BJT 312“‘Này bà quý mến, trước đây trong khi để cho các người con trai đã chết bị nhai ngấu nghiến (bởi loài thú), bà quả thật vô cùng buồn bực ban ngày lẫn ban đêm.
BJT 313Này nữ Bà-la-môn Vāseṭṭhī, hôm nay sau khi đã để cho tất cả một trăm người con trai bị nhai ngấu nghiến, vì lý do gì mà bà đây không buồn bực nhiều?’
BJT 314‘Này ông Bà-la-môn, nhiều trăm đứa con trai và nhiều trăm tập thể thân quyến của tôi và của ông trong thời quá khứ đã bị để cho nhai ngấu nghiến (bởi loài thú).
BJT 315Sau khi biết được lối thoát ra khỏi sự sống và sự chết, tôi đây không sầu muộn, không khóc lóc, và cũng đã không còn buồn bực nữa.’
BJT 316‘Này Vāseṭṭhī, bà nói lời như thế quả thật là phi thường! Sau khi biết Giáo Pháp của ai mà bà nói lời vững chãi như thế?’
BJT 317‘Này ông Bà-la-môn, đấng Toàn Giác ấy, ở cạnh thành phố Mithilā, đã thuyết giảng Giáo Pháp nhằm việc dứt bỏ tất cả khổ đau cho các sanh linh.
BJT 318Này ông Bà-la-môn, sau khi lắng nghe Giáo Pháp không có mầm mống tái sanh của vị A-la-hán ấy, tại nơi ấy, với Chánh Pháp đã được nhận thức, tôi đã xua tan nỗi sầu muộn về những đứa con trai.’
BJT 319‘Tôi đây cũng sẽ đi về phía thành phố Mithilā. Có lẽ đức Thế Tôn ấy có thể giúp cho tôi giải thoát khỏi tất cả khổ đau.’ Vị Bà-la-môn đã nhìn thấy đức Phật, bậc đã được hoàn toàn giải thoát, không còn mầm mống tái sanh.
BJT 320Đấng Hiền Trí, bậc đã đi đến bờ kia của khổ đau, đã thuyết giảng Giáo Pháp cho vị (Bà-la-môn) ấy về Khổ, về sự sanh lên của Khổ, về sự vượt qua Khổ, và về Thánh Đạo tám chi phần đưa đến sự yên lặng của Khổ.
BJT 321Tại nơi ấy, với Chánh Pháp đã được nhận thức, vị ấy đã tự mình thích thú với việc xuất gia. Sau ba đêm, Sujāta đã chạm đến ba Minh.
BJT 322‘Này người đánh xe, hãy đến. Ngươi hãy đi, hãy đưa cỗ xe này về. Hãy chúc bà Bà-la-môn được mạnh khỏe (và nói rằng): Giờ đây, ông Bà-la-môn đã xuất gia. Sau ba đêm, Sujāta đã chạm đến ba Minh.’
BJT 323Và sau đó, người đánh xe đã nhận lấy cỗ xe và một ngàn (đồng tiền) rồi đã chúc bà Bà-la-môn được mạnh khỏe (và nói rằng): ‘Giờ đây, ông Bà-la-môn đã xuất gia. Sau ba đêm, Sujāta đã chạm đến ba Minh.’
BJT 324‘Này người đánh xe, sau khi biết được ông Bà-la-môn có được ba Minh, tôi cho ông một bình bát đầy với cỗ xe đã thắng ngựa này, và luôn cả một ngàn (đồng tiền).’
BJT 325‘Thưa bà Bà-la-môn, hãy để cỗ xe đã thắng ngựa này và luôn cả một ngàn (đồng tiền) lại cho chính bà. Tôi cũng sẽ xuất gia trong sự chứng minh của bậc có trí tuệ cao quý.’
BJT 326‘Sau khi từ bỏ voi, bò, ngựa, ngọc ma-ni, nhẫn, và tài sản gia đình dồi dào này, cha của con đã xuất gia. Này Sundarī, là người nữ thừa tự của gia đình, con hãy thọ hưởng các của cải.’
BJT 327‘Sau khi từ bỏ voi, bò, ngựa, ngọc ma-ni, nhẫn, và tài sản gia đình đáng yêu này, cha của con đã xuất gia, bị khổ sở vì nỗi sầu muộn về đứa con trai. Con cũng sẽ xuất gia, bị khổ sở vì nỗi sầu muộn về người em trai.’
BJT 328‘Này Sundarī, mong rằng ý định ấy của con, điều mà con ước nguyện, được thành tựu. Đồ ăn do đã đứng (chờ đợi), sự khất thực, và y may bằng vải quăng bỏ, trong khi chịu đựng những điều ấy, con sẽ không còn lậu hoặc ở đời kế tiếp.’
BJT 329‘Thưa ni sư, trong khi con là cô ni tu tập sự, Thiên nhãn (của con) được trong sạch, con biết đời sống trước đây, nơi con đã sống trước đây.
BJT 330Thưa đấng tốt lành, thưa bậc chói sáng của hội chúng trưởng lão ni, ba Minh đã được (con) thành tựu, lời dạy của đức Phật đã được thực hành.
BJT 331Thưa ni sư, hãy cho phép con; con muốn đi đến Sāvatthi. Con sẽ rống tiếng rống của sư tử trong sự chứng minh của đức Phật tối cao.’
BJT 332‘Này Sundarī, ngươi hãy nhìn xem bậc Đạo Sư có sắc màu vàng, có làn da màu vàng, bậc thuần phục những kẻ chưa được thuần phục, đấng Toàn Giác, không có sự sợ hãi từ bất cứ đâu.
BJT 333Ngài hãy nhìn Sundarī đang đi đến, đã được hoàn toàn giải thoát, không còn mầm mống tái sanh, có sự luyến ái đã được xa lìa, không còn bị ràng buộc, có phận sự đã làm xong, không còn lậu hoặc.’
BJT 334‘Bạch đấng Đại Hùng, sau khi rời khỏi Bārāṇasī, con đã đi đến để gặp Ngài. Nữ đệ tử Sundarī xin đảnh lễ hai bàn chân của Ngài.
BJT 335Ngài là đức Phật. Ngài là bậc Đạo Sư. Bạch đấng Bà-la-môn, con là người con gái chính thống của Ngài, đã được sanh ra từ miệng, có phận sự đã làm xong, không còn lậu hoặc.’
BJT 336‘Này vị ni hiền thiện, cô đây có việc đã đi đến tốt đẹp, do đó cô có việc đã đi đến không xấu xa. Bởi vì những người đã được thuần phục đi đến như vậy, đã được đảnh lễ hai bàn chân của bậc Đạo Sư, có luyến ái đã được xa lìa, không bị ràng buộc, có phận sự đã làm xong, không còn lậu hoặc.’”
Trưởng lão ni Sundarī đã nói những lời kệ như thế.
Kệ ngôn của trưởng lão ni Sundarī.
“Petāni bhoti puttāni,
khādamānā tuvaṁ pure;
Tuvaṁ divā ca ratto ca,
atīva paritappasi.
Sājja sabbāni khāditvā,
sataputtāni brāhmaṇī;
Vāseṭṭhi kena vaṇṇena,
na bāḷhaṁ paritappasi”.
“Bahūni puttasatāni,
ñātisaṅghasatāni ca;
Khāditāni atītaṁse,
mama tuyhañca brāhmaṇa.
Sāhaṁ nissaraṇaṁ ñatvā,
jātiyā maraṇassa ca;
Na socāmi na rodāmi,
na cāpi paritappayiṁ”.
“Abbhutaṁ vata vāseṭṭhi,
vācaṁ bhāsasi edisiṁ;
Kassa tvaṁ dhammamaññāya,
giraṁ bhāsasi edisiṁ”.
“Esa brāhmaṇa sambuddho,
nagaraṁ mithilaṁ pati;
Sabbadukkhappahānāya,
dhammaṁ desesi pāṇinaṁ.
Tassa brahme arahato,
dhammaṁ sutvā nirūpadhiṁ;
Tattha viññātasaddhammā,
puttasokaṁ byapānudiṁ”.
“So ahampi gamissāmi,
nagaraṁ mithilaṁ pati;
Appeva maṁ so bhagavā,
sabbadukkhā pamocaye”.
Addasa brāhmaṇo buddhaṁ,
vippamuttaṁ nirūpadhiṁ;
Svassa dhammamadesesi,
muni dukkhassa pāragū.
Dukkhaṁ dukkhasamuppādaṁ,
dukkhassa ca atikkamaṁ;
Ariyaṁ caṭṭhaṅgikaṁ maggaṁ,
dukkhūpasamagāminaṁ.
Tattha viññātasaddhammo,
pabbajjaṁ samarocayi;
Sujāto tīhi rattīhi,
tisso vijjā aphassayi.
“Ehi sārathi gacchāhi,
rathaṁ niyyādayāhimaṁ;
Ārogyaṁ brāhmaṇiṁ vajja,
‘pabbaji dāni brāhmaṇo;
Sujāto tīhi rattīhi,
tisso vijjā aphassayi’”.
Tato ca rathamādāya,
sahassañcāpi sārathi;
Ārogyaṁ brāhmaṇiṁvoca,
“pabbaji dāni brāhmaṇo;
Sujāto tīhi rattīhi,
tisso vijjā aphassayi”.
“Etañcāhaṁ assarathaṁ,
sahassañcāpi sārathi;
Tevijjaṁ brāhmaṇaṁ sutvā,
puṇṇapattaṁ dadāmi te”.
“Tuyheva hotvassaratho,
sahassañcāpi brāhmaṇi;
Ahampi pabbajissāmi,
varapaññassa santike”.
“Hatthī gavassaṁ maṇikuṇḍalañca,
Phītañcimaṁ gahavibhavaṁ pahāya;
Pitā pabbajito tuyhaṁ,
Bhuñja bhogāni sundarī;
Tuvaṁ dāyādikā kule”.
“Hatthī gavassaṁ maṇikuṇḍalañca,
Rammaṁ cimaṁ gahavibhavaṁ pahāya;
Pitā pabbajito mayhaṁ,
Puttasokena aṭṭito;
Ahampi pabbajissāmi,
Bhātusokena aṭṭitā”.
“So te ijjhatu saṅkappo,
yaṁ tvaṁ patthesi sundarī;
Uttiṭṭhapiṇḍo uñcho ca,
paṁsukūlañca cīvaraṁ;
Etāni abhisambhontī,
paraloke anāsavā”.
“Sikkhamānāya me ayye,
dibbacakkhu visodhitaṁ;
Pubbenivāsaṁ jānāmi,
yattha me vusitaṁ pure.
Tuvaṁ nissāya kalyāṇi,
theri saṅghassa sobhane;
Tisso vijjā anuppattā,
kataṁ buddhassa sāsanaṁ.
Anujānāhi me ayye,
icche sāvatthi gantave;
Sīhanādaṁ nadissāmi,
buddhaseṭṭhassa santike”.
“Passa sundari satthāraṁ,
hemavaṇṇaṁ harittacaṁ;
Adantānaṁ dametāraṁ,
sambuddhamakutobhayaṁ”.
“Passa sundarimāyantiṁ,
vippamuttaṁ nirūpadhiṁ;
Vītarāgaṁ visaṁyuttaṁ,
katakiccamanāsavaṁ.
Bārāṇasito nikkhamma,
tava santikamāgatā;
Sāvikā te mahāvīra,
pāde vandati sundarī.
Tuvaṁ buddho tuvaṁ satthā,
tuyhaṁ dhītāmhi brāhmaṇa;
Orasā mukhato jātā,
katakiccā anāsavā”.
“Tassā te svāgataṁ bhadde,
tato te adurāgataṁ;
Evañhi dantā āyanti,
satthu pādāni vandikā;
Vītarāgā visaṁyuttā,
katakiccā anāsavā”.
… Sundarī therī ….
“Before, good lady, when feeding
your departed children,
you’d be racked with despair
all day and all night.
Today, brahmin lady, you have fed
all seven children.
Vāseṭṭhī, how do you explain why
you’re not so filled with despair?”
“Many hundreds of children,
hundreds of family circles,
both mine and yours, brahmin,
have been fed in the past.
Having known the escape
from rebirth and death
I neither grieve nor lament,
nor do I despair.”
“Wow, Vaseṭṭhī, the words you speak
really are amazing!
Whose teaching did you understand
that you say these things?”
“Brahmin, the Awakened One
back at the city of Mithilā,
teaches the Dhamma so that living creatures
may abandon all suffering.
After hearing the perfected one’s teaching,
brahmin, which is free of all attachments,
having understood the true teaching there,
I’ve cast aside grief for children.”
“I too shall go
to the city of Mithilā.
Hopefully the Buddha may release me
from all suffering.”
The brahmin saw the Buddha,
liberated, free of attachments.
He taught him the Dhamma,
the sage gone beyond suffering:
suffering, suffering’s origin,
suffering’s transcendence,
and the noble eightfold path
that leads to the stilling of suffering.
Having understood the true teaching there,
he chose to go forth.
Three days later
Sujāta realized the three knowledges.
“Please, charioteer, go;
take back this carriage.
Bidding my brahmin lady good health, say:
‘The brahmin has now gone forth.
After three days,
Sujāta realized the three knowledges.’”
Then taking the carriage,
along with a thousand coins, the charioteer
bade the brahmin lady good health, and said:
“The brahmin has now gone forth.
After three days,
Sujāta realized the three knowledges.”
Hearing that the brahmin had the three knowledges, the lady replied:
“I present to you this horse and carriage,
O charioteer, along with 1000 coins,
and a full bowl as a gift.”
“Keep the horse and carriage, lady,
along with the thousand coins.
I too shall go forth in his presence,
the one of such outstanding wisdom.”
“Elephants, cattle, jeweled earrings,
such opulent domestic worth:
having given it up, your father went forth,
enjoy these riches Sundarī,
you are the family heir.”
“Elephants, cattle, jeweled earrings,
such delightful domestic worth:
having given it up, my father went forth,
racked by grief for his son.
I too shall go forth,
racked by grief for my brother.”
“Sundarī, may the wish you desire
come true.
Leftovers as gleanings,
and cast-off rags as robes—
make do with these,
free of defilements regarding the next life.”
“Ma’am, while I am still a trainee nun,
my clairvoyance is clarified;
I know my past lives,
the places I used to live.
Relying on a fine lady like you,
a senior nun who graces the Sangha,
I’ve attained the three knowledges,
and fulfilled the Buddha’s instructions.
Give me permission ma’am,
I wish to go to Sāvatthī,
where I shall roar my lion’s roar
before the best of Buddhas.”
“Sundarī, see the Teacher!
Snow gold in tint, with sun-golden skin;
tamer of the untamed,
the Awakened One who fears nothing from any quarter.”
“See Sundarī coming,
liberated, free of attachments.
desireless, detached,
her task completed, without defilements.”
“Having set forth from Varanasi
and come to your presence, great hero,
your disciple Sundarī
bows at your feet.
You are the Buddha, you are the Teacher,
I am your rightful daughter, brahmin,
born of your mouth.
I’ve completed the task and am free of defilements.”
“Then welcome, good lady,
you’re by no means unwelcome.
For this is how the tamed come
bowing at the Teacher’s feet;
desireless, detached,
the task completed, without defilements.”
BJT 312“‘Này bà quý mến, trước đây trong khi để cho các người con trai đã chết bị nhai ngấu nghiến (bởi loài thú), bà quả thật vô cùng buồn bực ban ngày lẫn ban đêm.
BJT 313Này nữ Bà-la-môn Vāseṭṭhī, hôm nay sau khi đã để cho tất cả một trăm người con trai bị nhai ngấu nghiến, vì lý do gì mà bà đây không buồn bực nhiều?’
BJT 314‘Này ông Bà-la-môn, nhiều trăm đứa con trai và nhiều trăm tập thể thân quyến của tôi và của ông trong thời quá khứ đã bị để cho nhai ngấu nghiến (bởi loài thú).
BJT 315Sau khi biết được lối thoát ra khỏi sự sống và sự chết, tôi đây không sầu muộn, không khóc lóc, và cũng đã không còn buồn bực nữa.’
BJT 316‘Này Vāseṭṭhī, bà nói lời như thế quả thật là phi thường! Sau khi biết Giáo Pháp của ai mà bà nói lời vững chãi như thế?’
BJT 317‘Này ông Bà-la-môn, đấng Toàn Giác ấy, ở cạnh thành phố Mithilā, đã thuyết giảng Giáo Pháp nhằm việc dứt bỏ tất cả khổ đau cho các sanh linh.
BJT 318Này ông Bà-la-môn, sau khi lắng nghe Giáo Pháp không có mầm mống tái sanh của vị A-la-hán ấy, tại nơi ấy, với Chánh Pháp đã được nhận thức, tôi đã xua tan nỗi sầu muộn về những đứa con trai.’
BJT 319‘Tôi đây cũng sẽ đi về phía thành phố Mithilā. Có lẽ đức Thế Tôn ấy có thể giúp cho tôi giải thoát khỏi tất cả khổ đau.’ Vị Bà-la-môn đã nhìn thấy đức Phật, bậc đã được hoàn toàn giải thoát, không còn mầm mống tái sanh.
BJT 320Đấng Hiền Trí, bậc đã đi đến bờ kia của khổ đau, đã thuyết giảng Giáo Pháp cho vị (Bà-la-môn) ấy về Khổ, về sự sanh lên của Khổ, về sự vượt qua Khổ, và về Thánh Đạo tám chi phần đưa đến sự yên lặng của Khổ.
BJT 321Tại nơi ấy, với Chánh Pháp đã được nhận thức, vị ấy đã tự mình thích thú với việc xuất gia. Sau ba đêm, Sujāta đã chạm đến ba Minh.
BJT 322‘Này người đánh xe, hãy đến. Ngươi hãy đi, hãy đưa cỗ xe này về. Hãy chúc bà Bà-la-môn được mạnh khỏe (và nói rằng): Giờ đây, ông Bà-la-môn đã xuất gia. Sau ba đêm, Sujāta đã chạm đến ba Minh.’
BJT 323Và sau đó, người đánh xe đã nhận lấy cỗ xe và một ngàn (đồng tiền) rồi đã chúc bà Bà-la-môn được mạnh khỏe (và nói rằng): ‘Giờ đây, ông Bà-la-môn đã xuất gia. Sau ba đêm, Sujāta đã chạm đến ba Minh.’
BJT 324‘Này người đánh xe, sau khi biết được ông Bà-la-môn có được ba Minh, tôi cho ông một bình bát đầy với cỗ xe đã thắng ngựa này, và luôn cả một ngàn (đồng tiền).’
BJT 325‘Thưa bà Bà-la-môn, hãy để cỗ xe đã thắng ngựa này và luôn cả một ngàn (đồng tiền) lại cho chính bà. Tôi cũng sẽ xuất gia trong sự chứng minh của bậc có trí tuệ cao quý.’
BJT 326‘Sau khi từ bỏ voi, bò, ngựa, ngọc ma-ni, nhẫn, và tài sản gia đình dồi dào này, cha của con đã xuất gia. Này Sundarī, là người nữ thừa tự của gia đình, con hãy thọ hưởng các của cải.’
BJT 327‘Sau khi từ bỏ voi, bò, ngựa, ngọc ma-ni, nhẫn, và tài sản gia đình đáng yêu này, cha của con đã xuất gia, bị khổ sở vì nỗi sầu muộn về đứa con trai. Con cũng sẽ xuất gia, bị khổ sở vì nỗi sầu muộn về người em trai.’
BJT 328‘Này Sundarī, mong rằng ý định ấy của con, điều mà con ước nguyện, được thành tựu. Đồ ăn do đã đứng (chờ đợi), sự khất thực, và y may bằng vải quăng bỏ, trong khi chịu đựng những điều ấy, con sẽ không còn lậu hoặc ở đời kế tiếp.’
BJT 329‘Thưa ni sư, trong khi con là cô ni tu tập sự, Thiên nhãn (của con) được trong sạch, con biết đời sống trước đây, nơi con đã sống trước đây.
BJT 330Thưa đấng tốt lành, thưa bậc chói sáng của hội chúng trưởng lão ni, ba Minh đã được (con) thành tựu, lời dạy của đức Phật đã được thực hành.
BJT 331Thưa ni sư, hãy cho phép con; con muốn đi đến Sāvatthi. Con sẽ rống tiếng rống của sư tử trong sự chứng minh của đức Phật tối cao.’
BJT 332‘Này Sundarī, ngươi hãy nhìn xem bậc Đạo Sư có sắc màu vàng, có làn da màu vàng, bậc thuần phục những kẻ chưa được thuần phục, đấng Toàn Giác, không có sự sợ hãi từ bất cứ đâu.
BJT 333Ngài hãy nhìn Sundarī đang đi đến, đã được hoàn toàn giải thoát, không còn mầm mống tái sanh, có sự luyến ái đã được xa lìa, không còn bị ràng buộc, có phận sự đã làm xong, không còn lậu hoặc.’
BJT 334‘Bạch đấng Đại Hùng, sau khi rời khỏi Bārāṇasī, con đã đi đến để gặp Ngài. Nữ đệ tử Sundarī xin đảnh lễ hai bàn chân của Ngài.
BJT 335Ngài là đức Phật. Ngài là bậc Đạo Sư. Bạch đấng Bà-la-môn, con là người con gái chính thống của Ngài, đã được sanh ra từ miệng, có phận sự đã làm xong, không còn lậu hoặc.’
BJT 336‘Này vị ni hiền thiện, cô đây có việc đã đi đến tốt đẹp, do đó cô có việc đã đi đến không xấu xa. Bởi vì những người đã được thuần phục đi đến như vậy, đã được đảnh lễ hai bàn chân của bậc Đạo Sư, có luyến ái đã được xa lìa, không bị ràng buộc, có phận sự đã làm xong, không còn lậu hoặc.’”
Trưởng lão ni Sundarī đã nói những lời kệ như thế.
Kệ ngôn của trưởng lão ni Sundarī.
“Petāni bhoti puttāni,
khādamānā tuvaṁ pure;
Tuvaṁ divā ca ratto ca,
atīva paritappasi.
Sājja sabbāni khāditvā,
sataputtāni brāhmaṇī;
Vāseṭṭhi kena vaṇṇena,
na bāḷhaṁ paritappasi”.
“Bahūni puttasatāni,
ñātisaṅghasatāni ca;
Khāditāni atītaṁse,
mama tuyhañca brāhmaṇa.
Sāhaṁ nissaraṇaṁ ñatvā,
jātiyā maraṇassa ca;
Na socāmi na rodāmi,
na cāpi paritappayiṁ”.
“Abbhutaṁ vata vāseṭṭhi,
vācaṁ bhāsasi edisiṁ;
Kassa tvaṁ dhammamaññāya,
giraṁ bhāsasi edisiṁ”.
“Esa brāhmaṇa sambuddho,
nagaraṁ mithilaṁ pati;
Sabbadukkhappahānāya,
dhammaṁ desesi pāṇinaṁ.
Tassa brahme arahato,
dhammaṁ sutvā nirūpadhiṁ;
Tattha viññātasaddhammā,
puttasokaṁ byapānudiṁ”.
“So ahampi gamissāmi,
nagaraṁ mithilaṁ pati;
Appeva maṁ so bhagavā,
sabbadukkhā pamocaye”.
Addasa brāhmaṇo buddhaṁ,
vippamuttaṁ nirūpadhiṁ;
Svassa dhammamadesesi,
muni dukkhassa pāragū.
Dukkhaṁ dukkhasamuppādaṁ,
dukkhassa ca atikkamaṁ;
Ariyaṁ caṭṭhaṅgikaṁ maggaṁ,
dukkhūpasamagāminaṁ.
Tattha viññātasaddhammo,
pabbajjaṁ samarocayi;
Sujāto tīhi rattīhi,
tisso vijjā aphassayi.
“Ehi sārathi gacchāhi,
rathaṁ niyyādayāhimaṁ;
Ārogyaṁ brāhmaṇiṁ vajja,
‘pabbaji dāni brāhmaṇo;
Sujāto tīhi rattīhi,
tisso vijjā aphassayi’”.
Tato ca rathamādāya,
sahassañcāpi sārathi;
Ārogyaṁ brāhmaṇiṁvoca,
“pabbaji dāni brāhmaṇo;
Sujāto tīhi rattīhi,
tisso vijjā aphassayi”.
“Etañcāhaṁ assarathaṁ,
sahassañcāpi sārathi;
Tevijjaṁ brāhmaṇaṁ sutvā,
puṇṇapattaṁ dadāmi te”.
“Tuyheva hotvassaratho,
sahassañcāpi brāhmaṇi;
Ahampi pabbajissāmi,
varapaññassa santike”.
“Hatthī gavassaṁ maṇikuṇḍalañca,
Phītañcimaṁ gahavibhavaṁ pahāya;
Pitā pabbajito tuyhaṁ,
Bhuñja bhogāni sundarī;
Tuvaṁ dāyādikā kule”.
“Hatthī gavassaṁ maṇikuṇḍalañca,
Rammaṁ cimaṁ gahavibhavaṁ pahāya;
Pitā pabbajito mayhaṁ,
Puttasokena aṭṭito;
Ahampi pabbajissāmi,
Bhātusokena aṭṭitā”.
“So te ijjhatu saṅkappo,
yaṁ tvaṁ patthesi sundarī;
Uttiṭṭhapiṇḍo uñcho ca,
paṁsukūlañca cīvaraṁ;
Etāni abhisambhontī,
paraloke anāsavā”.
“Sikkhamānāya me ayye,
dibbacakkhu visodhitaṁ;
Pubbenivāsaṁ jānāmi,
yattha me vusitaṁ pure.
Tuvaṁ nissāya kalyāṇi,
theri saṅghassa sobhane;
Tisso vijjā anuppattā,
kataṁ buddhassa sāsanaṁ.
Anujānāhi me ayye,
icche sāvatthi gantave;
Sīhanādaṁ nadissāmi,
buddhaseṭṭhassa santike”.
“Passa sundari satthāraṁ,
hemavaṇṇaṁ harittacaṁ;
Adantānaṁ dametāraṁ,
sambuddhamakutobhayaṁ”.
“Passa sundarimāyantiṁ,
vippamuttaṁ nirūpadhiṁ;
Vītarāgaṁ visaṁyuttaṁ,
katakiccamanāsavaṁ.
Bārāṇasito nikkhamma,
tava santikamāgatā;
Sāvikā te mahāvīra,
pāde vandati sundarī.
Tuvaṁ buddho tuvaṁ satthā,
tuyhaṁ dhītāmhi brāhmaṇa;
Orasā mukhato jātā,
katakiccā anāsavā”.
“Tassā te svāgataṁ bhadde,
tato te adurāgataṁ;
Evañhi dantā āyanti,
satthu pādāni vandikā;
Vītarāgā visaṁyuttā,
katakiccā anāsavā”.
… Sundarī therī ….