BJT 204“‘Này Vaḍḍha, con chớ có khao khát về thế gian vào bất cứ lúc nào. Này con trai bé bỏng, con chớ dự phần vào khổ đau lần này lần khác.
BJT 205Này Vaḍḍha, các bậc hiền trí, không còn dục vọng, có các nghi ngờ đã được cắt đứt, có trạng thái mát mẻ, đã đạt đến sự thuần phục, sống một cách thật sự an lạc, không còn lậu hoặc.
BJT 206Này Vaḍḍha, con hãy đeo đuổi đạo lộ đã được các bậc ẩn sĩ ấy thực hành nhằm đạt đến sự nhận thức, nhằm thực hiện việc chấm dứt khổ đau.’
BJT 207‘Thưa đấng sanh thành, mẹ vô cùng tự tin khi nói điều này với con. Thưa mẹ, con nghĩ rằng tham ái chắc chắn không còn tìm thấy ở nơi mẹ.’
BJT 208‘Này Vaḍḍha, bất cứ các hành nào là thấp thỏi, cao thượng, hay trung bình, tham ái dầu rất nhỏ, dầu có số lượng rất nhỏ, cũng không tìm thấy ở nơi mẹ.’
BJT 209Trong khi đang tham thiền không bị xao lãng, tất cả các lậu hoặc của tôi đã được cạn kiệt. Ba Minh đã được thành tựu, lời dạy của đức Phật đã được thực hành.
BJT 210Cũng giống như người có lòng bi mẫn, mẹ tôi quả thật đã vận dụng cây gậy thúc tuyệt vời, (đó là) những câu kệ ngôn gắn liền với mục đích tối hậu.
BJT 211Sau khi lắng nghe lời nói của mẹ, lời nhắc nhở của đấng sanh thành, tôi đã đạt đến sự chấn động trong Giáo Pháp, đưa đến sự an toàn khỏi các ràng buộc.
BJT 212Tôi đây, có sự ra sức, có bản tánh cương quyết, ngày và đêm không biếng nhác, trong khi được người mẹ khích lệ, tôi đã chạm đến sự An Tịnh tối thượng.”
Trưởng lão ni Vaḍḍhamātā (mẹ của Vaḍḍha) đã nói những lời kệ như thế.
Kệ ngôn của trưởng lão ni Vaḍḍhamātā.
Nhóm Chín được chấm dứt.
“Mā su te vaḍḍha lokamhi,
vanatho āhu kudācanaṁ;
Mā puttaka punappunaṁ,
ahu dukkhassa bhāgimā.
Sukhañhi vaḍḍha munayo,
anejā chinnasaṁsayā;
Sītibhūtā damappattā,
viharanti anāsavā.
Tehānuciṇṇaṁ isībhi,
maggaṁ dassanapattiyā;
Dukkhassantakiriyāya,
tvaṁ vaḍḍha anubrūhaya”.
“Visāradāva bhaṇasi,
etamatthaṁ janetti me;
Maññāmi nūna māmike,
vanatho te na vijjati”.
“Ye keci vaḍḍha saṅkhārā,
hīnā ukkaṭṭhamajjhimā;
Aṇūpi aṇumattopi,
vanatho me na vijjati.
Sabbe me āsavā khīṇā,
appamattassa jhāyato;
Tisso vijjā anuppattā,
kataṁ buddhassa sāsanaṁ”.
“Uḷāraṁ vata me mātā,
patodaṁ samavassari;
Paramatthasañhitā gāthā,
yathāpi anukampikā.
Tassāhaṁ vacanaṁ sutvā,
anusiṭṭhiṁ janettiyā;
Dhammasaṁvegamāpādiṁ,
yogakkhemassa pattiyā.
Sohaṁ padhānapahitatto,
rattindivamatandito;
Mātarā codito santo,
aphusiṁ santimuttamaṁ”.
… Vaḍḍhamātā therī ….
Navakanipāto niṭṭhito.
“Vaḍḍha, please never ever
get snarled in the world.
My child, do not partake
in suffering again and again.
For happy dwell the sages, Vaḍḍha,
unstirred, their doubts cut off,
cooled and tamed,
and free of defilements.
Vaḍḍha, foster the path
that the seers have walked,
for the attainment of vision,
and for making an end of suffering.”
“Mother, you speak with such assurance
to me on this matter.
My dear mom, I can’t help thinking
that no snarls are found in you.”
“Vaḍḍha, not a jot or a skerrick
of entanglement is found in me
for any conditions at all,
whether low, high, or middling.
All defilements are ended for me,
meditating and diligent.
I’ve attained the three knowledges
and fulfilled the Buddha’s instructions.”
“Oh so excellent was the goad
my mother spurred me with!
Owing to her compassion, she spoke
verses on the ultimate goal.
On hearing her words,
advised by my mother,
I was struck with righteous urgency
for the sake of sanctuary from the yoke.
Striving, resolute,
tireless all day and night,
urged on by my mother,
I realized supreme peace.
BJT 204“‘Này Vaḍḍha, con chớ có khao khát về thế gian vào bất cứ lúc nào. Này con trai bé bỏng, con chớ dự phần vào khổ đau lần này lần khác.
BJT 205Này Vaḍḍha, các bậc hiền trí, không còn dục vọng, có các nghi ngờ đã được cắt đứt, có trạng thái mát mẻ, đã đạt đến sự thuần phục, sống một cách thật sự an lạc, không còn lậu hoặc.
BJT 206Này Vaḍḍha, con hãy đeo đuổi đạo lộ đã được các bậc ẩn sĩ ấy thực hành nhằm đạt đến sự nhận thức, nhằm thực hiện việc chấm dứt khổ đau.’
BJT 207‘Thưa đấng sanh thành, mẹ vô cùng tự tin khi nói điều này với con. Thưa mẹ, con nghĩ rằng tham ái chắc chắn không còn tìm thấy ở nơi mẹ.’
BJT 208‘Này Vaḍḍha, bất cứ các hành nào là thấp thỏi, cao thượng, hay trung bình, tham ái dầu rất nhỏ, dầu có số lượng rất nhỏ, cũng không tìm thấy ở nơi mẹ.’
BJT 209Trong khi đang tham thiền không bị xao lãng, tất cả các lậu hoặc của tôi đã được cạn kiệt. Ba Minh đã được thành tựu, lời dạy của đức Phật đã được thực hành.
BJT 210Cũng giống như người có lòng bi mẫn, mẹ tôi quả thật đã vận dụng cây gậy thúc tuyệt vời, (đó là) những câu kệ ngôn gắn liền với mục đích tối hậu.
BJT 211Sau khi lắng nghe lời nói của mẹ, lời nhắc nhở của đấng sanh thành, tôi đã đạt đến sự chấn động trong Giáo Pháp, đưa đến sự an toàn khỏi các ràng buộc.
BJT 212Tôi đây, có sự ra sức, có bản tánh cương quyết, ngày và đêm không biếng nhác, trong khi được người mẹ khích lệ, tôi đã chạm đến sự An Tịnh tối thượng.”
Trưởng lão ni Vaḍḍhamātā (mẹ của Vaḍḍha) đã nói những lời kệ như thế.
Kệ ngôn của trưởng lão ni Vaḍḍhamātā.
Nhóm Chín được chấm dứt.
“Mā su te vaḍḍha lokamhi,
vanatho āhu kudācanaṁ;
Mā puttaka punappunaṁ,
ahu dukkhassa bhāgimā.
Sukhañhi vaḍḍha munayo,
anejā chinnasaṁsayā;
Sītibhūtā damappattā,
viharanti anāsavā.
Tehānuciṇṇaṁ isībhi,
maggaṁ dassanapattiyā;
Dukkhassantakiriyāya,
tvaṁ vaḍḍha anubrūhaya”.
“Visāradāva bhaṇasi,
etamatthaṁ janetti me;
Maññāmi nūna māmike,
vanatho te na vijjati”.
“Ye keci vaḍḍha saṅkhārā,
hīnā ukkaṭṭhamajjhimā;
Aṇūpi aṇumattopi,
vanatho me na vijjati.
Sabbe me āsavā khīṇā,
appamattassa jhāyato;
Tisso vijjā anuppattā,
kataṁ buddhassa sāsanaṁ”.
“Uḷāraṁ vata me mātā,
patodaṁ samavassari;
Paramatthasañhitā gāthā,
yathāpi anukampikā.
Tassāhaṁ vacanaṁ sutvā,
anusiṭṭhiṁ janettiyā;
Dhammasaṁvegamāpādiṁ,
yogakkhemassa pattiyā.
Sohaṁ padhānapahitatto,
rattindivamatandito;
Mātarā codito santo,
aphusiṁ santimuttamaṁ”.
… Vaḍḍhamātā therī ….
Navakanipāto niṭṭhito.