Tôi nghe như vầy:
Một thời Phật trú tại Thích-ki-sấu nước Ca-duy-la-vệ, trong vườn Ni-câu-loại.
Bấy giờ Tôn giả Đại Mục-kiền-liên cùng với đại chúng Tỳ-kheo, sau giờ ăn trưa, do có việc nên tập họp ngồi tại giảng đường. Lúc bấy giờ Ni-kiền có một người đệ tử thuộc dòng họ Thích tên Hòa-phá, sau giờ ăn trưa, thong thả đi đến chỗ Tôn giả Đại Mục-kiền-liên; cùng chào hỏi nhau rồi ngồi sang một bên.
Bấy giờ Tôn giả Đại Mục-kiền-liên hỏi sự việc như thế này:
“Này Hòa-phá, ý ông nghĩ sao? Giả sử có Tỳ-kheo thủ hộ thân, miệng, ý; ông thấy có trường hợp nào vị ấy nhân đó mà vị ấy sanh khởi lậu bất thiện dẫn đến đời sau chăng?”
Hòa-phá trả lời rằng:
“Này Đại Mục-kiền-liên, giả sử có vị Tỳ-kheo thủ hộ thân, miệng, ý; tôi thấy rằng có trường hợp nhân đó mà vị ấy sanh khởi lậu bất thiện dẫn đến đời sau. Này Đại Mục-kiền-liên, giả sử có ai ở đời trước đã làm các hành vi bất thiện, người ấy nhân đó mà sanh khởi lậu bất thiện dẫn đến đời sau”.
Lúc đó Đức Thế Tôn đang tĩnh tọa ở chỗ vắng vẻ; bằng thiên nhĩ thanh tịnh siêu việt loài người, nghe Tôn giả Đại Mục-kiền-liên và Thích Hòa-phá đệ tử của Ni-kiền cùng bàn luận như thế.
Đức Thế Tôn nghe xong, vào lúc xế chiều, rời chỗ tĩnh tọa, đi đến giảng đường, trải chỗ và ngồi trước chúng Tỳ-kheo. Sau khi ngồi, Đức Thế Tôn hỏi rằng:
“Này Đại Mục-kiền-liên, vừa rồi ông cùng đệ tử của Ni-kiền Thích Hòa-phá bàn luận về việc gì? Lại có việc gì mà tập họp ngồi tại giảng đường?”
Tôn giả Đại Mục-kiền-liên bạch rằng:
“Bạch Thế Tôn, hôm nay con cùng với đại chúng Tỳ-kheo sau giờ ăn trưa, vì có việc nên tập họp ngồi tại giảng đường. Lúc bấy giờ đệ tử Ni-kiền là Thích Hòa-phá này, sau giờ ăn trưa, thong thả đi đến chỗ con; cùng chào hỏi nhau rồi ngồi sang một bên. Con hỏi như vầy: ‘Này Hòa-phá, ý ông nghĩ sao? Giả sử có Tỳ-kheo thủ hộ thân, miệng, ý; ông thấy vị ấy có trường hợp nào nhân đó mà sanh khởi lậu bất thiện dẫn đến đời sau chăng?’ Hòa-phá trả lời con rằng: ‘Này Đại Mục-kiền-liên, giả sử có Tỳ-kheo thủ hộ thân, miệng, ý; tôi thấy rằng có trường hợp nhân đó mà sanh khởi lậu bất thiện dẫn đến đời sau. Này Đại Mục-kiền-liên, giả sử có ai ở đời trước làm hành vi bất thiện, người ấy nhân đó mà sanh khởi lậu bất thiện dẫn đến đời sau’. Bạch Thế Tôn, vừa rồi con cùng Thích Hòa-phá đệ tử Ni-kiền bàn luận như vậy. Vì việc đó mà ngồi tập họp tại giảng đường”.
Lúc đó Thế Tôn nói với Thích Hòa-phá, đệ tử của Ni-kiền, rằng:
“Nếu những gì Ta nói là đúng, ông trả lời là đúng; nếu không đúng ông nên trả lời là không đúng. Ông có điều gì nghi ngờ thì nên hỏi Ta như vầy: ‘Sa-môn Cù-đàm, cái này có sự gì? Cái này có ý nghĩa gì?’ Tùy những điều Ta nói mà ông có thể tiếp nhận được thì Ta với ông có thể bàn luận điều ấy”.
Hòa-phá trả lời rằng:
“Sa-môn Cù-đàm, nếu điều Ngài nói là đúng, tôi sẽ nói là đúng. Nếu không đúng tôi sẽ nói là không đúng. Nếu có điều nào nghi ngờ tôi sẽ hỏi Cù-đàm: ‘Thưa Cù-đàm, điều này có sự gì? Điều này có nghĩa gì?’ Tùy theo những điều Sa-môn Cù-đàm nói, tôi tiếp nhận. Vậy, Sa-môn Cù-đàm hãy cùng tôi bàn luận việc ấy”.
Đức Thế Tôn hỏi rằng:
“Ý Hòa-phá nghĩ sao? Giả sử có Tỳ-kheo sanh khởi thân hành bất thiện, là các lậu khiến bức rức, ưu sầu. Vị ấy sau đó thân hành bất thiện được diệt trừ, không tạo thêm những nghiệp mới, xả bỏ nghiệp cũ, tức thời ngay trong hiện tại liền đạt đến cứu cánh, không còn bị nóng bức, bền vững không biến đổi, tức điều được nói là được thấy bởi Thánh tuệ, được biết bởi Thánh tuệ.
“Nếu thân hành bất thiện, khẩu hành bất thiện, ý hành bất thiện, do vô minh hành mà sanh lậu, nóng bức và ưu sầu, người ấy sau đó diệt trừ vô minh hành bất thiện, không tạo thêm những nghiệp mới, xả bỏ nghiệp cũ, ngay trong hiện tại này liền chứng được cứu cánh, không còn nóng bức, thường trụ không đổi, tức điều được nói là được thấy bởi Thánh tuệ, được biết bởi Thánh tuệ. Thế nào, này Hòa-phá, Tỳ-kheo thủ hộ thân, miệng, ý như vậy, trong trường hợp này ông có thấy vị ấy nhân đó mà sanh khởi lậu bất thiện dẫn đến đời sau chăng?”
Hòa-phá trả lời rằng:
“Thưa Cù-đàm, giả sử có vị Tỳ-kheo thủ hộ thân, miệng, ý như vậy, trong trường hợp này tôi không thấy vị ấy do đó mà sanh khởi lậu bất thiện dẫn đến đời sau”.
Đức Thế Tôn khen rằng:
“Lành thay, Hòa-phá! Thế nào, này Hòa-phá, Tỳ-kheo nào mà vô minh đã dứt hết, minh đã sanh khởi; vị ấy, vô minh đã dứt hết, minh đã sanh khởi, khi cảm giác về thân tối hậu sanh khởi thì biết là cảm giác về thân tối hậu sanh khởi; khi cảm giác về mạng tối hậu sanh khởi thì biết là cảm giác về mạng tối hậu sanh khởi. Khi thân hoại mạng chung, tuổi thọ đã kết thúc, ngay trong đời này, tất cả mọi cảm giác đã ngưng bặt, tự thân mình biết sẽ đi đến chỗ lãnh đạm hoàn toàn.
“Này Hòa-phá, cũng như nhân cây mà có bóng. Giả sử có người mang búa thật bén đến chặt đứt rễ cây, chặt nát ra thành nhiều khúc, phá làm mười phần, hoặc trăm phần, đốt cháy thành tro, rồi hoặc để gió thổi bay đi, hoặc mang bỏ vào trong nước. Ý Hòa-phá nghĩ sao? Bóng nhân cây mà có; bóng ấy do đó mà mất hẳn cái nhân của nó, nên tuyệt diệt không còn sanh nữa chăng?”
Hòa-phá trả lời rằng:
“Đúng như thế, thưa Cù-đàm”.
“Này Hòa-phá, nên biết vị Tỳ-kheo kia lại cũng như vậy. Vô minh đã dứt hết, minh đã sanh khởi. Vị kia, vô minh đã dứt hết, minh đã sanh khởi, khi cảm giác về thân tối hậu sanh khởi thì vi ấy biết là cảm giác về thân tối hậu sanh khởi; khi cảm giác về mạng tối hậu sanh khởi thì vị ấy biết là cảm giác về mạng tối hậu sanh khởi. Khi thân hoại mạng chung, tuổi thọ đã kết thúc, ngay trong đời này, tất cả mọi cảm giác đã ngưng bặt, tự thân mình biết sẽ đi đến chỗ lãnh đạm hoàn toàn. Này Hòa-phá, vị Tỳ-kheo với tâm giải thoát chơn chánh như vậy, liền được sáu hằng trụ. Sáu trụ xứ đó là gì? Này Hòa-phá, Tỳ-kheo mắt thấy sắc mà không hỷ, không ưu, an trú xả, chánh niệm, chánh trí. Này Hòa-phá, vị Tỳ-kheo chánh tâm giải thoát như vậy, đó gọi là được hằng trú thứ nhất. Cũng vậy, tai, mũi, lưỡi, thân, ý biết pháp mà không hỷ không ưu, xả cầu, vô vi, chánh niệm, chánh trí. Này Hòa-phá, vị Tỳ-kheo chánh tâm giải thoát như vậy, đó gọi là được hằng trụ thứ sáu.
Hòa-phá bạch rằng:
“Đúng như vậy, thưa Sa-môn Cù-đàm!”
“Đa văn Thánh đệ tử chánh tâm giải thoát như vậy, được sáu hằng trụ. Sáu hằng trụ là những gì?”
“Thưa Cù-đàm, Đa văn Thánh đệ tử khi mắt thấy sắc, không hỷ, không ưu, an trú xả, chánh niệm, chánh trí”.
“Này Hòa-phá, Tỳ-kheo với tâm giải thoát chơn chánh như vậy, được nói là đạt được hằng trụ thứ nhất. Cũng vậy, tai, mũi, lưỡi, thân, ý biết pháp mà không hỷ, không ưu, an trú xả, chánh niệm, chánh trí. Này Hòa-phá, Tỳ-kheo với tâm giải thoát chơn chánh như vậy được nói là đạt được hằng trụ thứ sáu. Này Hòa-phá, Tỳ-kheo với tâm giải thoát chơn chánh như vậy, được sáu hằng trú này”.
Hòa-phá bạch rằng:
“Đúng như thế, thưa Cù-đàm, Đa văn Thánh đệ tử với tâm giải thoát chơn chánh như vậy, được sáu hằng trú. Thưa Cù-đàm, Đa văn Thánh đệ tử khi mắt thấy sắc, không hỷ, không ưu, an trú xả, chánh niệm, chánh trí. Thưa Cù-đàm, Đa văn Thánh đệ tử với tâm giải thoát chơn chánh như vậy, được nói là đạt được hằng trụ thứ nhất. Cũng vậy, tai, mũi, lưỡi, thân, ý biết pháp mà không hỷ, không ưu, an trú xả, chánh niệm, chánh trí. Thưa Cù-đàm, Đa văn Thánh đệ tử với tâm giải thoát chơn chánh như vậy được nói là đạt được hằng trụ thứ sáu. Như vậy, Thưa Cù-đàm, Đa văn Thánh đệ tử với tâm giải thoát chơn chánh như vậy, được sáu hằng trụ này”.
Rồi thì, Hòa-phá bạch Thế Tôn rằng:
“Bạch đức Cù-đàm, con đã biết. Bạch Đức Thiện Thệ, con đã hiểu. Bạch Đức Cù-đàm, cũng như người có mắt sáng, cái gì bị úp thì lật lên; cái gì bị che đậy thì giở ra; đối với người mê thì chỉ đường cho; trong tối tăm thì cho ánh sáng để ai có mắt thì thấy ánh sáng màu sắc. Sa-môn Cù-đàm cũng giống như vậy, vì con mà dùng vô lượng phương tiện thuyết pháp và hiển hiện nghĩa lý, theo đạo thậm thâm.
“Bạch Thế Tôn, hôm nay con xin tự quy y với Phật, Pháp và Chúng Tỳ-kheo, cúi nguyện Thế Tôn nhận cho con làm Ưu-bà-tắc; kể từ hôm nay trọn đời xin tự quy y, cho đến mạng chung.
“Bạch Thế Tôn, cũng như người nuôi con ngựa dở mà mong có lợi ích. Bạch Thế Tôn, con cũng như vậy. Con vì không hiểu rõ tường tận, không thể giải biết, không biết được ruộng tốt, không suy xét mà cung kính, lễ bái, phụng sự Ni-kiền Tử ngu si kia trong một thời gian dài, mong được lợi ích, nhưng chỉ luống nhọc khổ, vô ích. Bạch Thế Tôn, con nay lần nữa xin tự quy y Phật, Pháp và Chúng Tỳ-kheo, cúi nguyện Thế Tôn nhận cho con làm Ưu-bà-tắc; kể từ hôm nay, trọn đời xin tự quy y, cho đến mạng chung.
“Bạch Thế Tôn, con trước đây do không biết nên đối với Ni-kiền ngu si kia mà có tín, có kính, từ nay dứt hẳn. Vì sao thế? Vì phỉnh gạt con vậy. Bạch Thế Tôn, nay lần thứ ba xin tự quy y với Phật, Pháp và Chúng Tỳ-kheo, cúi nguyện Thế Tôn nhận lời cho con làm Ưu-bà-tắc; hôm nay, trọn đời xin tự quy y, cho đến khi mạng chung”.
Phật thuyết như vậy. Thích Hòa-phá và các Tỳ-kheo sau khi nghe Phật thuyết, hoan hỷ phụng hành.
T 0434a14我聞如是:
一時,佛遊釋羇瘦迦維羅衛,T 0434a15在尼拘類園。
爾時,尊者大目乾連與比T 0434a16丘眾俱,於中食後有所為故,集坐講堂。是T 0434a17時,尼乾有一弟子,釋種,名曰惒破,中後彷T 0434a18徉至尊者大目乾連所,共相問訊,却坐一T 0434a19面。
於是,尊者大目乾連問如此事:「於惒T 0434a20破意云何?若有比丘身、口、意護,汝頗見是T 0434a21處,因此生不善漏,令至後世耶?」
惒破答T 0434a22曰:「大目乾連!若有比丘身、口、意護,我見是T 0434a23處,因此生不善漏令至後世。大目乾連!T 0434a24若有前世行不善行,因此生不善漏令至T 0434a25後世。」
後時,世尊靜處宴坐,以淨天耳出過T 0434a26於人,聞尊者大目乾連與尼乾弟子釋惒T 0434a27破共論如是。世尊聞已,則於晡時從宴坐T 0434a28起,往詣講堂比丘眾前,敷座而坐。世尊坐已,T 0434b01問曰:「目乾連!向與尼乾弟子釋惒破共T 0434b02論何事?復以何事集坐講堂?」
尊者大目乾T 0434b03連白曰:「世尊!我今日與比丘眾俱,於中食T 0434b04後有所為故,集坐講堂,此尼乾弟子釋惒T 0434b05破中後彷徉來至我所,共相問訊,却坐一T 0434b06面,我問如是:『於惒破意云何?若有比丘身、T 0434b07口、意護,汝頗見是處,因此生不善漏令至T 0434b08後世耶?』尼乾弟子釋惒破即答我言:『若有T 0434b09比丘身、口、意護,我見是處,因此生不善漏T 0434b10令至後世。大目乾連!若有前世行不善T 0434b11行,因此生不善漏令至後世。』世尊!向與T 0434b12尼乾弟子釋惒破共論如是,以此事故,集T 0434b13坐講堂。」
於是,世尊語尼乾弟子釋惒破曰:T 0434b14「若我所說是者,汝當言是,若不是者,當言T 0434b15不是,汝有所疑,便可問我:『沙門瞿曇!此有T 0434b16何事,此有何義?』隨我所說,汝若能受者,我T 0434b17可與汝共論此事。」
惒破答曰:「沙門瞿曇!若T 0434b18所說是,我當言是,若不是者,當言不是,T 0434b19我若有疑,當問瞿曇:『瞿曇!此有何事,此有T 0434b20何義?』隨沙門瞿曇所說,我則受持,沙門瞿T 0434b21曇但當與我共論此事。」
世尊問曰:「於惒破T 0434b22意云何?若有比丘生不善身行、漏、煩熱、憂T 0434b23慼,彼於後時不善身行滅,不更造新業,棄T 0434b24捨故業,即於現世便得究竟而無煩熱,常T 0434b25住不變,謂聖慧所見、聖慧所知也。身生不善、T 0434b26口行不善、意行不善無明行、漏、煩熱、憂慼,T 0434b27彼於後時不善無明行滅,不更造新業,棄T 0434b28捨故業,即於現世便得究竟而無煩熱,常T 0434b29住不變,謂聖慧所見、聖慧所知。云何,惒破!T 0434c01如是比丘身、口、意護,汝頗見是處,因此生T 0434c02不善漏令至後世耶?」
惒破答曰:「瞿曇!若T 0434c03有比丘如是身、口、意護,我不見是處,因此T 0434c04生不善漏令至後世。」
世尊歎曰:「善哉!惒破!T 0434c05云何,惒破!若有比丘無明已盡,明已生,彼T 0434c06無明已盡,明已生,生後身覺便知生後身T 0434c07覺,生後命覺便知生後命覺,身壞命終,T 0434c08壽已畢訖,即於現世一切所覺便盡止息,T 0434c09當知至竟冷。猶如惒破,因樹有影,若T 0434c10使有人持利斧來斫彼樹根,段段斬截,破T 0434c11為十分,或為百分,火燒成灰,或大風吹,或T 0434c12著水中。於惒破意云何?影因樹有,彼影從T 0434c13是已絕其因,滅不生耶?」
惒破答曰:「如是。瞿T 0434c14曇!」
「惒破!當知比丘亦復如是,無明已盡,明T 0434c15已生,彼無明已盡,明已生,生後身覺便知T 0434c16生後身覺,生後命覺便知生後命覺,身壞T 0434c17命終,壽已畢訖,即於現世一切所覺便盡止T 0434c18息,當知至竟冷。惒破!比丘如是正心解脫,T 0434c19便得六善住處,云何為六?惒破!比丘眼見T 0434c20色,不喜不憂,捨求無為,正念正智,惒破!比T 0434c21丘如是正心解脫,是謂得第一善住處。如T 0434c22是,耳、鼻、舌、身、意知法,不喜不憂,捨求無為,正T 0434c23念正智,惒破!比丘如是正心解脫,是謂得T 0434c24第六善住處,惒破!比丘如是正心解脫,得T 0434c25此六善住處。」
惒破白曰:「如是,瞿曇!多聞聖弟T 0434c26子如是正心解脫,得六善住處。云何為六?T 0434c27瞿曇!多聞聖弟子眼見色,不喜不憂,捨求T 0434c28無為,正念正智,瞿曇!多聞聖弟子如是正心T 0434c29解脫,是謂得第一善住處。如是,耳、鼻、舌、身、T 0435a01意知法,不喜不憂,捨求無為,正念正智。如T 0435a02是,瞿曇!多聞聖弟子如是正心解脫,是謂T 0435a03得第六善住處。如是,瞿曇!多聞聖弟子如T 0435a04是正心解脫,得此六善住處。」
於是,惒破白T 0435a05世尊曰:「瞿曇!我已知,善逝,我已解。瞿曇猶T 0435a06明目人,覆者仰之,覆者發之,迷者示道,暗中T 0435a07施明,若有眼者便見於色;沙門瞿曇亦復T 0435a08如是,為我無量方便說法現義,隨其諸T 0435a09道。世尊!我今自歸於佛、法及比丘眾,唯願T 0435a10世尊受我為優婆塞,從今日始,終身自歸,T 0435a11乃至命盡。
「世尊!猶如有人養不良馬,望得T 0435a12其利,徒自疲勞而不獲利。世尊!我亦如是,T 0435a13彼愚癡尼乾不善曉了,不能解知,不識良T 0435a14田而不自審,長夜奉敬供養禮事,望得其T 0435a15利,唐苦無益。世尊!我今再自歸佛、法及比T 0435a16丘眾,唯願世尊受我為優婆塞,從今日始,T 0435a17終身自歸,乃至命盡。
「世尊!我本無知,於愚T 0435a18癡尼乾有信有敬,從今日斷。所以者何?T 0435a19欺誑我故。世尊!我今三自歸佛、法及比丘T 0435a20眾,唯願世尊受我為優婆塞,從今日始,終T 0435a21身自歸,乃至命盡。」
佛說如是。釋惒破及諸比T 0435a22丘聞佛所說,歡喜奉行。
T 0435a23
惒破經第二竟(一千五百二字)
T 0435a24 SC 1Thus I have heard: One time, the Buddha was travelling among the Śākya people of Kapilavastu and stayed at the banyan tree park.
SC 2It was then that Venerable Mahāmaudgalyāyana and a group of monks had assembled in the discussion hall after the midday meal to do some task. At the time, a Jain disciple from the Śākya tribe named Vāṣpa went for a walk in the afternoon. When he happened upon Venerable Mahāmaudgalyāyana, they exchanged greetings, and he withdrew to sit at one side.
SC 3Thereupon, Venerable Mahāmaudgalyāyana questioned that Jain about this topic: “Vāṣpa, what do you think? If a monk guards his body, speech, and mind, do you think that could cause him to produce contaminants that aren’t good, that lead to an afterlife?”
SC 4Vāṣpa replied, “Mahāmaudgalyāyana, if a monk guards his body, speech, and mind, I do think that could cause him to produce contaminants that aren’t good, that lead to an afterlife. Mahāmaudgalyāyana, if he had committed acts that aren’t good in a previous life, that would cause him to produce contaminants that aren’t good, that lead to an afterlife.”
SC 5At that time, the Bhagavān was sitting in a quiet place. Using his heavenly ear that goes beyond that of humans, he heard Venerable Mahāmaudgalyāyana and that Jain disciple of the Śākya tribe named Vāṣpa having this conversation. Having overheard them, the Bhagavān rose from his seat of repose that afternoon and went to the discussion hall. He prepared a seat in front of the assembled monks and sat down. Once he was seated, the Bhagavān asked, “Maudgalyāyana, what were you discussing with this Jain disciple of the Śākya tribe named Vāṣpa? And what was the reason for your meeting here in the discussion hall?”
SC 6Venerable Mahāmaudgalyāyana said, “Bhagavān, I and this group of monks assembled here in the discussion hall today after the midday meal to do something. This Jain disciple Vāṣpa was out walking this afternoon and came upon us. We exchanged greetings, and he withdrew to sit at one side. I questioned him about this: ‘Vāṣpa, what do you think? If a monk guards his body, speech, and mind, do you think that could cause him to produce contaminants that aren’t good, that lead to an afterlife?’
SC 7“Vāṣpa answered me: ‘If a monk guards his body, speech, and mind, I do think that could cause him to produce contaminants that aren’t good, that lead to an afterlife. Mahāmaudgalyāyana, if he committed acts that aren’t good in a previous life, that would cause him to produce contaminants that aren’t good, that lead to an afterlife.’ Bhagavān, this was the conversation between myself and Vāṣpa. This was the reason we assembled here in the discussion hall.”
SC 8The Bhagavān then said to Vāṣpa, “If what I say is correct, you should say, ‘So it is.’ If it isn’t correct, then you should say, ‘That’s not so.’ If you have doubts about it, then you can ask me, ‘Ascetic Gautama, what’s the reason for this? What’s the meaning of that?’ If you can accept what I say, then you and I can have a discussion about this topic.”
Vāṣpa replied, “Ascetic Gautama, if what you say is correct, I will say, ‘So it is.’ If it’s not correct, then I will say, ‘That’s not so.’ If I have doubts, I will ask Gautama, ‘Gautama, what’s the reason for this? What’s the meaning of that?’ I will then accept and retain what ascetic Gautama says about it. The ascetic Gautama will discuss this topic only with me.”
SC 9The Bhagavān then asked, “Vāṣpa, what do you think? Suppose a monk creates unskillful physical actions that were contaminants, afflictions, fevers, and griefs. Some time after that, he ceases that unskillful physical action and doesn’t do any new deeds. Abandoning his former deeds, he then reaches the final end in the present life and has no affliction or fever. He always lives unchanging, which is to say what is seen and known by a noble sage.
SC 10“As his body action was unskillful, his speech was unskillfully, and his mental action was unskillful. His ignorant actions were contaminants, afflictions, fevers, and griefs. Some time after that, he ceases his unskillful and ignorant actions and doesn’t do any new deeds. Abandoning his former deeds, he then reaches the final end in the present life and has no affliction or fever. He always lives unchanging, which is to say what is seen and known by a noble sage.
SC 11“How is it, Vāṣpa? Do you think that a monk guarding his body, speech, and mind in this way could produce contaminants that aren’t good, that lead to an afterlife?”
Vāṣpa answered, “Gautama, if a monk guards his body, speech, and mind in this way, I don’t think that could cause him to produce contaminants that aren’t good, that lead to an afterlife.”
SC 12The Bhagavān commended him, “Good,Vāṣpa! How is it, Vāṣpa? Suppose a monk has ended ignorance and produced insight. Having ended ignorance and produced insight, the feelings of his last body arise, and then he knows, ‘The feelings of this last body are arising.’ The feelings of his last life arise, and then he knows, ‘The feelings of this last life are arising.’ His body breaks up and his life ends. Having reached the end of his life span, all the feelings from his present life completely subside. It should be known that he has reached the final cooling.
SC 13“Vāṣpa, it’s like a tree that causes a shadow to be cast. Suppose someone comes and chops that tree down at its root with a sharp axe. Peice by peice, they gradually chop it up, chopping it into ten or a hundred peices. Then, they burn it until it’s reduced to ash. It might be blown away in the wind or dumped in a river. What do you think, Vāṣpa? That shadow had existed because of the tree. Would it cease and not arise again as a result of its cause having ended?”
Vāṣpa replied, “Yes, Gautama.”
SC 14“Vāṣpa, you should know that a monk who has ended ignorance and produced insight is likewise. Having ended ignorance and produced insight, the feelings of his last body arise, and then he knows, ‘The feelings of this last body are arising.’ The feelings of his last life arise, and then he knows ‘the feelings of this last life are arising.’ His body breaks up and his life ends. Having reached the end of his life span, all the feelings from his present life completely subside. It should be known that he has reached the final cooling.
SC 15“Vāṣpa, a monk who is a correctly liberated in mind in this way gains six good abiding places. What are the six? Vāṣpa, seeing forms with his eye, a monk isn’t pleased or displeased. With correct mindfulness and correct understanding, he abandons pursuits and does nothing. Vāṣpa, this is called the first good abiding place gained by a monk who is correctly liberated in mind in this way. Thus … with his ear … nose … tongue … body … knowing notions with his mind, he isn’t pleased or displeased. With correct mindfulness and correct understanding, he abandons pursuits and does nothing. Vāṣpa, this is called the sixth good abiding place gained by a monk who is correctly liberated in mind in this way. Vāṣpa, these are the six good abiding places gained by a monk who is correctly liberated in mind in this way.
“Vāṣpa said, “Yes, Gautama. A well-versed noble disciple who is correctly liberated in mind in this way gains six good abiding places. What are the six? Gautama, seeing forms with his eye, a well-versed noble disciple isn’t pleased or displeased. With correct mindfulness and correct understanding, he abandons pursuits and does nothing. Gautama, this is called the first good abiding place gained by a well-versed noble disciple who is correctly liberated in mind in this way. Thus … with his ear … nose … tongue … body … knows notions with his mind, he isn’t pleased or displeased. With correct mindfulness and correct understanding, he abandons pursuits and does nothing. So it is, Gautama. This is called the sixth good abiding place gained by a well-versed noble disciple who is correctly liberated in mind in this way. So it is, Gautama. A well-versed noble disciple who is liberated in mind in this way gains these six good abiding places.”
SC 16Vāṣpa then said to the Bhagavān, “I’ve comprehended it, Gautama. I’ve understood, Sugata. Gautama is like a man with clear vision who turns up what has been overturned, reveals what has been hidden, points the way to the lost, and provides a light in the dark so that those with eyes can see a form. The ascetic Gautama is like this. He has explained the Dharma and made its meaning plain to me using measureless methods, which accords with the profound awakening. Bhagavān, I now devote myself to the Buddha, Dharma, and Saṅgha of monks. Please, Bhagavān, accept me as a lay disciple. Starting today, I will devote myself to them for the rest of my life.
SC 17“Bhagavān, I’ve been like a man who breeds poor quality horses hoping to make a profit, but he exhausts himself and doesn’t obtain any profit. Bhagavān, I’ve been like that. Those foolish Jains don’t comprehend well, cannot understand, aren’t familiar with the excellent field, and don’t investigate things for themselves. I’ve revered, supported, and paid homage to them hoping to gain some profit from it for a long time, but it has been pointless, painful, and profitless. For the second time, Bhagavān, I now devote myself to the Buddha, Dharma, and Saṅgha of monks. Please, Bhagavān, accept me as a lay disciple. Starting today, I will devote myself to them for the rest of my life.
SC 18“Bhagavān, I knew nothing before, believing and respecting those foolish Jains. That stops today. Why is that? Because they fooled me. For the third time, Bhagavān, I now devote myself to the Buddha, Dharma, and Saṅgha of monks. Please, Bhagavān, accept me as a lay disciple. Starting today, I will devote to myself to them for the rest of my life.”
SC 19This is what the Buddha said. Vāṣpa and the monks who heard what the Buddha taught rejoiced and approved.
Tôi nghe như vầy:
Một thời Phật trú tại Thích-ki-sấu nước Ca-duy-la-vệ, trong vườn Ni-câu-loại.
Bấy giờ Tôn giả Đại Mục-kiền-liên cùng với đại chúng Tỳ-kheo, sau giờ ăn trưa, do có việc nên tập họp ngồi tại giảng đường. Lúc bấy giờ Ni-kiền có một người đệ tử thuộc dòng họ Thích tên Hòa-phá, sau giờ ăn trưa, thong thả đi đến chỗ Tôn giả Đại Mục-kiền-liên; cùng chào hỏi nhau rồi ngồi sang một bên.
Bấy giờ Tôn giả Đại Mục-kiền-liên hỏi sự việc như thế này:
“Này Hòa-phá, ý ông nghĩ sao? Giả sử có Tỳ-kheo thủ hộ thân, miệng, ý; ông thấy có trường hợp nào vị ấy nhân đó mà vị ấy sanh khởi lậu bất thiện dẫn đến đời sau chăng?”
Hòa-phá trả lời rằng:
“Này Đại Mục-kiền-liên, giả sử có vị Tỳ-kheo thủ hộ thân, miệng, ý; tôi thấy rằng có trường hợp nhân đó mà vị ấy sanh khởi lậu bất thiện dẫn đến đời sau. Này Đại Mục-kiền-liên, giả sử có ai ở đời trước đã làm các hành vi bất thiện, người ấy nhân đó mà sanh khởi lậu bất thiện dẫn đến đời sau”.
Lúc đó Đức Thế Tôn đang tĩnh tọa ở chỗ vắng vẻ; bằng thiên nhĩ thanh tịnh siêu việt loài người, nghe Tôn giả Đại Mục-kiền-liên và Thích Hòa-phá đệ tử của Ni-kiền cùng bàn luận như thế.
Đức Thế Tôn nghe xong, vào lúc xế chiều, rời chỗ tĩnh tọa, đi đến giảng đường, trải chỗ và ngồi trước chúng Tỳ-kheo. Sau khi ngồi, Đức Thế Tôn hỏi rằng:
“Này Đại Mục-kiền-liên, vừa rồi ông cùng đệ tử của Ni-kiền Thích Hòa-phá bàn luận về việc gì? Lại có việc gì mà tập họp ngồi tại giảng đường?”
Tôn giả Đại Mục-kiền-liên bạch rằng:
“Bạch Thế Tôn, hôm nay con cùng với đại chúng Tỳ-kheo sau giờ ăn trưa, vì có việc nên tập họp ngồi tại giảng đường. Lúc bấy giờ đệ tử Ni-kiền là Thích Hòa-phá này, sau giờ ăn trưa, thong thả đi đến chỗ con; cùng chào hỏi nhau rồi ngồi sang một bên. Con hỏi như vầy: ‘Này Hòa-phá, ý ông nghĩ sao? Giả sử có Tỳ-kheo thủ hộ thân, miệng, ý; ông thấy vị ấy có trường hợp nào nhân đó mà sanh khởi lậu bất thiện dẫn đến đời sau chăng?’ Hòa-phá trả lời con rằng: ‘Này Đại Mục-kiền-liên, giả sử có Tỳ-kheo thủ hộ thân, miệng, ý; tôi thấy rằng có trường hợp nhân đó mà sanh khởi lậu bất thiện dẫn đến đời sau. Này Đại Mục-kiền-liên, giả sử có ai ở đời trước làm hành vi bất thiện, người ấy nhân đó mà sanh khởi lậu bất thiện dẫn đến đời sau’. Bạch Thế Tôn, vừa rồi con cùng Thích Hòa-phá đệ tử Ni-kiền bàn luận như vậy. Vì việc đó mà ngồi tập họp tại giảng đường”.
Lúc đó Thế Tôn nói với Thích Hòa-phá, đệ tử của Ni-kiền, rằng:
“Nếu những gì Ta nói là đúng, ông trả lời là đúng; nếu không đúng ông nên trả lời là không đúng. Ông có điều gì nghi ngờ thì nên hỏi Ta như vầy: ‘Sa-môn Cù-đàm, cái này có sự gì? Cái này có ý nghĩa gì?’ Tùy những điều Ta nói mà ông có thể tiếp nhận được thì Ta với ông có thể bàn luận điều ấy”.
Hòa-phá trả lời rằng:
“Sa-môn Cù-đàm, nếu điều Ngài nói là đúng, tôi sẽ nói là đúng. Nếu không đúng tôi sẽ nói là không đúng. Nếu có điều nào nghi ngờ tôi sẽ hỏi Cù-đàm: ‘Thưa Cù-đàm, điều này có sự gì? Điều này có nghĩa gì?’ Tùy theo những điều Sa-môn Cù-đàm nói, tôi tiếp nhận. Vậy, Sa-môn Cù-đàm hãy cùng tôi bàn luận việc ấy”.
Đức Thế Tôn hỏi rằng:
“Ý Hòa-phá nghĩ sao? Giả sử có Tỳ-kheo sanh khởi thân hành bất thiện, là các lậu khiến bức rức, ưu sầu. Vị ấy sau đó thân hành bất thiện được diệt trừ, không tạo thêm những nghiệp mới, xả bỏ nghiệp cũ, tức thời ngay trong hiện tại liền đạt đến cứu cánh, không còn bị nóng bức, bền vững không biến đổi, tức điều được nói là được thấy bởi Thánh tuệ, được biết bởi Thánh tuệ.
“Nếu thân hành bất thiện, khẩu hành bất thiện, ý hành bất thiện, do vô minh hành mà sanh lậu, nóng bức và ưu sầu, người ấy sau đó diệt trừ vô minh hành bất thiện, không tạo thêm những nghiệp mới, xả bỏ nghiệp cũ, ngay trong hiện tại này liền chứng được cứu cánh, không còn nóng bức, thường trụ không đổi, tức điều được nói là được thấy bởi Thánh tuệ, được biết bởi Thánh tuệ. Thế nào, này Hòa-phá, Tỳ-kheo thủ hộ thân, miệng, ý như vậy, trong trường hợp này ông có thấy vị ấy nhân đó mà sanh khởi lậu bất thiện dẫn đến đời sau chăng?”
Hòa-phá trả lời rằng:
“Thưa Cù-đàm, giả sử có vị Tỳ-kheo thủ hộ thân, miệng, ý như vậy, trong trường hợp này tôi không thấy vị ấy do đó mà sanh khởi lậu bất thiện dẫn đến đời sau”.
Đức Thế Tôn khen rằng:
“Lành thay, Hòa-phá! Thế nào, này Hòa-phá, Tỳ-kheo nào mà vô minh đã dứt hết, minh đã sanh khởi; vị ấy, vô minh đã dứt hết, minh đã sanh khởi, khi cảm giác về thân tối hậu sanh khởi thì biết là cảm giác về thân tối hậu sanh khởi; khi cảm giác về mạng tối hậu sanh khởi thì biết là cảm giác về mạng tối hậu sanh khởi. Khi thân hoại mạng chung, tuổi thọ đã kết thúc, ngay trong đời này, tất cả mọi cảm giác đã ngưng bặt, tự thân mình biết sẽ đi đến chỗ lãnh đạm hoàn toàn.
“Này Hòa-phá, cũng như nhân cây mà có bóng. Giả sử có người mang búa thật bén đến chặt đứt rễ cây, chặt nát ra thành nhiều khúc, phá làm mười phần, hoặc trăm phần, đốt cháy thành tro, rồi hoặc để gió thổi bay đi, hoặc mang bỏ vào trong nước. Ý Hòa-phá nghĩ sao? Bóng nhân cây mà có; bóng ấy do đó mà mất hẳn cái nhân của nó, nên tuyệt diệt không còn sanh nữa chăng?”
Hòa-phá trả lời rằng:
“Đúng như thế, thưa Cù-đàm”.
“Này Hòa-phá, nên biết vị Tỳ-kheo kia lại cũng như vậy. Vô minh đã dứt hết, minh đã sanh khởi. Vị kia, vô minh đã dứt hết, minh đã sanh khởi, khi cảm giác về thân tối hậu sanh khởi thì vi ấy biết là cảm giác về thân tối hậu sanh khởi; khi cảm giác về mạng tối hậu sanh khởi thì vị ấy biết là cảm giác về mạng tối hậu sanh khởi. Khi thân hoại mạng chung, tuổi thọ đã kết thúc, ngay trong đời này, tất cả mọi cảm giác đã ngưng bặt, tự thân mình biết sẽ đi đến chỗ lãnh đạm hoàn toàn. Này Hòa-phá, vị Tỳ-kheo với tâm giải thoát chơn chánh như vậy, liền được sáu hằng trụ. Sáu trụ xứ đó là gì? Này Hòa-phá, Tỳ-kheo mắt thấy sắc mà không hỷ, không ưu, an trú xả, chánh niệm, chánh trí. Này Hòa-phá, vị Tỳ-kheo chánh tâm giải thoát như vậy, đó gọi là được hằng trú thứ nhất. Cũng vậy, tai, mũi, lưỡi, thân, ý biết pháp mà không hỷ không ưu, xả cầu, vô vi, chánh niệm, chánh trí. Này Hòa-phá, vị Tỳ-kheo chánh tâm giải thoát như vậy, đó gọi là được hằng trụ thứ sáu.
Hòa-phá bạch rằng:
“Đúng như vậy, thưa Sa-môn Cù-đàm!”
“Đa văn Thánh đệ tử chánh tâm giải thoát như vậy, được sáu hằng trụ. Sáu hằng trụ là những gì?”
“Thưa Cù-đàm, Đa văn Thánh đệ tử khi mắt thấy sắc, không hỷ, không ưu, an trú xả, chánh niệm, chánh trí”.
“Này Hòa-phá, Tỳ-kheo với tâm giải thoát chơn chánh như vậy, được nói là đạt được hằng trụ thứ nhất. Cũng vậy, tai, mũi, lưỡi, thân, ý biết pháp mà không hỷ, không ưu, an trú xả, chánh niệm, chánh trí. Này Hòa-phá, Tỳ-kheo với tâm giải thoát chơn chánh như vậy được nói là đạt được hằng trụ thứ sáu. Này Hòa-phá, Tỳ-kheo với tâm giải thoát chơn chánh như vậy, được sáu hằng trú này”.
Hòa-phá bạch rằng:
“Đúng như thế, thưa Cù-đàm, Đa văn Thánh đệ tử với tâm giải thoát chơn chánh như vậy, được sáu hằng trú. Thưa Cù-đàm, Đa văn Thánh đệ tử khi mắt thấy sắc, không hỷ, không ưu, an trú xả, chánh niệm, chánh trí. Thưa Cù-đàm, Đa văn Thánh đệ tử với tâm giải thoát chơn chánh như vậy, được nói là đạt được hằng trụ thứ nhất. Cũng vậy, tai, mũi, lưỡi, thân, ý biết pháp mà không hỷ, không ưu, an trú xả, chánh niệm, chánh trí. Thưa Cù-đàm, Đa văn Thánh đệ tử với tâm giải thoát chơn chánh như vậy được nói là đạt được hằng trụ thứ sáu. Như vậy, Thưa Cù-đàm, Đa văn Thánh đệ tử với tâm giải thoát chơn chánh như vậy, được sáu hằng trụ này”.
Rồi thì, Hòa-phá bạch Thế Tôn rằng:
“Bạch đức Cù-đàm, con đã biết. Bạch Đức Thiện Thệ, con đã hiểu. Bạch Đức Cù-đàm, cũng như người có mắt sáng, cái gì bị úp thì lật lên; cái gì bị che đậy thì giở ra; đối với người mê thì chỉ đường cho; trong tối tăm thì cho ánh sáng để ai có mắt thì thấy ánh sáng màu sắc. Sa-môn Cù-đàm cũng giống như vậy, vì con mà dùng vô lượng phương tiện thuyết pháp và hiển hiện nghĩa lý, theo đạo thậm thâm.
“Bạch Thế Tôn, hôm nay con xin tự quy y với Phật, Pháp và Chúng Tỳ-kheo, cúi nguyện Thế Tôn nhận cho con làm Ưu-bà-tắc; kể từ hôm nay trọn đời xin tự quy y, cho đến mạng chung.
“Bạch Thế Tôn, cũng như người nuôi con ngựa dở mà mong có lợi ích. Bạch Thế Tôn, con cũng như vậy. Con vì không hiểu rõ tường tận, không thể giải biết, không biết được ruộng tốt, không suy xét mà cung kính, lễ bái, phụng sự Ni-kiền Tử ngu si kia trong một thời gian dài, mong được lợi ích, nhưng chỉ luống nhọc khổ, vô ích. Bạch Thế Tôn, con nay lần nữa xin tự quy y Phật, Pháp và Chúng Tỳ-kheo, cúi nguyện Thế Tôn nhận cho con làm Ưu-bà-tắc; kể từ hôm nay, trọn đời xin tự quy y, cho đến mạng chung.
“Bạch Thế Tôn, con trước đây do không biết nên đối với Ni-kiền ngu si kia mà có tín, có kính, từ nay dứt hẳn. Vì sao thế? Vì phỉnh gạt con vậy. Bạch Thế Tôn, nay lần thứ ba xin tự quy y với Phật, Pháp và Chúng Tỳ-kheo, cúi nguyện Thế Tôn nhận lời cho con làm Ưu-bà-tắc; hôm nay, trọn đời xin tự quy y, cho đến khi mạng chung”.
Phật thuyết như vậy. Thích Hòa-phá và các Tỳ-kheo sau khi nghe Phật thuyết, hoan hỷ phụng hành.
SC 1Thus I have heard: One time, the Buddha was travelling among the Śākya people of Kapilavastu and stayed at the banyan tree park.
SC 2It was then that Venerable Mahāmaudgalyāyana and a group of monks had assembled in the discussion hall after the midday meal to do some task. At the time, a Jain disciple from the Śākya tribe named Vāṣpa went for a walk in the afternoon. When he happened upon Venerable Mahāmaudgalyāyana, they exchanged greetings, and he withdrew to sit at one side.
SC 3Thereupon, Venerable Mahāmaudgalyāyana questioned that Jain about this topic: “Vāṣpa, what do you think? If a monk guards his body, speech, and mind, do you think that could cause him to produce contaminants that aren’t good, that lead to an afterlife?”
SC 4Vāṣpa replied, “Mahāmaudgalyāyana, if a monk guards his body, speech, and mind, I do think that could cause him to produce contaminants that aren’t good, that lead to an afterlife. Mahāmaudgalyāyana, if he had committed acts that aren’t good in a previous life, that would cause him to produce contaminants that aren’t good, that lead to an afterlife.”
SC 5At that time, the Bhagavān was sitting in a quiet place. Using his heavenly ear that goes beyond that of humans, he heard Venerable Mahāmaudgalyāyana and that Jain disciple of the Śākya tribe named Vāṣpa having this conversation. Having overheard them, the Bhagavān rose from his seat of repose that afternoon and went to the discussion hall. He prepared a seat in front of the assembled monks and sat down. Once he was seated, the Bhagavān asked, “Maudgalyāyana, what were you discussing with this Jain disciple of the Śākya tribe named Vāṣpa? And what was the reason for your meeting here in the discussion hall?”
SC 6Venerable Mahāmaudgalyāyana said, “Bhagavān, I and this group of monks assembled here in the discussion hall today after the midday meal to do something. This Jain disciple Vāṣpa was out walking this afternoon and came upon us. We exchanged greetings, and he withdrew to sit at one side. I questioned him about this: ‘Vāṣpa, what do you think? If a monk guards his body, speech, and mind, do you think that could cause him to produce contaminants that aren’t good, that lead to an afterlife?’
SC 7“Vāṣpa answered me: ‘If a monk guards his body, speech, and mind, I do think that could cause him to produce contaminants that aren’t good, that lead to an afterlife. Mahāmaudgalyāyana, if he committed acts that aren’t good in a previous life, that would cause him to produce contaminants that aren’t good, that lead to an afterlife.’ Bhagavān, this was the conversation between myself and Vāṣpa. This was the reason we assembled here in the discussion hall.”
SC 8The Bhagavān then said to Vāṣpa, “If what I say is correct, you should say, ‘So it is.’ If it isn’t correct, then you should say, ‘That’s not so.’ If you have doubts about it, then you can ask me, ‘Ascetic Gautama, what’s the reason for this? What’s the meaning of that?’ If you can accept what I say, then you and I can have a discussion about this topic.”
Vāṣpa replied, “Ascetic Gautama, if what you say is correct, I will say, ‘So it is.’ If it’s not correct, then I will say, ‘That’s not so.’ If I have doubts, I will ask Gautama, ‘Gautama, what’s the reason for this? What’s the meaning of that?’ I will then accept and retain what ascetic Gautama says about it. The ascetic Gautama will discuss this topic only with me.”
SC 9The Bhagavān then asked, “Vāṣpa, what do you think? Suppose a monk creates unskillful physical actions that were contaminants, afflictions, fevers, and griefs. Some time after that, he ceases that unskillful physical action and doesn’t do any new deeds. Abandoning his former deeds, he then reaches the final end in the present life and has no affliction or fever. He always lives unchanging, which is to say what is seen and known by a noble sage.
SC 10“As his body action was unskillful, his speech was unskillfully, and his mental action was unskillful. His ignorant actions were contaminants, afflictions, fevers, and griefs. Some time after that, he ceases his unskillful and ignorant actions and doesn’t do any new deeds. Abandoning his former deeds, he then reaches the final end in the present life and has no affliction or fever. He always lives unchanging, which is to say what is seen and known by a noble sage.
SC 11“How is it, Vāṣpa? Do you think that a monk guarding his body, speech, and mind in this way could produce contaminants that aren’t good, that lead to an afterlife?”
Vāṣpa answered, “Gautama, if a monk guards his body, speech, and mind in this way, I don’t think that could cause him to produce contaminants that aren’t good, that lead to an afterlife.”
SC 12The Bhagavān commended him, “Good,Vāṣpa! How is it, Vāṣpa? Suppose a monk has ended ignorance and produced insight. Having ended ignorance and produced insight, the feelings of his last body arise, and then he knows, ‘The feelings of this last body are arising.’ The feelings of his last life arise, and then he knows, ‘The feelings of this last life are arising.’ His body breaks up and his life ends. Having reached the end of his life span, all the feelings from his present life completely subside. It should be known that he has reached the final cooling.
SC 13“Vāṣpa, it’s like a tree that causes a shadow to be cast. Suppose someone comes and chops that tree down at its root with a sharp axe. Peice by peice, they gradually chop it up, chopping it into ten or a hundred peices. Then, they burn it until it’s reduced to ash. It might be blown away in the wind or dumped in a river. What do you think, Vāṣpa? That shadow had existed because of the tree. Would it cease and not arise again as a result of its cause having ended?”
Vāṣpa replied, “Yes, Gautama.”
SC 14“Vāṣpa, you should know that a monk who has ended ignorance and produced insight is likewise. Having ended ignorance and produced insight, the feelings of his last body arise, and then he knows, ‘The feelings of this last body are arising.’ The feelings of his last life arise, and then he knows ‘the feelings of this last life are arising.’ His body breaks up and his life ends. Having reached the end of his life span, all the feelings from his present life completely subside. It should be known that he has reached the final cooling.
SC 15“Vāṣpa, a monk who is a correctly liberated in mind in this way gains six good abiding places. What are the six? Vāṣpa, seeing forms with his eye, a monk isn’t pleased or displeased. With correct mindfulness and correct understanding, he abandons pursuits and does nothing. Vāṣpa, this is called the first good abiding place gained by a monk who is correctly liberated in mind in this way. Thus … with his ear … nose … tongue … body … knowing notions with his mind, he isn’t pleased or displeased. With correct mindfulness and correct understanding, he abandons pursuits and does nothing. Vāṣpa, this is called the sixth good abiding place gained by a monk who is correctly liberated in mind in this way. Vāṣpa, these are the six good abiding places gained by a monk who is correctly liberated in mind in this way.
“Vāṣpa said, “Yes, Gautama. A well-versed noble disciple who is correctly liberated in mind in this way gains six good abiding places. What are the six? Gautama, seeing forms with his eye, a well-versed noble disciple isn’t pleased or displeased. With correct mindfulness and correct understanding, he abandons pursuits and does nothing. Gautama, this is called the first good abiding place gained by a well-versed noble disciple who is correctly liberated in mind in this way. Thus … with his ear … nose … tongue … body … knows notions with his mind, he isn’t pleased or displeased. With correct mindfulness and correct understanding, he abandons pursuits and does nothing. So it is, Gautama. This is called the sixth good abiding place gained by a well-versed noble disciple who is correctly liberated in mind in this way. So it is, Gautama. A well-versed noble disciple who is liberated in mind in this way gains these six good abiding places.”
SC 16Vāṣpa then said to the Bhagavān, “I’ve comprehended it, Gautama. I’ve understood, Sugata. Gautama is like a man with clear vision who turns up what has been overturned, reveals what has been hidden, points the way to the lost, and provides a light in the dark so that those with eyes can see a form. The ascetic Gautama is like this. He has explained the Dharma and made its meaning plain to me using measureless methods, which accords with the profound awakening. Bhagavān, I now devote myself to the Buddha, Dharma, and Saṅgha of monks. Please, Bhagavān, accept me as a lay disciple. Starting today, I will devote myself to them for the rest of my life.
SC 17“Bhagavān, I’ve been like a man who breeds poor quality horses hoping to make a profit, but he exhausts himself and doesn’t obtain any profit. Bhagavān, I’ve been like that. Those foolish Jains don’t comprehend well, cannot understand, aren’t familiar with the excellent field, and don’t investigate things for themselves. I’ve revered, supported, and paid homage to them hoping to gain some profit from it for a long time, but it has been pointless, painful, and profitless. For the second time, Bhagavān, I now devote myself to the Buddha, Dharma, and Saṅgha of monks. Please, Bhagavān, accept me as a lay disciple. Starting today, I will devote myself to them for the rest of my life.
SC 18“Bhagavān, I knew nothing before, believing and respecting those foolish Jains. That stops today. Why is that? Because they fooled me. For the third time, Bhagavān, I now devote myself to the Buddha, Dharma, and Saṅgha of monks. Please, Bhagavān, accept me as a lay disciple. Starting today, I will devote to myself to them for the rest of my life.”
SC 19This is what the Buddha said. Vāṣpa and the monks who heard what the Buddha taught rejoiced and approved.