BJT 42“Không đạt được sự an tịnh của ý, không làm chủ được việc kiểm soát ở tâm, tôi đã đi ra khỏi trú xá bốn lần, năm lần.
BJT 43Tôi đây đã đi đến gặp vị tỳ khưu ni, vị ni ấy đối với tôi đã là người đáng tin cậy. Vị ni ấy đã thuyết giảng Giáo Pháp cho tôi về (năm) uẩn, (mười hai) xứ, (mười tám) giới.
BJT 44Sau khi lắng nghe Pháp của vị ni ấy, đúng theo như vị ni ấy đã chỉ dạy cho tôi, tôi đã ngồi xuống chỉ một tư thế kiết già trong bảy ngày, đạt được sự an lạc. Vào ngày thứ tám, tôi đã duỗi ra các bàn chân, sau khi đã phá tan khối đống tăm tối (vô minh).”
Trưởng lão ni Uttamā đã nói những lời kệ như thế.
Kệ ngôn của trưởng lão ni Uttamā.
“Catukkhattuṁ pañcakkhattuṁ,
vihārā upanikkhamiṁ;
Aladdhā cetaso santiṁ,
citte avasavattinī.
Sā bhikkhuniṁ upagacchiṁ,
yā me saddhāyikā ahu;
Sā me dhammamadesesi,
khandhāyatanadhātuyo.
Tassā dhammaṁ suṇitvāna,
Yathā maṁ anusāsi sā;
Sattāhaṁ ekapallaṅkena,
Nisīdiṁ pītisukhasamappitā;
Aṭṭhamiyā pāde pasāresiṁ,
Tamokhandhaṁ padāliyā”ti.
… Uttamā therī ….
SC 1SC Verse 42PTS Verse 42Ms 19Th2_74Msdiv 42Four times, five, I ran amok from my dwelling,
having gained no peace of awareness,
my thoughts out of control.
SC 2SC Verse 43PTS Verse 43Ms 19Th2_75Msdiv 43So I went to a trustworthy nun.
She taught me the Dhamma:
aggregates, sense spheres, & elements.
SC 3SC Verse 44PTS Verse 44Ms 19Th2_76Msdiv 44Hearing the Dhamma,
I did as she said.
For seven days I sat in one spot,
absorbed in rapture & bliss.
On the eighth, I stretched out my legs,
having burst the mass
of darkness.
BJT 42“Không đạt được sự an tịnh của ý, không làm chủ được việc kiểm soát ở tâm, tôi đã đi ra khỏi trú xá bốn lần, năm lần.
BJT 43Tôi đây đã đi đến gặp vị tỳ khưu ni, vị ni ấy đối với tôi đã là người đáng tin cậy. Vị ni ấy đã thuyết giảng Giáo Pháp cho tôi về (năm) uẩn, (mười hai) xứ, (mười tám) giới.
BJT 44Sau khi lắng nghe Pháp của vị ni ấy, đúng theo như vị ni ấy đã chỉ dạy cho tôi, tôi đã ngồi xuống chỉ một tư thế kiết già trong bảy ngày, đạt được sự an lạc. Vào ngày thứ tám, tôi đã duỗi ra các bàn chân, sau khi đã phá tan khối đống tăm tối (vô minh).”
Trưởng lão ni Uttamā đã nói những lời kệ như thế.
Kệ ngôn của trưởng lão ni Uttamā.
“Catukkhattuṁ pañcakkhattuṁ,
vihārā upanikkhamiṁ;
Aladdhā cetaso santiṁ,
citte avasavattinī.
Sā bhikkhuniṁ upagacchiṁ,
yā me saddhāyikā ahu;
Sā me dhammamadesesi,
khandhāyatanadhātuyo.
Tassā dhammaṁ suṇitvāna,
Yathā maṁ anusāsi sā;
Sattāhaṁ ekapallaṅkena,
Nisīdiṁ pītisukhasamappitā;
Aṭṭhamiyā pāde pasāresiṁ,
Tamokhandhaṁ padāliyā”ti.
… Uttamā therī ….