni Khemā đã nói những lời kệ như thế.
Kệ ngôn của trưởng lão ni Khemā.
“Daharā tvaṁ rūpavatī,
ahampi daharo yuvā;
Pañcaṅgikena turiyena,
ehi kheme ramāmase”.
“Iminā pūtikāyena,
āturena pabhaṅgunā;
Aṭṭiyāmi harāyāmi,
kāmataṇhā samūhatā.
Sattisūlūpamā kāmā,
khandhāsaṁ adhikuṭṭanā;
Yaṁ ‘tvaṁ kāmaratiṁ’ brūsi,
‘aratī’ dāni sā mama.
Sabbattha vihatā nandī,
tamokhandho padālito;
Evaṁ jānāhi pāpima,
nihato tvamasi antaka.
Nakkhattāni namassantā,
aggiṁ paricaraṁ vane;
Yathābhuccamajānantā,
bālā suddhimamaññatha.
Ahañca kho namassantī,
sambuddhaṁ purisuttamaṁ;
Pamuttā sabbadukkhehi,
satthusāsanakārikā”ti.
… Khemā therī ….
“You’re so young and beautiful!
I too am young, just a youth.
Come, Khemā, let us enjoy
the music of a five-piece band.”
“This body is rotting,
ailing and frail,
I’m horrified and repelled by it,
and I’ve eradicated sensual craving.
Sensual pleasures are like swords and spears;
the aggregates are their chopping block.
What you call erotic delight
is now no delight for me.
Relishing is banished in every respect,
and the mass of darkness is shattered.
So know this, Wicked One:
you’re beaten, terminator!”
“Worshiping the stars,
serving the sacred flame in a grove;
failing to grasp the true nature of things,
foolish me, I thought this was purity.
But now I worship the Awakened One,
supreme among men.
Doing the teacher’s bidding,
I am released from all suffering.”
BJT 139“‘Nàng trẻ trung và có sắc đẹp, ta cũng trẻ trung và là thanh niên. Này Khemā, nàng hãy đến. Chúng ta hãy vui thú với nhạc cụ gồm có năm loại.’
BJT 140‘Ta bị khổ sở, bị hổ thẹn với xác thân hôi thối, bệnh hoạn, mảnh mai này. Ta có tham ái trong các dục đã được xóa sạch.
BJT 141Các dục như là gươm giáo, các uẩn như là cái thớt của chúng. Điều ngươi gọi là sự thích thú trong các dục, điều ấy giờ đây là sự không thích thú đối với ta.
BJT 142Sự vui thích đã được phá hủy ở tất cả các nơi. Khối đống tăm tối (vô minh) đã được phá tan. Này Ác Nhân, ngươi hãy biết như thế. Này Tử Thần, ngươi đã bị đánh bại.
BJT 143Này những kẻ ngu dốt, trong khi lễ bái các vì tinh tú, trong khi thờ phụng ngọn lửa ở trong rừng, trong khi không biết đúng theo bản thể, các ngươi nghĩ là sự trong sạch.
BJT 144Còn ta, ngay trong khi lễ bái đấng Toàn Giác, bậc Tối Thượng Nhân, ta đã được hoàn toàn giải thoát khỏi tất cả các khổ đau, ta là người thực hành Giáo Pháp của đấng Đạo Sư.’”
Trưởng lão ni Khemā đã nói những lời kệ như thế.
Kệ ngôn của trưởng lão ni Khemā.
“Daharā tvaṁ rūpavatī,
ahampi daharo yuvā;
Pañcaṅgikena turiyena,
ehi kheme ramāmase”.
“Iminā pūtikāyena,
āturena pabhaṅgunā;
Aṭṭiyāmi harāyāmi,
kāmataṇhā samūhatā.
Sattisūlūpamā kāmā,
khandhāsaṁ adhikuṭṭanā;
Yaṁ ‘tvaṁ kāmaratiṁ’ brūsi,
‘aratī’ dāni sā mama.
Sabbattha vihatā nandī,
tamokhandho padālito;
Evaṁ jānāhi pāpima,
nihato tvamasi antaka.
Nakkhattāni namassantā,
aggiṁ paricaraṁ vane;
Yathābhuccamajānantā,
bālā suddhimamaññatha.
Ahañca kho namassantī,
sambuddhaṁ purisuttamaṁ;
Pamuttā sabbadukkhehi,
satthusāsanakārikā”ti.
… Khemā therī ….