BJT 117“Sau khi cầm lấy những cái chày, những người thanh niên giã thóc. Trong khi nuôi dưỡng các con và vợ, những người thanh niên tìm kiếm tài sản.
BJT 118‘Các cô hãy thực hành lời dạy của đức Phật, sau khi làm điều ấy thì không phải hối tiếc. Các cô hãy nhanh chóng rửa các bàn chân rồi hãy ngồi xuống ở một góc. Được gắn liền với sự bình lặng của tâm, các cô hãy thực hành lời dạy của đức Phật.’
BJT 119Sau khi lắng nghe lời nói, lời chỉ dạy của vị ni Paṭācārā ấy, (ba mươi) vị ni ấy đã nhanh chóng rửa các bàn chân rồi ngồi xuống ở một góc. Được gắn liền với sự bình lặng của tâm, các cô đã thực hành lời dạy của đức Phật.
BJT 120Vào canh thứ nhất của đêm, họ đã nhớ lại đời sống trước đây. Vào canh giữa của đêm, họ đã làm trong sạch Thiên nhãn. Vào canh cuối của đêm, họ đã phá tan khối đống tăm tối (vô minh).
BJT 121Sau khi đứng lên, họ đã (đi đến gặp và đã) đảnh lễ các bàn chân (của vị ni Paṭācārā và thưa rằng): ‘Các lời chỉ dạy của ni sư đã được thực hành. Chúng tôi sẽ tôn vinh và sẽ sống (với ni sư), tựa như chư Thiên cõi Ba Mươi đối với vị Trời Inda không bị đánh bại ở chiến trường. Chúng tôi có ba Minh, không còn lậu hoặc.’”
Các tỳ khưu ni trưởng lão số lượng ba mươi vị đã nói những lời kệ như thế.
Kệ ngôn của ba mươi vị tỳ khưu ni trưởng lão.
“Musalāni gahetvāna,
dhaññaṁ koṭṭenti māṇavā;
Puttadārāni posentā,
dhanaṁ vindanti māṇavā.
Karotha buddhasāsanaṁ,
yaṁ katvā nānutappati;
Khippaṁ pādāni dhovitvā,
ekamante nisīdatha;
Cetosamathamanuyuttā,
karotha buddhasāsanaṁ”.
Tassā tā vacanaṁ sutvā,
paṭācārāya sāsanaṁ;
Pāde pakkhālayitvāna,
ekamantaṁ upāvisuṁ;
Cetosamathamanuyuttā,
akaṁsu buddhasāsanaṁ.
Rattiyā purime yāme,
pubbajātimanussaruṁ;
Rattiyā majjhime yāme,
dibbacakkhuṁ visodhayuṁ;
Rattiyā pacchime yāme,
tamokhandhaṁ padālayuṁ.
Uṭṭhāya pāde vandiṁsu,
“katā te anusāsanī;
Indaṁva devā tidasā,
saṅgāme aparājitaṁ;
Purakkhatvā vihassāma,
tevijjāmha anāsavā”ti.
Itthaṁ sudaṁ tiṁsamattā therī bhikkhuniyo paṭācārāya santike aññaṁ byākariṁsūti.
SC 1SC Verse 117PTS Verse 117Ms 19Th2_169Msdiv 117[Patacara taught:]
"Taking the pestle,
young men grind the corn.
Supporting their wives & children,
they gather up wealth.
SC 2SC Verse 118PTS Verse 118Ms 19Th2_170Msdiv 118Do the Awakened One's bidding,
which, having done,
you'll have no regret.
Intent on tranquillity of awareness,
do the Awakened One's bidding.
Quickly:
Having washed your feet,
go sit to one side."
SC 3SC Verse 119PTS Verse 119Ms 19Th2_171Msdiv 119Hearing these words,
Patacara's bidding,
they washed their feet
and retired to one side.
Intent on tranquillity of awareness,
they did the Awakened One's bidding.
SC 4SC Verse 120PTS Verse 120Ms 19Th2_172Msdiv 120In the first watch of the night,
they recollected their previous lives.
In the middle watch,
purified the divine eye.
In the last,
burst the mass of darkness.
Getting up, they bowed down to her feet.
SC 5SC Verse 121PTS Verse 121Ms 19Th2_173Msdiv 121"We have done your bidding.
Like the thirty devas honoring Indra,
unvanquished in battle,
we — three-knowledge women,
fermentation-free —
will continue honoring you."
BJT 117“Sau khi cầm lấy những cái chày, những người thanh niên giã thóc. Trong khi nuôi dưỡng các con và vợ, những người thanh niên tìm kiếm tài sản.
BJT 118‘Các cô hãy thực hành lời dạy của đức Phật, sau khi làm điều ấy thì không phải hối tiếc. Các cô hãy nhanh chóng rửa các bàn chân rồi hãy ngồi xuống ở một góc. Được gắn liền với sự bình lặng của tâm, các cô hãy thực hành lời dạy của đức Phật.’
BJT 119Sau khi lắng nghe lời nói, lời chỉ dạy của vị ni Paṭācārā ấy, (ba mươi) vị ni ấy đã nhanh chóng rửa các bàn chân rồi ngồi xuống ở một góc. Được gắn liền với sự bình lặng của tâm, các cô đã thực hành lời dạy của đức Phật.
BJT 120Vào canh thứ nhất của đêm, họ đã nhớ lại đời sống trước đây. Vào canh giữa của đêm, họ đã làm trong sạch Thiên nhãn. Vào canh cuối của đêm, họ đã phá tan khối đống tăm tối (vô minh).
BJT 121Sau khi đứng lên, họ đã (đi đến gặp và đã) đảnh lễ các bàn chân (của vị ni Paṭācārā và thưa rằng): ‘Các lời chỉ dạy của ni sư đã được thực hành. Chúng tôi sẽ tôn vinh và sẽ sống (với ni sư), tựa như chư Thiên cõi Ba Mươi đối với vị Trời Inda không bị đánh bại ở chiến trường. Chúng tôi có ba Minh, không còn lậu hoặc.’”
Các tỳ khưu ni trưởng lão số lượng ba mươi vị đã nói những lời kệ như thế.
Kệ ngôn của ba mươi vị tỳ khưu ni trưởng lão.
“Musalāni gahetvāna,
dhaññaṁ koṭṭenti māṇavā;
Puttadārāni posentā,
dhanaṁ vindanti māṇavā.
Karotha buddhasāsanaṁ,
yaṁ katvā nānutappati;
Khippaṁ pādāni dhovitvā,
ekamante nisīdatha;
Cetosamathamanuyuttā,
karotha buddhasāsanaṁ”.
Tassā tā vacanaṁ sutvā,
paṭācārāya sāsanaṁ;
Pāde pakkhālayitvāna,
ekamantaṁ upāvisuṁ;
Cetosamathamanuyuttā,
akaṁsu buddhasāsanaṁ.
Rattiyā purime yāme,
pubbajātimanussaruṁ;
Rattiyā majjhime yāme,
dibbacakkhuṁ visodhayuṁ;
Rattiyā pacchime yāme,
tamokhandhaṁ padālayuṁ.
Uṭṭhāya pāde vandiṁsu,
“katā te anusāsanī;
Indaṁva devā tidasā,
saṅgāme aparājitaṁ;
Purakkhatvā vihassāma,
tevijjāmha anāsavā”ti.
Itthaṁ sudaṁ tiṁsamattā therī bhikkhuniyo paṭācārāya santike aññaṁ byākariṁsūti.