BJT 97“Trong khi sống tại gia, tôi đã lắng nghe Pháp của vị tỳ khưu, tôi đã nhìn thấy pháp xa lìa luyến ái, Niết Bàn, vị thế Bất Hoại.
BJT 98Sau khi lìa bỏ con trai, con gái, tài sản, và lúa gạo, sau khi nhờ người cạo tóc, tôi đây đã xuất gia sống đời không nhà.
BJT 99Trong khi là cô ni tu tập sự, trong khi tu tập Đạo Lộ thẳng tắp, tôi đã dứt bỏ luyến ái và sân hận, luôn cả các lậu hoặc đồng sanh với chúng.
BJT 100Sau khi đã được tu lên bậc trên trở thành tỳ khưu ni, tôi đã nhớ lại đời sống trước đây. Thiên nhãn đã được trong sạch, không vết nhơ, đã được tu tập tốt đẹp.
BJT 101Sau khi nhìn thấy các hành là vô ngã, được sanh lên do nhân, (có bản chất) bị tan rã, tôi đã dứt bỏ tất cả các lậu hoặc, tôi có được trạng thái mát mẻ, chứng được Niết Bàn.”
Trưởng lão ni Sakulā đã nói những lời kệ như thế.
Kệ ngôn của trưởng lão ni Sakulā.
“Agārasmiṁ vasantīhaṁ,
dhammaṁ sutvāna bhikkhuno;
Addasaṁ virajaṁ dhammaṁ,
nibbānaṁ padamaccutaṁ.
Sāhaṁ puttaṁ dhītarañca,
dhanadhaññañca chaḍḍiya;
Kese chedāpayitvāna,
pabbajiṁ anagāriyaṁ.
Sikkhamānā ahaṁ santī,
bhāventī maggamañjasaṁ;
Pahāsiṁ rāgadosañca,
tadekaṭṭhe ca āsave.
Bhikkhunī upasampajja,
pubbajātimanussariṁ;
Dibbacakkhu visodhitaṁ,
vimalaṁ sādhubhāvitaṁ.
Saṅkhāre parato disvā,
hetujāte palokite;
Pahāsiṁ āsave sabbe,
sītibhūtāmhi nibbutā”ti.
… Sakulā therī ….
While staying at home
I heard the teaching from a monk.
I saw the stainless Dhamma,
extinguishment, the state that does not pass.
Leaving behind my son and my daughter,
my riches and my grain,
I had my hair cut off,
and went forth to homelessness.
As a trainee nun,
I developed the direct path.
I gave up greed and hate,
along with associated defilements.
When I was fully ordained as a nun,
I recollected my past lives,
and purified my clairvoyance,
immaculate and fully developed.
Conditions are born of causes, crumbling;
having seen them as other,
I gave up all defilements,
I’m cooled and quenched.
BJT 97“Trong khi sống tại gia, tôi đã lắng nghe Pháp của vị tỳ khưu, tôi đã nhìn thấy pháp xa lìa luyến ái, Niết Bàn, vị thế Bất Hoại.
BJT 98Sau khi lìa bỏ con trai, con gái, tài sản, và lúa gạo, sau khi nhờ người cạo tóc, tôi đây đã xuất gia sống đời không nhà.
BJT 99Trong khi là cô ni tu tập sự, trong khi tu tập Đạo Lộ thẳng tắp, tôi đã dứt bỏ luyến ái và sân hận, luôn cả các lậu hoặc đồng sanh với chúng.
BJT 100Sau khi đã được tu lên bậc trên trở thành tỳ khưu ni, tôi đã nhớ lại đời sống trước đây. Thiên nhãn đã được trong sạch, không vết nhơ, đã được tu tập tốt đẹp.
BJT 101Sau khi nhìn thấy các hành là vô ngã, được sanh lên do nhân, (có bản chất) bị tan rã, tôi đã dứt bỏ tất cả các lậu hoặc, tôi có được trạng thái mát mẻ, chứng được Niết Bàn.”
Trưởng lão ni Sakulā đã nói những lời kệ như thế.
Kệ ngôn của trưởng lão ni Sakulā.
“Agārasmiṁ vasantīhaṁ,
dhammaṁ sutvāna bhikkhuno;
Addasaṁ virajaṁ dhammaṁ,
nibbānaṁ padamaccutaṁ.
Sāhaṁ puttaṁ dhītarañca,
dhanadhaññañca chaḍḍiya;
Kese chedāpayitvāna,
pabbajiṁ anagāriyaṁ.
Sikkhamānā ahaṁ santī,
bhāventī maggamañjasaṁ;
Pahāsiṁ rāgadosañca,
tadekaṭṭhe ca āsave.
Bhikkhunī upasampajja,
pubbajātimanussariṁ;
Dibbacakkhu visodhitaṁ,
vimalaṁ sādhubhāvitaṁ.
Saṅkhāre parato disvā,
hetujāte palokite;
Pahāsiṁ āsave sabbe,
sītibhūtāmhi nibbutā”ti.
… Sakulā therī ….