Tôi nghe như vầy:
Một thời Đức Phật trú tại nước Xá-vệ, trong rừng Thắng Lâm Lâm, vườn Cấp Cô Độc.
Bấy giờ có một Phạm thiên ở cõi trời Phạm thiên, sanh khởi tà kiến như thế này: “Chỗ này là hằng hữu, chỗ này là thường hữu, chỗ này là trường tồn, chỗ này quan yếu, chỗ này pháp không hoại diệt, chỗ này là xuất yếu, ngoài xuất yếu này không còn xuất yếu nào khác nữa mà có đấng Tối Thắng Lâm, Tối diệu, Tối thượng”.
Bấy giờ Đức Thế Tôn bằng tha tâm trí, biết rõ tâm niệm của Phạm thiên đang nghĩ, liền như vậy mà nhập định. Với định như vậy, chỉ trong khoảnh khắc ví như người lực sĩ co duỗi cánh tay Ngài biến mất khỏi vườn Cấp Cô Độc, trong rừng Thắng Lâm Lâm tại nước Xá-vệ, đi lên cõi trời Phạm.
Lúc ấy, Phạm thiên trông thấy Đức Thế Tôn đi đến, liền chào hỏi:
“Kính chào Đại Tiên nhân, chỗ này là thường hữu, chỗ này là hằng hữu, chỗ này là trường tồn, chỗ này là quan yếu, chỗ này là pháp không hoại diệt, chỗ này là xuất yếu, và ngoài xuất yếu này không còn xuất yếu nào hơn nữa mà có bậc Tối Thắng Lâm, Tối diệu, Tối thượng”.
Bấy giờ Đức Thế Tôn bảo:
“Này Phạm thiên, cái không thường, ông bảo là thường; cái không hằng, ông bảo là hằng; cái không trường tồn, ông bảo là trường tồn; cái không quan yếu, ông bảo là quan yếu; cái hoại diệt, ông bảo là không hoại diệt; cái không xuất yếu, ông bảo là xuất yếu mà ngoài sự xuất yếu ấy, không còn xuất yếu nào khác nữa để có đấng Tối Thắng Lâm, Tối diệu, Tối thượng. Phạm thiên, ông có cái vô minh ấy! Phạm thiên, ông có cái vô minh ấy!”
Lúc đó, có Ma Ba-tuần ở trong chúng. Ma Ba-tuần nói với Đức Thế Tôn rằng:
“Này Tỳ-kheo, chớ nên trái điều Phạm thiên nói, chớ nên nghịch điều Phạm thiên nói. Tỳ-kheo, nếu ông trái điều Phạm thiên nói’ nghịch điều Phạm thiên nói thì, Tỳ-kheo, cũng như người gặp vận may mà lại xua đuổi đi. Lời Tỳ-kheo nói ra, lại cũng như vậy. Cho nên, Tỳ-kheo, tôi bảo ông rằng ông chớ trái điều Phạm thiên nói, chớ nên nghịch điều Phạm thiên nói. Này Tỳ-kheo, nếu ông trái lời Phạm thiên, chống đối thuyết của Phạm thiên thì, Tỳ-kheo, cũng như người từ núi cao rơi xuống, tuy dang tay chân quờ quạng hư không nhưng không bám víu được gì. Lời Tỳ-kheo nói ra lại cũng như vậy. Cho nên, Tỳ-kheo, tôi bảo ông rằng ông chớ trái điều Phạm thiên nói, chớ nên nghịch điều Phạm thiên nói. Này Tỳ-kheo, nếu ông trái điều Phạm thiên nói, nghịch điều Phạm thiên nói thì, Tỳ-kheo, cũng như người từ trên cây cao rơi xuống, tuy dang tay chân quờ quạng lá cành nhưng chẳng bám víu được gì. Lời Tỳ-kheo nói ra lại cũng như vậy. Cho nên, này Tỳ-kheo, tôi bảo ông rằng ông chớ nên trái điều Phạm thiên nói, chớ nên nghịch điều Phạm thiên nói. Vì sao? Vì Phạm thiên là đấng Phước hựu, là Hóa công, là đấng Tối tôn, là đấng Năng tác, là đấng Sáng tạo, là Tổ phụ của tất cả chúng sanh đã sanh và sẽ sanh. Tất cả đều do Ngài sanh ra. Những gì Ngài biết là trọn biết, những gì Ngài thấy là trọn thấy.
“Đại Tiên nhân, nếu có Sa-môn, Bà-la-môn nào ghét đất, chê bai đất, thì sau khi thân hoại mạng chung, chắc chắn sanh làm thần kỹ nhạc trong chốn hạ tiện nhất. Cũng thế, đối với nước, lửa, gió, quỷ thần, Chư Thiên, Sanh chủ, Phạm thiên, nếu ai ghét Phạm thiên, chê bai Phạm thiên, thì sau khi thân hoại mạng chung, chắc chắn sanh làm thần kỹ nhạc trong chốn hạ tiện nhất. Đại Tiên nhân, nếu có Sa-môn, Bà-la-môn nào ưa thích đất, ca ngợi đất thì sau khi thân hoại mạng chung, chắc chắn sanh làm bậc tối Thượng tôn trong cõi trời Phạm thiên. Cũng thế, đối với nước, lửa, gió, quỷ thần, Chư Thiên, Sanh chủ, Phạm thiên, nếu ai ưa thích Phạm thiên, tán thán Phạm thiên, thì sau khi thân hoại mạng chung, chắc chắn sanh làm bậc tối Thượng tôn trong cõi trời Phạm thiên. Đại Tiên nhân, ông há không thấy đại quyến thuộc của Phạm thiên ấy, chẳng hạn như bọn chúng tôi đang ngồi đây chăng?”
Ma Ba-tuần chẳng phải là Phạm thiên, chẳng phải quyến thuộc của Phạm thiên, nhưng lại xưng mình là Phạm thiên. Bấy giờ Đức Thế Tôn nghĩ rằng: “Ma Ba-tuần chẳng phải là Phạm thiên, cũng chẳng phải quyến thuộc của Phạm thiên, lại tự xưng là Phạm thiên. Nếu nói rằng có Ma Ba-tuần thì đây chính là Ma Ba-tuần”.
Biết rõ như vậy, Đức Thế Tôn bảo:
“Này Ma Ba-tuần, ngươi chẳng phải Phạm thiên, cũng chẳng phải quyến thuộc của Phạm thiên, nhưng ngươi tự xưng rằng ‘Ta là Phạm thiên’. Nếu nói rằng có Ma Ba-tuần, thì chính ngươi là Ma Ba-tuần”.
Lúc ấy, Ma Ba-tuần liền nghĩ: “Thế Tôn đã biết ta! Thiện Thệ đã biết ta!” Biết như thế nên rất đổi ưu sầu, vụt biến mất nơi ấy.
Bấy giờ, Phạm thiên ấy lại ba lần thưa thỉnh Đức Thế Tôn rằng:
“Kính chào Đại Tiên nhân, chỗ này là thường hữu, chỗ này là trường tồn, chỗ này là quan yếu, chỗ này là pháp không hoại diệt, chỗ này là xuất yếu, ngoài xuất yếu này không còn xuất yếu nào hơn nữa mà có đấng Tối Thắng Lâm, Tối diệu, Tối tôn?!
Đức Thế Tôn cũng ba lần bảo Phạm Thiên rằng:
“Này Phạm thiên, cái không thường, ông bảo là thường; cái không hằng, ông bảo là hằng; cái không trường tồn, ông bảo là trường tồn; cái không quan yếu, ông bảo là quan yếu; cái hoại diệt, ông bảo là không hoại diệt; cái không xuất yếu, ông bảo là xuất yếu mà ngoài sự xuất yếu ấy, không còn xuất yếu nào khác nữa để có đấng Tối Thắng Lâm, Tối diệu, Tối thượng. Phạm thiên, ông có cái vô minh ấy! Phạm thiên, ông có cái vô minh ấy!”
Rồi thì, Phạm thiên bạch Thế Tôn rằng:
“Đại Tiên nhân, thuở xưa có Sa-môn, Bà-la-môn thọ mạng rất lâu dài. Đại Tiên nhân, thọ mạng của ông ngắn quá, không bằng một khoảnh khắc ngồi yên của Sa-môn, Bà-la-môn kia. Vì sao? Vì những gì các vị ấy biết là trọn biết, những gì các vị ấy thấy là trọn thấy. Nếu thật có sự xuất yếu, ngoài sự xuất yếu ra không còn xuất yếu nào hơn nữa mà có bậc Tối Thắng Lâm, Tối diệu, Tối thượng thì các vị ấy biết ngay rằng có; và ngoài xuất yếu ấy ra, không còn sự xuất yếu nào hơn nữa mà có bậc Tối Thắng Lâm, Tối diệu, Tối thượng. Nếu thật không có sự xuất yếu, lại không có ngoài xuất yếu nào hơn nữa mà có bậc Tối Thắng Lâm, Tối diệu, Tối thượng thì các vị ấy biết ngay là không có. Đại Tiên nhân, đối với chỗ xuất yếu ông nghĩ là không xuất yếu. Trái lại, đối với chỗ không phải là xuất yếu, ông nghĩ là xuất yếu. Như vậy, ông không đạt được chỗ xuất yếu và trở thành kẻ đại si. Vì sao? Vì sẽ không bao giờ có cảnh giới ấy cho ông.
“Đại Tiên nhân, nếu có Sa-môn, Bà-la-môn nào ưa thích đất, ca ngợi đất, thì vị ấy tùy theo sự tự tại của ta, làm theo ý ta muốn, vâng theo mệnh lệnh ta sai. Cũng thế, đối với nước, lửa, gió, quỷ thần, Chư Thiên, Sanh chủ, Phạm thiên; nếu ai ưa thích Phạm thiên, ca ngợi Phạm thiên thì vị ấy tùy theo sự tự tại của ta, làm theo ý muốn của ta, vâng theo mệnh lệnh ta sai. Đại Tiên nhân, nếu ông ưa thích đất, ca ngợi đất, thì ông cũng tùy theo sự tự tại của ta, làm theo ý ta muốn, vâng theo mệnh lệnh ta sai. Cũng thế, với nước, lửa, gió, quỷ thần, Chư Thiên, Sanh chủ, Phạm thiên; nếu ông ưa thích Phạm thiên, ca ngợi Phạm thiên thì ông cũng tùy theo sự tự tại của ta, làm theo ý ta muốn, vâng theo mệnh lệnh ta sai”.
Bấy giờ Đức Thế Tôn nói rằng:
“Phạm thiên, điều Phạm thiên nói sự thật. Nếu có Sa-môn, Bà-la-môn nào ưa thích đất, ca ngợi đất, vị ấy tùy theo sự tự tại của ông, làm theo ý ông muốn, vâng theo mệnh lệnh ông sai. Cũng vậy, đối với nước, lửa, gió, quỷ thần, Chư Thiên, Sanh chủ, Phạm thiên; nếu ai ưa thích Phạm thiên, ca ngợi Phạm thiên thì vị ấy tùy theo sự tự tại của ông, làm theo ý ông muốn, vâng theo mệnh lệnh của ông sai. Và này Phạm thiên, nếu Ta ưa thích đất, ca ngợi đất thì Ta cũng tùy theo sự tự tại của ông, làm theo ý ông muốn và vâng theo mệnh lệnh của ông sai. Cũng thế, đối với nước, lửa, gió, quỷ thần, Chư Thiên, Sanh chủ, Phạm thiên; nếu Ta ưa thích Phạm thiên, ca ngợi Phạm thiên thì Ta cũng tùy theo sự tự tại của ông, làm theo ý ông muốn, vâng theo mệnh lệnh ông sai.
“Nhưng này Phạm thiên, nếu tám sự kiện này, Ta tùy theo mỗi sự mà ưa thích, mà ca ngợi, thì những điều ấy cũng vẫn như thế. Này Phạm thiên, Ta biết rõ ông từ đâu đến và sẽ đi đâu, tùy nơi ông đang sống, tùy chỗ ông mất, và tùy chốn ông tái sanh. Nếu có Phạm thiên thì Phạm thiên ấy có đại như ý túc, có đại oai đức, có đại phước hựu, có đại oai thần”.
Nghe vậy, Phạm thiên bạch Thế Tôn rằng:
“Đại Tiên nhân, làm thế nào ông biết được điều ta biết, thấy được điều ta thấy? Làm sao ông biết rõ ta như mặt trời, tự tại soi sáng khắp nơi, bao trùm cả một ngàn thế giới? Ông có tự tại không, trong một ngàn thế giới ấy? Ông có biết nơi này và nơi kia, nơi nào không có ngày đêm không? Này Đại Tiên nhân, ông có lần nào qua lại các nơi ấy chưa? Hay đã nhiều lần qua lại các nơi ấy rồi?”
Bấy giờ Đức Thế Tôn bảo:
“Này Phạm thiên, như mặt trời tự tại, soi sáng khắp nơi, bao trùm cả một ngàn thế giới. Trong ngàn thế giới ấy, Ta được tự tại và cũng biết này hay nơi kia, không có ngày đêm. Này Phạm thiên, Ta đã từng qua lại những nơi ấy và qua lại rất nhiều lần. Này Phạm thiên, có ba loại trời, đó là Quang thiên, Tịnh quang thiên và Biến tịnh quang thiên. Nếu những gì mà ba loại trời ấy có biết và có thấy, thì Ta cũng có biết và có thấy. Phạm thiên, những gì mà ba loại trời đó không có biết, không có thấy, thì riêng Ta vẫn có biết, có thấy. Này Phạm thiên, nếu những gì mà ba loại trời ấy và quyến thuộc của họ có biết và có thấy thì Ta cũng có biết và có thấy. Những gì mà ba loại trời ấy và quyến thuộc họ không biết, không thấy, thì riêng Ta vẫn có biết, có thấy. Này Phạm thiên, những gì mà ông có biết, có thấy, Ta cũng có biết, có thấy. Những gì mà ông không có biết, có thấy, thì riêng Ta vẫn có biết, có thấy. Này Phạm thiên, nếu những gì mà ông và những quyến thuộc của ông có biết, có thấy, thì Ta cũng có biết, có thấy. Những gì mà ông và quyến thuộc của ông không có biết, có thấy, thì riêng Ta vẫn có biết, có thấy. Này Phạm thiên, ông không thể ngang hàng Ta về tất cả, ông không thể ngang hàng Ta suốt hết. Nhưng đối với ông, Ta là Tối Thắng Lâm, Tối thượng.
Nghe vậy, Phạm thiên thưa Đức Thế Tôn rằng:
“Này Đại Tiên nhân, do đâu mà nếu những gì ba loại trời ấy có biết và có thấy, thì ông cũng có biết và có thấy; những gì mà ba loại trời đó không có biết, không có thấy, thì riêng ông vẫn có biết, có thấy? Nếu những gì mà ba loại trời ấy và quyến thuộc của họ có biết và có thấy thì ông cũng có biết và có thấy; những gì mà ba loại trời ấy và quyến thuộc họ không biết, không thấy, thì riêng ông vẫn có biết, có thấy? Nếu những gì mà ta có biết, có thấy, ông cũng có biết, có thấy; những gì mà ta không có biết, có thấy, thì riêng ông vẫn có biết, có thấy? Nếu những gì mà ta và những quyến thuộc của ta có biết, có thấy, thì ông cũng có biết, có thấy; những gì mà ta và quyến thuộc của ta không có biết, có thấy, thì riêng ông vẫn có biết, có thấy? Đại Tiên nhân, đó không phải là lời nói khoác chăng? Sau khi hỏi xong, không biết có tăng thêm sự ngu si chăng? Vì sao? Vì nếu biết vô lượng cảnh giới nên có vô lượng biết, vô lượng thấy, vô lượng chủng loại phân biệt. Trái lại, ta thì biết riêng rẽ từng cái. Là đất, ta biết đó là đất. Là nước, lửa, gió, quỷ thần, Chư Thiên, Sanh chủ, Phạm thiên, cũng giống như thế. Là Phạm thiên, ta biết đó là Phạm thiên”.
Bấy giờ Đức Thế Tôn bảo rằng:
“Này Phạm thiên, nếu có Sa-môn, Bà-la-môn nào đối với đất mà có tưởng về đất rằng: ‘Đất là ta, đất là sở hữu của ta, ta là sở hữu của đất’, thì khi chấp đất là ta tức không biết rõ đất. Cũng thế, đối với nước, lửa, gió, quỷ thần, Chư Thiên, Sanh chủ, Phạm thiên, Vô phiền thiên, Vô nhiệt và Tịnh; nếu nghĩ rằng: ‘Tịnh là ta, Tịnh là sở hữu của ta, ta là sở hữu của Tịnh’, khi chấp nhận Tịnh là ta rồi, vị ấy không thực biết về Tịnh. Phạm thiên, nếu có Sa-môn, Bà-la-môn nào đối với đất mà biết là đất, ‘Đất không phải là ta, đất không phải là sở hữu của ta, ta không phải là sở hữu của đất,’ do không chấp đất là ta nên vị ấy mới thực biết về đất. Cũng thế, đối với nước, lửa, gió, quỷ thần, Sanh chủ, Chư Thiên, Phạm thiên, Vô phiền, Vô nhiệt, Tịnh mà nghĩ rằng ‘Tịnh chẳng phải là ta, Tịnh chẳng phải là sở hữu của ta, ta chẳng phải là sở hữu của Tịnh,’ do không chấp Tịnh là ta nên vị ấy mới thật sự biết về Tịnh.
Nghe vậy, Phạm thiên thưa với Đức Thế Tôn rằng:
“Chúng sanh này, ai cũng ái trước hữu, ưa thích hữu, than cận hữu hữu. Chỉ có ông đã nhỗ tận gốc rễ hữu. Vì sao? Vì ông là Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác”.
Phạm thiên liền nói bài kệ:
Nơi hữu thấy sợ hãi;
Không hữu thấy sợ gì?
Cho nên đừng ưa hữu;
Hữu làm sao chẳng dứt?
“Này Đại Tiên nhân, tôi nay muốn ẩn hình”.
Đức Thế Tôn bảo:
“Này Phạm thiên, nếu ông muốn ẩn mình thì cứ tùy tiện”.
Phạm thiên liền ẩn hình ngay nơi đó. Đức Thế Tôn thấy rõ, liền nói:
“Phạm thiên, ông ở chỗ này. Ông đến chỗ kia. Ông lại ở giữa”.
Phạm thiên vận dụng hết như ý túc, muốn tự ẩn hình mà không thể tự ẩn, nên hiện hình trở lại giữa cõi trời Phạm thiên.
Bấy giờ Đức Thế Tôn mới bảo:
“Này Phạm thiên, Ta cũng muốn ẩn mình”.
Phạm thiên thưa rằng:
“Đại Tiên nhân, nếu muốn ẩn mình, xin cứ tùy tiện”.
Lúc ấy, Đức Phật nghĩ rằng: “Ta hãy như vậy mà hóa hiện như ý túc, phóng hào quang cực sáng, chiếu rọi cùng khắp cõi trời Phạm thiên, rồi ẩn hình trong đó, khiến cho Phạm thiên và quyến thuộc của Phạm thiên chỉ nghe tiếng mà không thấy hình Ta”.
Nghĩ xong, Đức Thế Tôn hiện như ý túc như vậy, phóng hào quang cực sáng, chiếu rọi khắp cõi trời Phạm thiên. Phạm thiên và quyến thuộc chỉ nghe tiếng mà không thấy hình Ngài. Bấy giờ Phạm thiên và quyến thuộc mới nghĩ rằng: “Sa-môn Cù-đàm thật là kỳ diệu, thật là hy hữu, có đại như ý túc, có đại oai đức, có đại phước hựu, có đại oai thần. Vì sao? Vì đã phóng hào quang chiếu sáng, chiếu rọi khắp cả trời Phạm thiên, rồi tự ẩn hình trong đó, khiến cho chúng ta chỉ được nghe tiếng mà không thấy hình”.
“Lúc ấy, Đức Thế Tôn lại nghĩ rằng: “Ta đã giáo hóa Phạm thiên này và quyến thuộc của Phạm thiên. Nay Ta hãy thu hồi như ý túc”.
“Đức Thế Tôn liền thu hồi như ý túc, hiện ra giữa cõi trời Phạm thiên. Khi ấy Ma vương cũng liền xuất hiện trong chúng Phạm thiên. Bấy giờ Ma vương liền bạch Thế Tôn rằng:
“Đại Tiên nhân, ông thật khéo thấy, khéo biết, khéo thông suốt, nhưng ông chớ nên giáo huấn, chớ nên dìu dắt đệ tử, chớ nói pháp cho đệ tử nghe, chớ luyến ái đệ tử. Chớ vì luyến ái đệ tử mà khi thân hoại mạng chung sẽ sanh vào nơi thấp kém, sanh trong loại thần kỹ nhạc. Hãy sống vô vi mà hưởng thụ an ổn khoái lạc trong đời hiện tại. Vì sao? Đại Tiên nhân, vì đó là tự gây phiền nhiệt vô ích. Đại Tiên nhân, xưa có Sa-môn, Bà-la-môn giáo huấn đệ tử, dìu dắt đệ tử, nói pháp cho đệ tử nghe, luyến ái đệ tử. Vì luyến ái đệ tử nên khi thân hoại mạng chung, vị ấy đã sanh vào những nơi thấp kém, sanh làm thần kỹ nhạc. Đại Tiên nhân, vì thế tôi bảo ông chớ nên giáo huấn đệ tử và dìu dắt đệ tử, cũng đừng nói pháp cho đệ tử nghe, chớ luyến ái đệ tử. Vì luyến ái đệ tử, sau khi thân hoại mạng chung sẽ sanh vào nơi thấp kém, làm thần kỹ nhạc. Hãy sống vô vi mà hưởng thụ khoái lạc trong đời hiện tại. Vì sao? Vì đó là tự gây phiền nhọc vô ích mà thôi”.
Khi ấy, Phật bảo rằng:
“Ma Ba-tuần, ngươi chẳng phải vì mong cầu nghĩa lợi cho Ta, chẳng phải vì mong cầu sự hữu ích, chẳng phải vì mưu cầu an lạc, cũng chẳng phải mưu cầu sự an ổn cho Ta mà nói với Ta rằng: ‘Đừng giáo huấn, dìu dắt đệ tử, đừng nói pháp cho đệ tử nghe, đừng luyến ái đệ tử. Vì sao? Vì luyến ái đệ tử thì sau khi thân hoại mạng chung, sẽ sanh vào nơi thấp kém, sanh làm thần kỹ nhạc. Hãy sống mà hưởng thụ khoái lạc ngay trong đời hiện tại. Vì sao vậy? Đại Tiên nhân, vì đó là sự gây phiền nhọc vô ích mà thôi’. Ma Ba-tuần, Ta biết ngươi đang nghĩ rằng ‘Sa-môn Cù-đàm này nói pháp cho đệ tử nghe, sau khi nghe xong, các đệ tử ấy sẽ ra khỏi cảnh giới của ta’. Này Ma Ba-tuần, vì thế cho nên ngươi nói với Ta rằng: ‘Đừng giáo huấn, dìu dắt đệ tử, đừng nói pháp cho đệ tử nghe, cũng đừng luyến ái đệ tử, thì sau khi thân hoại mạng chung sẽ sanh vào cảnh giới thấp kém, sanh làm thần kỹ nhạc. Hãy sống vô vi mà hưởng thụ khoái lạc an ổn ngay trong đời hiện tại. Vì sao vậy? —Này Đại Tiên nhân, vì đó là sự gây phiền nhiệt vô ích mà thôi’.
“Ma Ba-tuần, nếu quả có Sa-môn, Bà-la-môn nào đã giáo huấn đệ tử, dìu dắt đệ tử, nói pháp cho đệ tử nghe và luyến ái đệ tử; vì luyến ái đệ tử nên thân hoại mạng chung đã sanh vào nơi thấp kém, làm thần kỹ nhạc thì Sa-môn, Bà-la-môn ấy chẳng phải là Sa-môn mà tự xưng là Sa-môn, chẳng phải là Bà-la-môn mà tự xưng là Bà-la-môn, chẳng phải A-la-hán mà tự xưng là A-la-hán, chẳng phải Đẳng chánh giác mà tự xưng Đẳng chánh giác.
“Này Ma Ba-tuần, Ta là Sa-môn thực nên mới xưng là Sa-môn, thực là Bà-la-môn nên mới xưng là Bà-la-môn, thực là A-la-hán nên mới xưng là A-la-hán, thực là Đẳng chánh giác nên mới xưng là Đẳng chánh giác. Này Ma Ba-tuần, nếu Ta có nói pháp hay không nói pháp cho đệ tử nghe thì ngươi cũng nên đi đi. Nay Ta tự biết nên nói pháp cho đệ tử nghe hay không nên nói pháp cho đệ tử nghe.
“Đó là sự thỉnh cầu Phạm thiên, sự chống đối của Ma Ba-tuần, sự tùy thuận thuyết pháp của Đức Thế Tôn, cho nên kinh này gọi là “Phạm thiên thỉnh Phật”.
Phật thuyết như vậy. Phạm thiên và quyến thuộc của Phạm thiên sau khi nghe Phật thuyết, hoan hỷ phụng hành.
中阿含經卷第十九
T 0547a07T 0547a08東晉罽賓三藏瞿曇僧伽提婆譯
T 0547a09T 0547a11我聞如是:
一時,佛遊舍衛國,在勝林給孤T 0547a12獨園。
爾時,有一梵天住梵天上,生如是邪T 0547a13見:「此處有常,此處有恒,此處長存,此處是要,T 0547a14此處不終法,此處出要,此出要更無出要過T 0547a15其上,有勝、有妙、有最者。」
於是,世尊以他心T 0547a16智,知彼梵天心之所念,即入如其像定,T 0547a17以如其像定,猶若力士屈申臂頃,於舍T 0547a18衛國勝林給孤獨園忽沒不現,往梵天上。
T 0547a19時,彼梵天見世尊來,即請世尊:「善來大仙T 0547a20人!此處有常,此處有恒,此處長存,此處是T 0547a21要,此處不終法,此處出要,此出要更無出要T 0547a22過其上,有勝、有妙、有最者。」
於是,世尊告曰:T 0547a23「梵天!汝無常稱說常,不恒稱說恒,不存稱T 0547a24說存,不要稱說要,終法稱說不終法,非出T 0547a25要稱說出要,此出要更無出要過其上,有勝、T 0547a26有妙、有最者。梵天!汝有是無明。梵天!汝T 0547a27有是無明。」
時,魔波旬在彼眾中。於是,魔波T 0547a28旬語世尊曰:「比丘!莫違此梵天所說,莫T 0547a29逆此梵天所說。比丘!若汝違此梵天所說,T 0547b01逆此梵天所說者,是為比丘猶如有人吉T 0547b02祥事來,而排却之。比丘所說亦復如是,是故,T 0547b03比丘!我語汝莫違此梵天所說,莫逆此梵T 0547b04天所說。比丘!若汝違此梵天所說,逆此梵T 0547b05天所說者,是為,比丘!猶如有人從山上墮,T 0547b06雖以手足捫摸於空而無所得。比丘所T 0547b07說亦復如是,是故,比丘!我語汝莫違此梵T 0547b08天所說,莫逆此梵天所說。比丘!若汝違此T 0547b09梵天所說,逆此梵天所說者,是為,比丘!猶T 0547b10如有人從樹上墮,雖以手足捫摸枝葉T 0547b11而無所得。比丘所說亦復如是,是故,比丘!T 0547b12我語汝莫違此梵天所說,莫逆此梵天所T 0547b13說。所以者何?此梵天梵,福祐、能化、最尊、能作、T 0547b14能造、是父,已有、當有一切眾生皆從是生,此T 0547b15所知盡知、所見盡見。
「大仙人!若有沙門、梵志,T 0547b16憎惡地、毀呰地者,彼身壞命終,必生餘T 0547b17下賤妓樂神中,如是水、火、風、神、天、生主,憎惡T 0547b18梵天、毀呰梵天者,彼身壞命終,必生餘下T 0547b19賤妓樂神中。大仙人!若有沙門、梵志,愛樂T 0547b20地、稱歎地者,彼身壞命終,必生最上尊T 0547b21梵天中,如是水、火、風、神、天、生主,愛樂梵天、T 0547b22稱歎梵天者,彼身壞命終,必生最上尊梵天T 0547b23中。大仙人!汝不見此梵天大眷屬坐如我T 0547b24輩耶?」
彼魔波旬非是梵天,亦非梵天眷屬,T 0547b25然自稱說我是梵天。爾時,世尊便作是念:「此T 0547b26魔波旬非是梵天,亦非梵天眷屬,然自稱T 0547b27說我是梵天;若說有魔波旬者,此即是魔T 0547b28波旬。」
世尊知已,告曰:「魔波旬!汝非梵天,亦T 0547b29非梵天眷屬,然汝自稱說我是梵天;若說T 0547c01有魔波旬者,汝即是魔波旬。」於是,魔波旬而T 0547c02作是念:「世尊知我,善逝見我。」知已愁憂,即T 0547c03於彼處忽沒不現。
時,彼梵天至再三請世T 0547c04尊:「善來大仙人!此處有常,此處恒有,此處長T 0547c05存,此處是要,此處不終法,此處出要,此出要T 0547c06更無出要過其上,有勝、有妙、有最者。」
世尊亦T 0547c07至再三告曰:「梵天!汝無常稱說常,不恒稱說T 0547c08恒,不存稱說存,不要稱說要,終法稱說不T 0547c09終法,非出要稱說出要,此出要更無出要過T 0547c10其上,有勝、有妙、有最者。梵天!汝有是無明。梵T 0547c11天!汝有是無明。」
於是,梵天白世尊曰:「大仙T 0547c12人!昔有沙門、梵志,壽命極長,存住極久。大仙T 0547c13人!汝壽至短,不如彼沙門、梵志一燕坐頃。所T 0547c14以者何?彼所知盡知、所見盡見,若實有出要T 0547c15者,更無餘出要過其上,有勝、有妙、有最者;T 0547c16若無有實出要者,更無餘出要過其上,有T 0547c17勝、有妙、有最者。大仙人!汝於出要不出要想,T 0547c18不出要出要想,如是汝不得出要,便成大T 0547c19癡。所以者何?以無境界故。大仙人!若有沙T 0547c20門、梵志,愛樂地、稱歎地者,彼為我自在,T 0547c21為隨我所欲,為隨我所使。如是水、火、風、神、T 0547c22天、生主,愛樂梵天、稱歎梵天者,彼為我自T 0547c23在,為隨我所欲,為隨我所使。大仙人!若汝T 0547c24愛樂地、稱歎地者,汝亦為我自在,為隨T 0547c25我所欲,為隨我所使。如是水、火、風、神、天、生T 0547c26主,愛樂梵天、稱歎梵天者,汝亦為我自在,T 0547c27為隨我所欲,為隨我所使。」
於是,世尊告曰:T 0547c28「梵天!如是梵天所說真諦:『若有沙門、梵志,愛T 0547c29樂地、稱歎地者,彼為汝自在,為隨汝所T 0548a01欲,為隨汝所使。如是水、火、風、神、天、生主,愛T 0548a02樂梵天、稱歎梵天者,彼為汝自在,為隨汝T 0548a03所欲,為隨汝所使。』梵天!若我愛樂地、稱T 0548a04歎地者,我亦為汝自在,為隨汝所欲,為T 0548a05隨汝所使。如是水、火、風、神、天、生主,愛樂梵T 0548a06天、稱歎梵天者,我亦為汝自在,為隨汝T 0548a07所欲,為隨汝所使。
「梵天!若此八事,我隨其T 0548a08事愛樂稱歎者,彼亦有如是。梵天!我知汝T 0548a09所從來處、所往至處、隨所住、隨所終、隨T 0548a10所生。若有梵天有大如意足,有大威德,有T 0548a11大福祐,有大威神。」
於是,梵天白世尊曰:「大T 0548a12仙人!汝云何知我所知、見我所見。云何識T 0548a13悉我?如日自在,明照諸方,是為千世界,於T 0548a14千世界中,汝得自在耶?知彼彼處無有晝T 0548a15夜,大仙人曾更歷彼,數經歷彼耶?」
世尊告T 0548a16曰:「梵天!如日自在,明照諸方,是為千世界,T 0548a17於千世界中,我得自在,亦知彼彼處無有T 0548a18晝夜。梵天!我曾更歷彼,我數經歷彼。梵天!T 0548a19有三種天,光天、淨光天、遍淨光天。梵天!若彼T 0548a20三種天有知有見者,我亦有彼知見。梵天!T 0548a21若彼三種天無知無見者,我亦自有知見。T 0548a22梵天!若彼三種天及眷屬有知有見者,T 0548a23我亦有彼知見。梵天!若彼三種天及眷屬無T 0548a24知無見者,我亦自有知見。梵天!若汝有知T 0548a25有見者,我亦有此知見。梵天!若汝無知無T 0548a26見者,我亦自有知見。梵天!若汝及眷屬有T 0548a27知有見者,我亦有此知見。梵天!若汝及眷T 0548a28屬無知無見者,我亦自有知見。梵天!汝不T 0548a29與我一切等,不與我盡等,但我於汝最勝T 0548b01最上。」
於是,梵天白世尊曰:「大仙人!何由得T 0548b02彼三種天有知有見者,汝亦有彼知見;若T 0548b03彼三種天無知無見者,汝亦自有知見;若T 0548b04彼三種天及眷屬有知有見者,汝亦有彼知T 0548b05見,若彼三種天及眷屬無知無見者,汝亦自T 0548b06有知見。若我有知有見者,汝亦有此知見;T 0548b07若我無知無見者,汝亦自有知見;若我及眷T 0548b08屬有知有見者,汝亦有此知見;若我及眷T 0548b09屬無知無見者,汝亦自有知見。大仙人!非T 0548b10為愛言耶?問已不知增益愚癡。所以者何?T 0548b11以識無量境界故,無量知、無量見、無量種T 0548b12別,我各各知別,是地知地,水、火、風、神、天、生主,T 0548b13是梵天知梵天。」
於是,世尊告曰:「梵天!若有T 0548b14沙門、梵志於地有地想,地是我,地是我所,我T 0548b15是地所;彼計地是我已,便不知地。如是於T 0548b16水、火、風、神、天、生主、梵天、無煩、無熱,淨有淨想,T 0548b17淨是我,淨是我所,我是淨所;彼計淨是我已,T 0548b18便不知淨。梵天!若有沙門、梵志,地則知地,T 0548b19地非是我,地非我所,我非地所;彼不計地T 0548b20是我已,彼便知地。如是水、火、風、神、天、生主、T 0548b21梵天、無煩、無熱,淨則知淨,淨非是我,淨非T 0548b22我所,我非淨所;彼不計淨是我已,彼便知T 0548b23淨。梵天!我於地則知地,地非是我,地非我T 0548b24所,我非地所;我不計地是我已,我便知地。T 0548b25如是水、火、風、神、天、生主、梵天、無煩、無熱,淨則T 0548b26知淨,淨非是我,淨非我所,我非淨所;我不T 0548b27計淨是我已,我便知淨。」
於是,梵天白世尊T 0548b28曰:「大仙人!此眾生愛有、樂有、習有,汝已拔T 0548b29有根本。所以者何?謂如來、無所著、等正覺故。」T 0548c01便說頌曰:
T 0548c02
「於有見恐怖, 無有見不懼,T 0548c03
是故莫樂有, 有何不可斷。
T 0548c04「大仙人!我今欲自隱形。」
世尊告曰:「梵天!汝T 0548c05若欲自隱形者,便隨所欲。」
於是,梵天即隨T 0548c06所處自隱其形。世尊即知,「梵天!汝在彼,汝T 0548c07在此,汝在中。」
於是,梵天盡現如意,欲自T 0548c08隱形而不能隱,還住梵天中。於是,世尊告T 0548c09曰:「梵天!我今亦欲自隱其形。」
梵天白世尊T 0548c10曰:「大仙人!若欲自隱形者,便隨所欲。」
於是,T 0548c11世尊而作是念:「我今寧可現如其像如意T 0548c12足,放極妙光明,照一切梵天而自隱住,使T 0548c13諸梵天及梵天眷屬但聞我聲而不見形。」T 0548c14於是,世尊即現如其像如意足,放極妙光T 0548c15明,照一切梵天,便自隱住,使諸梵天及梵T 0548c16天眷屬但聞其聲而不見其形。於是,梵天T 0548c17及梵天眷屬各作是念:「沙門瞿曇甚奇!甚特!T 0548c18有大如意足,有大威德,有大福祐,有大威T 0548c19神。所以者何?謂放極妙光明,照一切梵天T 0548c20而自隱住,使我等及眷屬但聞彼聲而不T 0548c21見形。」
於是,世尊復作是念:「我已化此梵天T 0548c22及梵天眷屬,我今寧可攝如意足。」世尊便T 0548c23攝如意足,還住梵天中。
於是,魔王亦至再T 0548c24三在彼眾中。爾時,魔王白世尊曰:「大仙人T 0548c25善見、善知、善達,然莫訓誨教呵弟子,亦莫T 0548c26為弟子說法,莫著弟子;莫為著弟子故,T 0548c27身壞命終,生餘下賤妓樂神中。行無為,於T 0548c28現世受安樂。所以者何?大仙人!此唐自煩T 0548c29勞。大仙人!昔有沙門、梵志訓誨弟子,教呵T 0549a01弟子,亦為弟子說法,樂著弟子;彼以著弟T 0549a02子故,身壞命終,生餘下賤妓樂神中。大仙T 0549a03人!是故我語汝,莫得訓誨教呵弟子,亦T 0549a04莫為弟子說法,莫著弟子;莫為著弟子T 0549a05故,身壞命終,生餘下賤妓樂神中。行無為,T 0549a06於現世受安樂。所以者何?大仙人!汝唐自T 0549a07煩勞。」
於是,世尊告曰:「魔波旬!汝不為我求T 0549a08義故說,非為饒益故,非為樂故,非為安T 0549a09隱故:『莫得訓誨教呵弟子,莫為弟子說T 0549a10法,莫著弟子,莫為著弟子故,身壞命終,生T 0549a11餘下賤妓樂神中。行無為,於現世受安樂。T 0549a12所以者何?大仙人!汝唐自煩勞。』魔波旬!汝T 0549a13作是念:『此沙門瞿曇為弟子說法,彼弟子T 0549a14聞法已,出我境界。』魔波旬!是故汝今語我:T 0549a15『莫得訓誨教呵弟子,亦莫為弟子說法,T 0549a16莫著弟子;莫為著弟子故,身壞命終,生T 0549a17餘下賤妓樂神中。行無為,於現世受安樂。T 0549a18所以者何?大仙人!汝唐自煩勞。』
「魔波旬!若T 0549a19有沙門、梵志訓誨弟子,教呵弟子,為弟子T 0549a20說法,樂著弟子;為著弟子故,身壞命終,生T 0549a21餘下賤妓樂神中。彼沙門、梵志,彼非沙門T 0549a22稱說沙門,非梵志稱說梵志,非阿羅訶T 0549a23稱說阿羅訶,非等正覺稱說等正覺。魔波T 0549a24旬!我實沙門稱說沙門,實梵志稱說梵志,T 0549a25實阿羅訶稱說阿羅訶,實等正覺稱說等正T 0549a26覺。魔波旬!若我為弟子說法,若不說者,汝T 0549a27且自去,我今自知應為弟子說法、不應為T 0549a28弟子說法。」
是為梵天請,魔波旬違逆世尊隨T 0549a29順說,是故此經名梵天請佛。
佛說如是。梵T 0549b01天及梵天眷屬,聞佛所說,歡喜奉行。
T 0549b02
梵天請佛經第七竟(三千九十字)
T 0549b03 SC 1Thus I have heard: One time, the Buddha traveled to the country of Śrāvastī and stayed at Anāthapiṇḍada’s Park in Jeta’s Grove.
Brahmā’s Invitation
SC 2It was then that a Brahmā up in the Brahma Heaven had this wrong view occur to him: “This place has permanence; this place exists eternally; and this place endures a long time. This place is essential; this place is something that doesn’t end; and this place is the escape. This escape moreover has no escape that goes beyond it. It’s supreme, marvelous, and exceptional!”
SC 3The Bhagavān knew that thought in that Brahmā’s mind using his knowledge of other minds. He entered that form of samādhi and used it to suddenly disappear from Anāthapiṇḍada’s Park in Jeta’s Grove of Śrāvastī and reappear up in the Brahma Heaven in the time it takes a strong man to flex his arm.
SC 4When that Brahmā saw the Bhagavān approaching, he invited the Bhagavān, “Welcome, great sage! This place has permanence; this place exists eternally; and this place endures a long time. This place is essential; this place is something that doesn’t end; and this place is the escape. This escape moreover has no escape that goes beyond it. It’s supreme, marvelous, and exceptional!”
SC 5The Bhagavān then addressed him, “Brahmā, you are saying what’s impermanent is permanent, what’s not eternal is eternal, and what’s not enduring is enduring. You are saying what’s not essential is essential, something that ends is something that doesn’t end, and what’s not an escape is the escape that has no escape that goes beyond it. That it’s supreme, marvelous, and exceptional. Brahmā, you [say that] in ignorance. Brahmā, you [say that] in ignorance.”
Māra Intervenes
SC 6Just then, Māra Pāpīyān was there among the assembly, and he said to the Bhagavān, “Monk, don’t contradict what this Brahmā has said! Don’t oppose what this Brahmā has said! Monk, if you contradict what this Brahmā has said and oppose what this Brahmā has said, you would be a monk that’s like someone who comes upon some good fortune and rejects it. What this monk has said is likewise. Therefore, monk, I tell you, ‘Don’t contradict what this Brahmā has said! Don’t oppose what this Brahmā has said!’
SC 7“Monk, if you contradict what this Brahmā has said and oppose what this Brahmā has said, you would be a monk that’s like someone who falls from the top of a mountain. Although he gropes and grasps in the air with his hands and feet, he still finds no purchase. What this monk has said is likewise. Therefore, monk, I tell you, ‘Don’t contradict what this Brahmā has said! Don’t oppose what this Brahmā has said!’
SC 8“Monk, if you contradict what this Brahmā has said and oppose what this Brahmā has said, you would be a monk that’s like someone who falls from the top of a tree. Although he gropes and grasps in the air with his hands and feet, he still finds no purchase. What this monk has said is likewise. Therefore, monk, I tell you, ‘Don’t contradict what this Brahmā has said! Don’t oppose what this Brahmā has said!’
SC 9“What’s the reason for that? This Brahmā of the Brahma Heaven is the Fortunate, the Transformer, the Exalted, the Maker, the Creator, and the Father. All the sentient beings who have existed and will exist are born from him. This is known by those of complete knowledge and seen by those of complete vision.
SC 10“Great sage, if an ascetic or priest detests earth and criticizes earth, then he surely will be born among lowly entertainer spirits when his body breaks up and his life ends. *So it is with water, fire, air, spirits, gods, and the Lord Creator.* Detesting Brahmā and criticizing Brahmā, he surely will be born among some lowly entertainer spirits when his body breaks up and his life ends.
SC 11“Great sage, if an ascetic or priest loves earth and praises earth, then he surely will be born in the most exalted Brahma Heaven when his body breaks up and his life ends. *So it is with water, fire, air, spirits, gods, and the Lord Creator.* Loving Brahmā and praising Brahmā, he surely will be born in the most exalted Brahma Heaven when his body breaks up and his life ends. Great sage, don’t you see this Brahmā retinue seated here as my group?”
SC 12That Māra Pāpīyān was not a Brahmā, nor one of Brahmā’s retinue. Still, he made the claim, “I am a Brahmā.” It was then that the Bhagavān had this thought, “This Māra Pāpīyān is not a Brahmā, nor one of Brahmā’s retinue. Still, he makes the claim, ‘I am a Brahmā.’ Suppose I said, ‘There is Māra Pāpīyān! Right here is Māra Pāpīyān!’?”
SC 13Knowing that, the Bhagavān told him, “Māra Pāpīyān, you are not a Brahmā, nor one of Brahmā’s retinue. Still, you claim, ‘I am a Brahmā.’ Suppose I say, ‘There is Mara Pāpīyān! Right here is Māra Pāpīyān!’”
SC 14Māra Pāpīyān then thought, “The Bhagavān knows me! The Well Gone sees me!” Knowing that, he was distraught and suddenly disappeared from that place.
Brahmā Repeats His Invitation
SC 15That Brahmā then repeated his invitation to the Bhagavān three times, “Welcome, great sage! This place has permanence; this place exists eternally; and this place endures a long time. This place is essential; this place is something that doesn’t end; and this place is the escape. This escape moreover has no escape that goes beyond it. It’s supreme, marvelous, and exceptional!”
SC 16The Bhagavān also said three times, “Brahmā, you are saying what’s impermanent is permanent, what’s not eternal is eternal, and what’s not enduring is enduring. You are saying what’s not essential is essential, something that ends is something that doesn’t end, and what’s not an escape is the escape that has no escape that goes beyond it. That it’s supreme, marvelous, and exceptional. Brahmā, you [say that] in ignorance. Brahmā, you [say that] in ignorance.”
SC 17Brahmā then said to the Bhagavān, “Great sage, past ascetics and priests had very long life spans; they endured for a very long time. Great sage, your life has become short. It’s not like that of those ascetics and priests, not even the time they spent sitting in repose. What is the reason for that? Their knowledge was complete knowledge, and their vision was complete vision. If there really is an escape, then there’s no other escape beyond it. It’s supreme, marvelous, and exceptional. If there really isn’t an escape, there’s still no other escape beyond it. It’s supreme, marvelous, and exceptional.
SC 18“Great sage, you won’t find in this way the escape in an escape that isn’t perceived to be an escape or something that’s not an escape that’s perceived to be an escape, and then you’ll form a great delusion. What is the reason for that? You have no support.
SC 19“Great sage, if ascetics and priests love earth and praise earth, they’ll be subject to my authority, follow my wishes, and follow my servants. *So it is with water, fire, air, spirits, gods, and the Lord Creator.* Loving Brahmā and praising Brahmā, they are subject to my authority, follow my wishes, and follow my servants.
SC 20“Great sage, if you love earth and praise earth, then you also will be subject to my authority, follow my wishes, and follow my servants. *So it is with water, fire, air, spirits, gods, and the Lord Creator.* Loving Brahmā and praising Brahmā, you also will be subject to my authority, follow my wishes, and follow my servants.”
SC 21The Bhagavān then told him, “Brahmā, so it is. What the Brahmā has said is true. If ascetics and priests love earth and praise earth, they will be subject to your authority, follow your wishes, and follow your servants. *So it is with water, fire, air, spirits, gods, and the Lord Creator.* Loving Brahmā and praising Brahmā, they will be subject to your authority, follow your wishes, and follow your servants.
SC 22“Brahmā, if I loved earth and praised earth, I also would be subject to your authority, follow your wishes, and follow your servants. *So it would be with water, fire, air, spirits, gods, and the Lord Creator.* Loving Brahmā and praising Brahmā, I also would be subject to your authority, follow your wishes, and follow your servants. Brahmā, if I accordingly loved and praised these eight things, it would so for each of them.
SC 23“Brahmā, I know the place from whence you came, the place to which you’ll go, and accordingly your abodes, ends, and births. If there were a Brahmā who possessed great supernormal abilities, he would possess great majesty, great fortune, and great might.”
SC 24Brahmā then said to the Bhagavān, “Great sage, how do you know what I know or see what I see? How do you know me so completely? Just as the sun is free to illuminate the regions of these thousand worlds, have you obtained such freedom in these thousand worlds? Do you know whether such-and-such a place is in day or night? Has the great sage already been through those worlds and passed through them often?”
SC 25The Bhagavān told him, “Brahmā, just as the sun is free to illuminate the regions in these thousand worlds, I’ve attained freedom in these thousand worlds. I know whether such-and-such a place is in day or night, too. Brahmā, I’ve already been through those worlds, and I’ve often passed through them.
SC 26“Brahmā, there are three kinds of gods: Radiance gods, pure radiance gods, and completely pure radiance gods. Brahmā, whatever knowledge and vision those three kinds of gods possess, I also know and see that. Brahmā, whatever knowledge and vision those three kinds of gods lack, I also know and see myself. Brahmā, whatever knowledge and vision those three kinds of gods and their retinues possess, I also know and see that. Whatever knowledge and vision those three kinds of gods and their retinues lack, I also know and see myself.
SC 27“Brahmā, whatever knowledge and vision you possess, I also know and see that. Brahmā, whatever knowledge and vision you lack, I also know and see myself. Brahmā, whatever knowledge and vision you and your retinue possess, I also know and see that. Brahmā, whatever knowledge and vision you and your retinue lack, I also know and see myself. Brahmā, you and I are not in all ways equal. You and I are not entirety equal. Only I am superior to you and greater than you.”
SC 28Brahmā then said to the Bhagavān, “Great sage, how is it possible that whatever knowledge and vision those three types of gods possess, you also know and see that; whatever knowledge and vision those three types of gods lack, you also know and see yourself; whatever knowledge and vision those three types of gods and their retinues possess, you also know and see that; and whatever knowledge and vision those three types of gods and their retinues lack, you also know and see yourself?
SC 29“How is it whatever knowledge and vision I possess, you also know and see that; whatever knowledge and vision I lack, you also know and see yourself; whatever knowledge and vision I and my retinue possess, you also know and see that; and whatever knowledge and vision I and my retinue lack, you also know and see yourself?
SC 30“Great sage, do you not suffer from a love of words? Asking these questions, I’m not aware of any increase in delusion. What is the reason for that? Because consciousness has a limitless domain, its knowledge is measureless, its vision is measureless, and its types of discernment are measureless. I know each discernment thus: ‘This earth I know is earth … water … fire … air … spirits … gods … Lord Creator … this Brahmā I know is Brahmā.”
SC 31The Bhagavān then told him, “Brahmā, if ascetics and priests have the notions of earth in earth that ‘earth is self,’ ‘earth belongs to self,’ or ‘self belongs to earth,’ that person supposing earth is self doesn’t know earth. *So it is with water, fire, air, spirits, gods, the Lord Creator, Brahmā, Avṛha, and Atapa.* If they have notions of purity in purity that that ‘purity is self,’ ‘purity belongs to self,’ or ‘self belongs to purity,’ that person supposing that purity is self doesn’t know purity.
SC 32“Brahmā, if ascetics and priests know of earth that earth is not the self, earth doesn’t belong to self, and self doesn’t belong to earth, then that person not supposing that earth is self knows earth. *So it is with water, fire, air, spirits, gods, the Lord Creator, Brahmā, Avṛha, and Atapa.* Knowing of purity that purity is not self, purity doesn’t belong to self, and self doesn’t belong to purity, that person not supposing that purity is self knows purity.
SC 33“Brahmā, I know of earth that earth is not the self, earth doesn’t belong to self, and self doesn’t belong to earth. Not supposing that earth is self, I know earth. *So it is with water, fire, air, spirits, gods, the Lord Creator, Brahmā, Avṛha, and Atapa.* I know of purity that purity isn’t the self, purity doesn’t belong to self, and self doesn’t belong to purity. Not supposing that purity is self, I know purity.”
SC 34Brahmā then said to the Bhagavān, “Great sage, these sentient beings love existence, enjoy existence, and cultivate existence, but you’ve pulled out the root of existence. What’s the reason for that? You’re the Tathāgata, the Arhat, and the Completely Awakened One.” Then he said in verse:
{: .verse} “Looking on existence with dread,
I don’t fear the lack of existence;
Therefore, I don’t enjoy existence,
For how can existence not end?
SC 35“Now, great sage, I’d like to conceal my form.”
The Bhagavān told him, “Brahmā, if you want to conceal your form, then do as you like.”
SC 36Brahmā then concealed his form, and the Buddha knew according to where he stood: “Brahmā, you are there,” “you are here,” “you are in between.”
SC 37Brahmā then fully appeared as he wished, but he couldn’t conceal himself when he wanted to do so. He returned to standing in the Brahma Heaven. The Bhagavān then told him, “Now, Brahmā, I’d like to conceal my form.”
Brahmā said to the Bhagavān, “Great sage, if you want to conceal your form, then do as you like.”
SC 38The Bhagavān then thought, “Now, I’d rather manifest a manner of supernormal ability and emit an incredible radiance that illuminates all the Brahma Heavens to conceal where I stand. That will cause Brahmā and his retinue to hear my voice but not see my form.”
SC 39The Bhagavān then manifested a manner of supernormal ability that emits an incredible radiance. It illuminated all the Brahma Heavens and concealed where he stood. It made it so Brahmā and his retinue could hear his voice but not see his form.
SC 40Brahmā and his retinue each thought, “The ascetic Gautama is rare and extraordinary! He possesses great supernormal abilities, great majesty, great fortune, and great might. What is the reason for that? He’s emitting an incredible radiance that illuminates all the Brahma Heavens and conceals where he stands. We and our retinues can hear his voice but not see his form.”
SC 41The Bhagavān again thought, “I’ve converted this Brahmā and his retinue. Now, I’d rather collect my supernormal ability.” The Bhagavān then collected his supernormal ability, returning to stand in the Brahma Heaven.
Māra Intervenes Again
SC 42King Māra then was present in that assembly three times. It was then that King Māra said to the Bhagavān, “Great sage, you see well, know well, and comprehend well, but don’t advise or instruct disciples, and don’t teach Dharma for disciples. Don’t be attached to disciples. Don’t, for you’ll be born among the lowly entertainer spirits when your body breaks up and your life ends because you were attached to disciples. Practice doing nothing, and you’ll experience well-being in the present life. What is the reason for that? Great sage, these vanities are self-afflictions.
SC 43“Great sage, in the past, ascetics and priests who advised their disciples, instructed their disciples, and taught Dharma for their disciples became attached to their disciples. They were born among some lowly entertainer spirits when their bodies broke up and their lives ended because they were attached to their disciples. Therefore, great sage, I say to you, don’t advise and instruct disciples, don’t teach Dharma for disciples, and don’t become attached to disciples. You’ll be born among the lowly entertainer spirits when your body breaks up and your life ends because you’re attached to disciples. Practice doing nothing, and you’ll experience well-being in this life. What’s the reason for that? Great sage, these vanities are self-afflictions.”
SC 44The Bhagavān then told him, “Māra Pāpīyān, speaking not for my gain, not for my happiness, nor for my comfort but to ensure I won’t pursue my goal, [you say:] ‘Don’t advise and instruct disciples, don’t teach Dharma for disciples, and don’t become attached to disciples. You’ll be born among the lowly entertainer spirits when your body breaks up and your life ends because you’ll be attached to disciples. Practice doing nothing, and you’ll experience well-being in this life. What’s the reason for that? Great sage, these vanities are self-afflictions.’
SC 45“Māra Pāpīyān, you think: ‘This ascetic Gautama teaches Dharma for his disciples. Hearing the Dharma, those disciples will leave my domain.’ Māra Pāpīyān, you therefore now tell me, ‘Don’t advise and instruct disciples, don’t teach Dharma for disciples, and don’t become attached to disciples. You’ll be born among the lowly entertainer spirits when your body breaks up and your life ends because you’ll be attached to disciples. Practice doing nothing, and you’ll experience well-being in this life. What’s the reason for that? Great sage, these vanities are self-afflictions.’
SC 46“Māra Pāpīyān, if ascetics and priests advise disciples, instruct disciples, teach Dharma for disciples, and become attached to disciples, then they’ll be born among some lowly entertainer spirits when their bodies break up and their lives end because they are attached to their disciples. Those ascetics and priests are not ascetics or priests but claim to be ascetics or priests. They are not arhats or fully awakened ones but claim to be arhats or fully awakened ones.
SC 47“Māra Pāpīyān, I really am an ascetic who claims to an ascetic, and I really am a priest who claims to be a priest. I really am an arhat who claims to be an arhat, and I really am a fully awakened one who claims to be a fully awakened one. Māra Pāpīyān, whether or not I teach Dharma for disciples, you may take your leave. I know for myself whether or not I should teach Dharma for disciples.”
Conclusion
SC 48This was Brahmā’s invitation, Māra Pāpīyān’s opposition, and the Bhagavān’s subsequent teaching. This sūtra is therefore called “Brahmā’s Invitation to the Buddha.”
SC 49The Buddha spoke thus. The Brahmā and his retinue who heard what the Buddha taught rejoiced and approved.
Tôi nghe như vầy:
Một thời Đức Phật trú tại nước Xá-vệ, trong rừng Thắng Lâm Lâm, vườn Cấp Cô Độc.
Bấy giờ có một Phạm thiên ở cõi trời Phạm thiên, sanh khởi tà kiến như thế này: “Chỗ này là hằng hữu, chỗ này là thường hữu, chỗ này là trường tồn, chỗ này quan yếu, chỗ này pháp không hoại diệt, chỗ này là xuất yếu, ngoài xuất yếu này không còn xuất yếu nào khác nữa mà có đấng Tối Thắng Lâm, Tối diệu, Tối thượng”.
Bấy giờ Đức Thế Tôn bằng tha tâm trí, biết rõ tâm niệm của Phạm thiên đang nghĩ, liền như vậy mà nhập định. Với định như vậy, chỉ trong khoảnh khắc ví như người lực sĩ co duỗi cánh tay Ngài biến mất khỏi vườn Cấp Cô Độc, trong rừng Thắng Lâm Lâm tại nước Xá-vệ, đi lên cõi trời Phạm.
Lúc ấy, Phạm thiên trông thấy Đức Thế Tôn đi đến, liền chào hỏi:
“Kính chào Đại Tiên nhân, chỗ này là thường hữu, chỗ này là hằng hữu, chỗ này là trường tồn, chỗ này là quan yếu, chỗ này là pháp không hoại diệt, chỗ này là xuất yếu, và ngoài xuất yếu này không còn xuất yếu nào hơn nữa mà có bậc Tối Thắng Lâm, Tối diệu, Tối thượng”.
Bấy giờ Đức Thế Tôn bảo:
“Này Phạm thiên, cái không thường, ông bảo là thường; cái không hằng, ông bảo là hằng; cái không trường tồn, ông bảo là trường tồn; cái không quan yếu, ông bảo là quan yếu; cái hoại diệt, ông bảo là không hoại diệt; cái không xuất yếu, ông bảo là xuất yếu mà ngoài sự xuất yếu ấy, không còn xuất yếu nào khác nữa để có đấng Tối Thắng Lâm, Tối diệu, Tối thượng. Phạm thiên, ông có cái vô minh ấy! Phạm thiên, ông có cái vô minh ấy!”
Lúc đó, có Ma Ba-tuần ở trong chúng. Ma Ba-tuần nói với Đức Thế Tôn rằng:
“Này Tỳ-kheo, chớ nên trái điều Phạm thiên nói, chớ nên nghịch điều Phạm thiên nói. Tỳ-kheo, nếu ông trái điều Phạm thiên nói’ nghịch điều Phạm thiên nói thì, Tỳ-kheo, cũng như người gặp vận may mà lại xua đuổi đi. Lời Tỳ-kheo nói ra, lại cũng như vậy. Cho nên, Tỳ-kheo, tôi bảo ông rằng ông chớ trái điều Phạm thiên nói, chớ nên nghịch điều Phạm thiên nói. Này Tỳ-kheo, nếu ông trái lời Phạm thiên, chống đối thuyết của Phạm thiên thì, Tỳ-kheo, cũng như người từ núi cao rơi xuống, tuy dang tay chân quờ quạng hư không nhưng không bám víu được gì. Lời Tỳ-kheo nói ra lại cũng như vậy. Cho nên, Tỳ-kheo, tôi bảo ông rằng ông chớ trái điều Phạm thiên nói, chớ nên nghịch điều Phạm thiên nói. Này Tỳ-kheo, nếu ông trái điều Phạm thiên nói, nghịch điều Phạm thiên nói thì, Tỳ-kheo, cũng như người từ trên cây cao rơi xuống, tuy dang tay chân quờ quạng lá cành nhưng chẳng bám víu được gì. Lời Tỳ-kheo nói ra lại cũng như vậy. Cho nên, này Tỳ-kheo, tôi bảo ông rằng ông chớ nên trái điều Phạm thiên nói, chớ nên nghịch điều Phạm thiên nói. Vì sao? Vì Phạm thiên là đấng Phước hựu, là Hóa công, là đấng Tối tôn, là đấng Năng tác, là đấng Sáng tạo, là Tổ phụ của tất cả chúng sanh đã sanh và sẽ sanh. Tất cả đều do Ngài sanh ra. Những gì Ngài biết là trọn biết, những gì Ngài thấy là trọn thấy.
“Đại Tiên nhân, nếu có Sa-môn, Bà-la-môn nào ghét đất, chê bai đất, thì sau khi thân hoại mạng chung, chắc chắn sanh làm thần kỹ nhạc trong chốn hạ tiện nhất. Cũng thế, đối với nước, lửa, gió, quỷ thần, Chư Thiên, Sanh chủ, Phạm thiên, nếu ai ghét Phạm thiên, chê bai Phạm thiên, thì sau khi thân hoại mạng chung, chắc chắn sanh làm thần kỹ nhạc trong chốn hạ tiện nhất. Đại Tiên nhân, nếu có Sa-môn, Bà-la-môn nào ưa thích đất, ca ngợi đất thì sau khi thân hoại mạng chung, chắc chắn sanh làm bậc tối Thượng tôn trong cõi trời Phạm thiên. Cũng thế, đối với nước, lửa, gió, quỷ thần, Chư Thiên, Sanh chủ, Phạm thiên, nếu ai ưa thích Phạm thiên, tán thán Phạm thiên, thì sau khi thân hoại mạng chung, chắc chắn sanh làm bậc tối Thượng tôn trong cõi trời Phạm thiên. Đại Tiên nhân, ông há không thấy đại quyến thuộc của Phạm thiên ấy, chẳng hạn như bọn chúng tôi đang ngồi đây chăng?”
Ma Ba-tuần chẳng phải là Phạm thiên, chẳng phải quyến thuộc của Phạm thiên, nhưng lại xưng mình là Phạm thiên. Bấy giờ Đức Thế Tôn nghĩ rằng: “Ma Ba-tuần chẳng phải là Phạm thiên, cũng chẳng phải quyến thuộc của Phạm thiên, lại tự xưng là Phạm thiên. Nếu nói rằng có Ma Ba-tuần thì đây chính là Ma Ba-tuần”.
Biết rõ như vậy, Đức Thế Tôn bảo:
“Này Ma Ba-tuần, ngươi chẳng phải Phạm thiên, cũng chẳng phải quyến thuộc của Phạm thiên, nhưng ngươi tự xưng rằng ‘Ta là Phạm thiên’. Nếu nói rằng có Ma Ba-tuần, thì chính ngươi là Ma Ba-tuần”.
Lúc ấy, Ma Ba-tuần liền nghĩ: “Thế Tôn đã biết ta! Thiện Thệ đã biết ta!” Biết như thế nên rất đổi ưu sầu, vụt biến mất nơi ấy.
Bấy giờ, Phạm thiên ấy lại ba lần thưa thỉnh Đức Thế Tôn rằng:
“Kính chào Đại Tiên nhân, chỗ này là thường hữu, chỗ này là trường tồn, chỗ này là quan yếu, chỗ này là pháp không hoại diệt, chỗ này là xuất yếu, ngoài xuất yếu này không còn xuất yếu nào hơn nữa mà có đấng Tối Thắng Lâm, Tối diệu, Tối tôn?!
Đức Thế Tôn cũng ba lần bảo Phạm Thiên rằng:
“Này Phạm thiên, cái không thường, ông bảo là thường; cái không hằng, ông bảo là hằng; cái không trường tồn, ông bảo là trường tồn; cái không quan yếu, ông bảo là quan yếu; cái hoại diệt, ông bảo là không hoại diệt; cái không xuất yếu, ông bảo là xuất yếu mà ngoài sự xuất yếu ấy, không còn xuất yếu nào khác nữa để có đấng Tối Thắng Lâm, Tối diệu, Tối thượng. Phạm thiên, ông có cái vô minh ấy! Phạm thiên, ông có cái vô minh ấy!”
Rồi thì, Phạm thiên bạch Thế Tôn rằng:
“Đại Tiên nhân, thuở xưa có Sa-môn, Bà-la-môn thọ mạng rất lâu dài. Đại Tiên nhân, thọ mạng của ông ngắn quá, không bằng một khoảnh khắc ngồi yên của Sa-môn, Bà-la-môn kia. Vì sao? Vì những gì các vị ấy biết là trọn biết, những gì các vị ấy thấy là trọn thấy. Nếu thật có sự xuất yếu, ngoài sự xuất yếu ra không còn xuất yếu nào hơn nữa mà có bậc Tối Thắng Lâm, Tối diệu, Tối thượng thì các vị ấy biết ngay rằng có; và ngoài xuất yếu ấy ra, không còn sự xuất yếu nào hơn nữa mà có bậc Tối Thắng Lâm, Tối diệu, Tối thượng. Nếu thật không có sự xuất yếu, lại không có ngoài xuất yếu nào hơn nữa mà có bậc Tối Thắng Lâm, Tối diệu, Tối thượng thì các vị ấy biết ngay là không có. Đại Tiên nhân, đối với chỗ xuất yếu ông nghĩ là không xuất yếu. Trái lại, đối với chỗ không phải là xuất yếu, ông nghĩ là xuất yếu. Như vậy, ông không đạt được chỗ xuất yếu và trở thành kẻ đại si. Vì sao? Vì sẽ không bao giờ có cảnh giới ấy cho ông.
“Đại Tiên nhân, nếu có Sa-môn, Bà-la-môn nào ưa thích đất, ca ngợi đất, thì vị ấy tùy theo sự tự tại của ta, làm theo ý ta muốn, vâng theo mệnh lệnh ta sai. Cũng thế, đối với nước, lửa, gió, quỷ thần, Chư Thiên, Sanh chủ, Phạm thiên; nếu ai ưa thích Phạm thiên, ca ngợi Phạm thiên thì vị ấy tùy theo sự tự tại của ta, làm theo ý muốn của ta, vâng theo mệnh lệnh ta sai. Đại Tiên nhân, nếu ông ưa thích đất, ca ngợi đất, thì ông cũng tùy theo sự tự tại của ta, làm theo ý ta muốn, vâng theo mệnh lệnh ta sai. Cũng thế, với nước, lửa, gió, quỷ thần, Chư Thiên, Sanh chủ, Phạm thiên; nếu ông ưa thích Phạm thiên, ca ngợi Phạm thiên thì ông cũng tùy theo sự tự tại của ta, làm theo ý ta muốn, vâng theo mệnh lệnh ta sai”.
Bấy giờ Đức Thế Tôn nói rằng:
“Phạm thiên, điều Phạm thiên nói sự thật. Nếu có Sa-môn, Bà-la-môn nào ưa thích đất, ca ngợi đất, vị ấy tùy theo sự tự tại của ông, làm theo ý ông muốn, vâng theo mệnh lệnh ông sai. Cũng vậy, đối với nước, lửa, gió, quỷ thần, Chư Thiên, Sanh chủ, Phạm thiên; nếu ai ưa thích Phạm thiên, ca ngợi Phạm thiên thì vị ấy tùy theo sự tự tại của ông, làm theo ý ông muốn, vâng theo mệnh lệnh của ông sai. Và này Phạm thiên, nếu Ta ưa thích đất, ca ngợi đất thì Ta cũng tùy theo sự tự tại của ông, làm theo ý ông muốn và vâng theo mệnh lệnh của ông sai. Cũng thế, đối với nước, lửa, gió, quỷ thần, Chư Thiên, Sanh chủ, Phạm thiên; nếu Ta ưa thích Phạm thiên, ca ngợi Phạm thiên thì Ta cũng tùy theo sự tự tại của ông, làm theo ý ông muốn, vâng theo mệnh lệnh ông sai.
“Nhưng này Phạm thiên, nếu tám sự kiện này, Ta tùy theo mỗi sự mà ưa thích, mà ca ngợi, thì những điều ấy cũng vẫn như thế. Này Phạm thiên, Ta biết rõ ông từ đâu đến và sẽ đi đâu, tùy nơi ông đang sống, tùy chỗ ông mất, và tùy chốn ông tái sanh. Nếu có Phạm thiên thì Phạm thiên ấy có đại như ý túc, có đại oai đức, có đại phước hựu, có đại oai thần”.
Nghe vậy, Phạm thiên bạch Thế Tôn rằng:
“Đại Tiên nhân, làm thế nào ông biết được điều ta biết, thấy được điều ta thấy? Làm sao ông biết rõ ta như mặt trời, tự tại soi sáng khắp nơi, bao trùm cả một ngàn thế giới? Ông có tự tại không, trong một ngàn thế giới ấy? Ông có biết nơi này và nơi kia, nơi nào không có ngày đêm không? Này Đại Tiên nhân, ông có lần nào qua lại các nơi ấy chưa? Hay đã nhiều lần qua lại các nơi ấy rồi?”
Bấy giờ Đức Thế Tôn bảo:
“Này Phạm thiên, như mặt trời tự tại, soi sáng khắp nơi, bao trùm cả một ngàn thế giới. Trong ngàn thế giới ấy, Ta được tự tại và cũng biết này hay nơi kia, không có ngày đêm. Này Phạm thiên, Ta đã từng qua lại những nơi ấy và qua lại rất nhiều lần. Này Phạm thiên, có ba loại trời, đó là Quang thiên, Tịnh quang thiên và Biến tịnh quang thiên. Nếu những gì mà ba loại trời ấy có biết và có thấy, thì Ta cũng có biết và có thấy. Phạm thiên, những gì mà ba loại trời đó không có biết, không có thấy, thì riêng Ta vẫn có biết, có thấy. Này Phạm thiên, nếu những gì mà ba loại trời ấy và quyến thuộc của họ có biết và có thấy thì Ta cũng có biết và có thấy. Những gì mà ba loại trời ấy và quyến thuộc họ không biết, không thấy, thì riêng Ta vẫn có biết, có thấy. Này Phạm thiên, những gì mà ông có biết, có thấy, Ta cũng có biết, có thấy. Những gì mà ông không có biết, có thấy, thì riêng Ta vẫn có biết, có thấy. Này Phạm thiên, nếu những gì mà ông và những quyến thuộc của ông có biết, có thấy, thì Ta cũng có biết, có thấy. Những gì mà ông và quyến thuộc của ông không có biết, có thấy, thì riêng Ta vẫn có biết, có thấy. Này Phạm thiên, ông không thể ngang hàng Ta về tất cả, ông không thể ngang hàng Ta suốt hết. Nhưng đối với ông, Ta là Tối Thắng Lâm, Tối thượng.
Nghe vậy, Phạm thiên thưa Đức Thế Tôn rằng:
“Này Đại Tiên nhân, do đâu mà nếu những gì ba loại trời ấy có biết và có thấy, thì ông cũng có biết và có thấy; những gì mà ba loại trời đó không có biết, không có thấy, thì riêng ông vẫn có biết, có thấy? Nếu những gì mà ba loại trời ấy và quyến thuộc của họ có biết và có thấy thì ông cũng có biết và có thấy; những gì mà ba loại trời ấy và quyến thuộc họ không biết, không thấy, thì riêng ông vẫn có biết, có thấy? Nếu những gì mà ta có biết, có thấy, ông cũng có biết, có thấy; những gì mà ta không có biết, có thấy, thì riêng ông vẫn có biết, có thấy? Nếu những gì mà ta và những quyến thuộc của ta có biết, có thấy, thì ông cũng có biết, có thấy; những gì mà ta và quyến thuộc của ta không có biết, có thấy, thì riêng ông vẫn có biết, có thấy? Đại Tiên nhân, đó không phải là lời nói khoác chăng? Sau khi hỏi xong, không biết có tăng thêm sự ngu si chăng? Vì sao? Vì nếu biết vô lượng cảnh giới nên có vô lượng biết, vô lượng thấy, vô lượng chủng loại phân biệt. Trái lại, ta thì biết riêng rẽ từng cái. Là đất, ta biết đó là đất. Là nước, lửa, gió, quỷ thần, Chư Thiên, Sanh chủ, Phạm thiên, cũng giống như thế. Là Phạm thiên, ta biết đó là Phạm thiên”.
Bấy giờ Đức Thế Tôn bảo rằng:
“Này Phạm thiên, nếu có Sa-môn, Bà-la-môn nào đối với đất mà có tưởng về đất rằng: ‘Đất là ta, đất là sở hữu của ta, ta là sở hữu của đất’, thì khi chấp đất là ta tức không biết rõ đất. Cũng thế, đối với nước, lửa, gió, quỷ thần, Chư Thiên, Sanh chủ, Phạm thiên, Vô phiền thiên, Vô nhiệt và Tịnh; nếu nghĩ rằng: ‘Tịnh là ta, Tịnh là sở hữu của ta, ta là sở hữu của Tịnh’, khi chấp nhận Tịnh là ta rồi, vị ấy không thực biết về Tịnh. Phạm thiên, nếu có Sa-môn, Bà-la-môn nào đối với đất mà biết là đất, ‘Đất không phải là ta, đất không phải là sở hữu của ta, ta không phải là sở hữu của đất,’ do không chấp đất là ta nên vị ấy mới thực biết về đất. Cũng thế, đối với nước, lửa, gió, quỷ thần, Sanh chủ, Chư Thiên, Phạm thiên, Vô phiền, Vô nhiệt, Tịnh mà nghĩ rằng ‘Tịnh chẳng phải là ta, Tịnh chẳng phải là sở hữu của ta, ta chẳng phải là sở hữu của Tịnh,’ do không chấp Tịnh là ta nên vị ấy mới thật sự biết về Tịnh.
Nghe vậy, Phạm thiên thưa với Đức Thế Tôn rằng:
“Chúng sanh này, ai cũng ái trước hữu, ưa thích hữu, than cận hữu hữu. Chỉ có ông đã nhỗ tận gốc rễ hữu. Vì sao? Vì ông là Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác”.
Phạm thiên liền nói bài kệ:
Nơi hữu thấy sợ hãi;
Không hữu thấy sợ gì?
Cho nên đừng ưa hữu;
Hữu làm sao chẳng dứt?
“Này Đại Tiên nhân, tôi nay muốn ẩn hình”.
Đức Thế Tôn bảo:
“Này Phạm thiên, nếu ông muốn ẩn mình thì cứ tùy tiện”.
Phạm thiên liền ẩn hình ngay nơi đó. Đức Thế Tôn thấy rõ, liền nói:
“Phạm thiên, ông ở chỗ này. Ông đến chỗ kia. Ông lại ở giữa”.
Phạm thiên vận dụng hết như ý túc, muốn tự ẩn hình mà không thể tự ẩn, nên hiện hình trở lại giữa cõi trời Phạm thiên.
Bấy giờ Đức Thế Tôn mới bảo:
“Này Phạm thiên, Ta cũng muốn ẩn mình”.
Phạm thiên thưa rằng:
“Đại Tiên nhân, nếu muốn ẩn mình, xin cứ tùy tiện”.
Lúc ấy, Đức Phật nghĩ rằng: “Ta hãy như vậy mà hóa hiện như ý túc, phóng hào quang cực sáng, chiếu rọi cùng khắp cõi trời Phạm thiên, rồi ẩn hình trong đó, khiến cho Phạm thiên và quyến thuộc của Phạm thiên chỉ nghe tiếng mà không thấy hình Ta”.
Nghĩ xong, Đức Thế Tôn hiện như ý túc như vậy, phóng hào quang cực sáng, chiếu rọi khắp cõi trời Phạm thiên. Phạm thiên và quyến thuộc chỉ nghe tiếng mà không thấy hình Ngài. Bấy giờ Phạm thiên và quyến thuộc mới nghĩ rằng: “Sa-môn Cù-đàm thật là kỳ diệu, thật là hy hữu, có đại như ý túc, có đại oai đức, có đại phước hựu, có đại oai thần. Vì sao? Vì đã phóng hào quang chiếu sáng, chiếu rọi khắp cả trời Phạm thiên, rồi tự ẩn hình trong đó, khiến cho chúng ta chỉ được nghe tiếng mà không thấy hình”.
“Lúc ấy, Đức Thế Tôn lại nghĩ rằng: “Ta đã giáo hóa Phạm thiên này và quyến thuộc của Phạm thiên. Nay Ta hãy thu hồi như ý túc”.
“Đức Thế Tôn liền thu hồi như ý túc, hiện ra giữa cõi trời Phạm thiên. Khi ấy Ma vương cũng liền xuất hiện trong chúng Phạm thiên. Bấy giờ Ma vương liền bạch Thế Tôn rằng:
“Đại Tiên nhân, ông thật khéo thấy, khéo biết, khéo thông suốt, nhưng ông chớ nên giáo huấn, chớ nên dìu dắt đệ tử, chớ nói pháp cho đệ tử nghe, chớ luyến ái đệ tử. Chớ vì luyến ái đệ tử mà khi thân hoại mạng chung sẽ sanh vào nơi thấp kém, sanh trong loại thần kỹ nhạc. Hãy sống vô vi mà hưởng thụ an ổn khoái lạc trong đời hiện tại. Vì sao? Đại Tiên nhân, vì đó là tự gây phiền nhiệt vô ích. Đại Tiên nhân, xưa có Sa-môn, Bà-la-môn giáo huấn đệ tử, dìu dắt đệ tử, nói pháp cho đệ tử nghe, luyến ái đệ tử. Vì luyến ái đệ tử nên khi thân hoại mạng chung, vị ấy đã sanh vào những nơi thấp kém, sanh làm thần kỹ nhạc. Đại Tiên nhân, vì thế tôi bảo ông chớ nên giáo huấn đệ tử và dìu dắt đệ tử, cũng đừng nói pháp cho đệ tử nghe, chớ luyến ái đệ tử. Vì luyến ái đệ tử, sau khi thân hoại mạng chung sẽ sanh vào nơi thấp kém, làm thần kỹ nhạc. Hãy sống vô vi mà hưởng thụ khoái lạc trong đời hiện tại. Vì sao? Vì đó là tự gây phiền nhọc vô ích mà thôi”.
Khi ấy, Phật bảo rằng:
“Ma Ba-tuần, ngươi chẳng phải vì mong cầu nghĩa lợi cho Ta, chẳng phải vì mong cầu sự hữu ích, chẳng phải vì mưu cầu an lạc, cũng chẳng phải mưu cầu sự an ổn cho Ta mà nói với Ta rằng: ‘Đừng giáo huấn, dìu dắt đệ tử, đừng nói pháp cho đệ tử nghe, đừng luyến ái đệ tử. Vì sao? Vì luyến ái đệ tử thì sau khi thân hoại mạng chung, sẽ sanh vào nơi thấp kém, sanh làm thần kỹ nhạc. Hãy sống mà hưởng thụ khoái lạc ngay trong đời hiện tại. Vì sao vậy? Đại Tiên nhân, vì đó là sự gây phiền nhọc vô ích mà thôi’. Ma Ba-tuần, Ta biết ngươi đang nghĩ rằng ‘Sa-môn Cù-đàm này nói pháp cho đệ tử nghe, sau khi nghe xong, các đệ tử ấy sẽ ra khỏi cảnh giới của ta’. Này Ma Ba-tuần, vì thế cho nên ngươi nói với Ta rằng: ‘Đừng giáo huấn, dìu dắt đệ tử, đừng nói pháp cho đệ tử nghe, cũng đừng luyến ái đệ tử, thì sau khi thân hoại mạng chung sẽ sanh vào cảnh giới thấp kém, sanh làm thần kỹ nhạc. Hãy sống vô vi mà hưởng thụ khoái lạc an ổn ngay trong đời hiện tại. Vì sao vậy? —Này Đại Tiên nhân, vì đó là sự gây phiền nhiệt vô ích mà thôi’.
“Ma Ba-tuần, nếu quả có Sa-môn, Bà-la-môn nào đã giáo huấn đệ tử, dìu dắt đệ tử, nói pháp cho đệ tử nghe và luyến ái đệ tử; vì luyến ái đệ tử nên thân hoại mạng chung đã sanh vào nơi thấp kém, làm thần kỹ nhạc thì Sa-môn, Bà-la-môn ấy chẳng phải là Sa-môn mà tự xưng là Sa-môn, chẳng phải là Bà-la-môn mà tự xưng là Bà-la-môn, chẳng phải A-la-hán mà tự xưng là A-la-hán, chẳng phải Đẳng chánh giác mà tự xưng Đẳng chánh giác.
“Này Ma Ba-tuần, Ta là Sa-môn thực nên mới xưng là Sa-môn, thực là Bà-la-môn nên mới xưng là Bà-la-môn, thực là A-la-hán nên mới xưng là A-la-hán, thực là Đẳng chánh giác nên mới xưng là Đẳng chánh giác. Này Ma Ba-tuần, nếu Ta có nói pháp hay không nói pháp cho đệ tử nghe thì ngươi cũng nên đi đi. Nay Ta tự biết nên nói pháp cho đệ tử nghe hay không nên nói pháp cho đệ tử nghe.
“Đó là sự thỉnh cầu Phạm thiên, sự chống đối của Ma Ba-tuần, sự tùy thuận thuyết pháp của Đức Thế Tôn, cho nên kinh này gọi là “Phạm thiên thỉnh Phật”.
Phật thuyết như vậy. Phạm thiên và quyến thuộc của Phạm thiên sau khi nghe Phật thuyết, hoan hỷ phụng hành.
SC 1Thus I have heard: One time, the Buddha traveled to the country of Śrāvastī and stayed at Anāthapiṇḍada’s Park in Jeta’s Grove.
Brahmā’s Invitation
SC 2It was then that a Brahmā up in the Brahma Heaven had this wrong view occur to him: “This place has permanence; this place exists eternally; and this place endures a long time. This place is essential; this place is something that doesn’t end; and this place is the escape. This escape moreover has no escape that goes beyond it. It’s supreme, marvelous, and exceptional!”
SC 3The Bhagavān knew that thought in that Brahmā’s mind using his knowledge of other minds. He entered that form of samādhi and used it to suddenly disappear from Anāthapiṇḍada’s Park in Jeta’s Grove of Śrāvastī and reappear up in the Brahma Heaven in the time it takes a strong man to flex his arm.
SC 4When that Brahmā saw the Bhagavān approaching, he invited the Bhagavān, “Welcome, great sage! This place has permanence; this place exists eternally; and this place endures a long time. This place is essential; this place is something that doesn’t end; and this place is the escape. This escape moreover has no escape that goes beyond it. It’s supreme, marvelous, and exceptional!”
SC 5The Bhagavān then addressed him, “Brahmā, you are saying what’s impermanent is permanent, what’s not eternal is eternal, and what’s not enduring is enduring. You are saying what’s not essential is essential, something that ends is something that doesn’t end, and what’s not an escape is the escape that has no escape that goes beyond it. That it’s supreme, marvelous, and exceptional. Brahmā, you [say that] in ignorance. Brahmā, you [say that] in ignorance.”
Māra Intervenes
SC 6Just then, Māra Pāpīyān was there among the assembly, and he said to the Bhagavān, “Monk, don’t contradict what this Brahmā has said! Don’t oppose what this Brahmā has said! Monk, if you contradict what this Brahmā has said and oppose what this Brahmā has said, you would be a monk that’s like someone who comes upon some good fortune and rejects it. What this monk has said is likewise. Therefore, monk, I tell you, ‘Don’t contradict what this Brahmā has said! Don’t oppose what this Brahmā has said!’
SC 7“Monk, if you contradict what this Brahmā has said and oppose what this Brahmā has said, you would be a monk that’s like someone who falls from the top of a mountain. Although he gropes and grasps in the air with his hands and feet, he still finds no purchase. What this monk has said is likewise. Therefore, monk, I tell you, ‘Don’t contradict what this Brahmā has said! Don’t oppose what this Brahmā has said!’
SC 8“Monk, if you contradict what this Brahmā has said and oppose what this Brahmā has said, you would be a monk that’s like someone who falls from the top of a tree. Although he gropes and grasps in the air with his hands and feet, he still finds no purchase. What this monk has said is likewise. Therefore, monk, I tell you, ‘Don’t contradict what this Brahmā has said! Don’t oppose what this Brahmā has said!’
SC 9“What’s the reason for that? This Brahmā of the Brahma Heaven is the Fortunate, the Transformer, the Exalted, the Maker, the Creator, and the Father. All the sentient beings who have existed and will exist are born from him. This is known by those of complete knowledge and seen by those of complete vision.
SC 10“Great sage, if an ascetic or priest detests earth and criticizes earth, then he surely will be born among lowly entertainer spirits when his body breaks up and his life ends. *So it is with water, fire, air, spirits, gods, and the Lord Creator.* Detesting Brahmā and criticizing Brahmā, he surely will be born among some lowly entertainer spirits when his body breaks up and his life ends.
SC 11“Great sage, if an ascetic or priest loves earth and praises earth, then he surely will be born in the most exalted Brahma Heaven when his body breaks up and his life ends. *So it is with water, fire, air, spirits, gods, and the Lord Creator.* Loving Brahmā and praising Brahmā, he surely will be born in the most exalted Brahma Heaven when his body breaks up and his life ends. Great sage, don’t you see this Brahmā retinue seated here as my group?”
SC 12That Māra Pāpīyān was not a Brahmā, nor one of Brahmā’s retinue. Still, he made the claim, “I am a Brahmā.” It was then that the Bhagavān had this thought, “This Māra Pāpīyān is not a Brahmā, nor one of Brahmā’s retinue. Still, he makes the claim, ‘I am a Brahmā.’ Suppose I said, ‘There is Māra Pāpīyān! Right here is Māra Pāpīyān!’?”
SC 13Knowing that, the Bhagavān told him, “Māra Pāpīyān, you are not a Brahmā, nor one of Brahmā’s retinue. Still, you claim, ‘I am a Brahmā.’ Suppose I say, ‘There is Mara Pāpīyān! Right here is Māra Pāpīyān!’”
SC 14Māra Pāpīyān then thought, “The Bhagavān knows me! The Well Gone sees me!” Knowing that, he was distraught and suddenly disappeared from that place.
Brahmā Repeats His Invitation
SC 15That Brahmā then repeated his invitation to the Bhagavān three times, “Welcome, great sage! This place has permanence; this place exists eternally; and this place endures a long time. This place is essential; this place is something that doesn’t end; and this place is the escape. This escape moreover has no escape that goes beyond it. It’s supreme, marvelous, and exceptional!”
SC 16The Bhagavān also said three times, “Brahmā, you are saying what’s impermanent is permanent, what’s not eternal is eternal, and what’s not enduring is enduring. You are saying what’s not essential is essential, something that ends is something that doesn’t end, and what’s not an escape is the escape that has no escape that goes beyond it. That it’s supreme, marvelous, and exceptional. Brahmā, you [say that] in ignorance. Brahmā, you [say that] in ignorance.”
SC 17Brahmā then said to the Bhagavān, “Great sage, past ascetics and priests had very long life spans; they endured for a very long time. Great sage, your life has become short. It’s not like that of those ascetics and priests, not even the time they spent sitting in repose. What is the reason for that? Their knowledge was complete knowledge, and their vision was complete vision. If there really is an escape, then there’s no other escape beyond it. It’s supreme, marvelous, and exceptional. If there really isn’t an escape, there’s still no other escape beyond it. It’s supreme, marvelous, and exceptional.
SC 18“Great sage, you won’t find in this way the escape in an escape that isn’t perceived to be an escape or something that’s not an escape that’s perceived to be an escape, and then you’ll form a great delusion. What is the reason for that? You have no support.
SC 19“Great sage, if ascetics and priests love earth and praise earth, they’ll be subject to my authority, follow my wishes, and follow my servants. *So it is with water, fire, air, spirits, gods, and the Lord Creator.* Loving Brahmā and praising Brahmā, they are subject to my authority, follow my wishes, and follow my servants.
SC 20“Great sage, if you love earth and praise earth, then you also will be subject to my authority, follow my wishes, and follow my servants. *So it is with water, fire, air, spirits, gods, and the Lord Creator.* Loving Brahmā and praising Brahmā, you also will be subject to my authority, follow my wishes, and follow my servants.”
SC 21The Bhagavān then told him, “Brahmā, so it is. What the Brahmā has said is true. If ascetics and priests love earth and praise earth, they will be subject to your authority, follow your wishes, and follow your servants. *So it is with water, fire, air, spirits, gods, and the Lord Creator.* Loving Brahmā and praising Brahmā, they will be subject to your authority, follow your wishes, and follow your servants.
SC 22“Brahmā, if I loved earth and praised earth, I also would be subject to your authority, follow your wishes, and follow your servants. *So it would be with water, fire, air, spirits, gods, and the Lord Creator.* Loving Brahmā and praising Brahmā, I also would be subject to your authority, follow your wishes, and follow your servants. Brahmā, if I accordingly loved and praised these eight things, it would so for each of them.
SC 23“Brahmā, I know the place from whence you came, the place to which you’ll go, and accordingly your abodes, ends, and births. If there were a Brahmā who possessed great supernormal abilities, he would possess great majesty, great fortune, and great might.”
SC 24Brahmā then said to the Bhagavān, “Great sage, how do you know what I know or see what I see? How do you know me so completely? Just as the sun is free to illuminate the regions of these thousand worlds, have you obtained such freedom in these thousand worlds? Do you know whether such-and-such a place is in day or night? Has the great sage already been through those worlds and passed through them often?”
SC 25The Bhagavān told him, “Brahmā, just as the sun is free to illuminate the regions in these thousand worlds, I’ve attained freedom in these thousand worlds. I know whether such-and-such a place is in day or night, too. Brahmā, I’ve already been through those worlds, and I’ve often passed through them.
SC 26“Brahmā, there are three kinds of gods: Radiance gods, pure radiance gods, and completely pure radiance gods. Brahmā, whatever knowledge and vision those three kinds of gods possess, I also know and see that. Brahmā, whatever knowledge and vision those three kinds of gods lack, I also know and see myself. Brahmā, whatever knowledge and vision those three kinds of gods and their retinues possess, I also know and see that. Whatever knowledge and vision those three kinds of gods and their retinues lack, I also know and see myself.
SC 27“Brahmā, whatever knowledge and vision you possess, I also know and see that. Brahmā, whatever knowledge and vision you lack, I also know and see myself. Brahmā, whatever knowledge and vision you and your retinue possess, I also know and see that. Brahmā, whatever knowledge and vision you and your retinue lack, I also know and see myself. Brahmā, you and I are not in all ways equal. You and I are not entirety equal. Only I am superior to you and greater than you.”
SC 28Brahmā then said to the Bhagavān, “Great sage, how is it possible that whatever knowledge and vision those three types of gods possess, you also know and see that; whatever knowledge and vision those three types of gods lack, you also know and see yourself; whatever knowledge and vision those three types of gods and their retinues possess, you also know and see that; and whatever knowledge and vision those three types of gods and their retinues lack, you also know and see yourself?
SC 29“How is it whatever knowledge and vision I possess, you also know and see that; whatever knowledge and vision I lack, you also know and see yourself; whatever knowledge and vision I and my retinue possess, you also know and see that; and whatever knowledge and vision I and my retinue lack, you also know and see yourself?
SC 30“Great sage, do you not suffer from a love of words? Asking these questions, I’m not aware of any increase in delusion. What is the reason for that? Because consciousness has a limitless domain, its knowledge is measureless, its vision is measureless, and its types of discernment are measureless. I know each discernment thus: ‘This earth I know is earth … water … fire … air … spirits … gods … Lord Creator … this Brahmā I know is Brahmā.”
SC 31The Bhagavān then told him, “Brahmā, if ascetics and priests have the notions of earth in earth that ‘earth is self,’ ‘earth belongs to self,’ or ‘self belongs to earth,’ that person supposing earth is self doesn’t know earth. *So it is with water, fire, air, spirits, gods, the Lord Creator, Brahmā, Avṛha, and Atapa.* If they have notions of purity in purity that that ‘purity is self,’ ‘purity belongs to self,’ or ‘self belongs to purity,’ that person supposing that purity is self doesn’t know purity.
SC 32“Brahmā, if ascetics and priests know of earth that earth is not the self, earth doesn’t belong to self, and self doesn’t belong to earth, then that person not supposing that earth is self knows earth. *So it is with water, fire, air, spirits, gods, the Lord Creator, Brahmā, Avṛha, and Atapa.* Knowing of purity that purity is not self, purity doesn’t belong to self, and self doesn’t belong to purity, that person not supposing that purity is self knows purity.
SC 33“Brahmā, I know of earth that earth is not the self, earth doesn’t belong to self, and self doesn’t belong to earth. Not supposing that earth is self, I know earth. *So it is with water, fire, air, spirits, gods, the Lord Creator, Brahmā, Avṛha, and Atapa.* I know of purity that purity isn’t the self, purity doesn’t belong to self, and self doesn’t belong to purity. Not supposing that purity is self, I know purity.”
SC 34Brahmā then said to the Bhagavān, “Great sage, these sentient beings love existence, enjoy existence, and cultivate existence, but you’ve pulled out the root of existence. What’s the reason for that? You’re the Tathāgata, the Arhat, and the Completely Awakened One.” Then he said in verse:
{: .verse} “Looking on existence with dread,
I don’t fear the lack of existence;
Therefore, I don’t enjoy existence,
For how can existence not end?
SC 35“Now, great sage, I’d like to conceal my form.”
The Bhagavān told him, “Brahmā, if you want to conceal your form, then do as you like.”
SC 36Brahmā then concealed his form, and the Buddha knew according to where he stood: “Brahmā, you are there,” “you are here,” “you are in between.”
SC 37Brahmā then fully appeared as he wished, but he couldn’t conceal himself when he wanted to do so. He returned to standing in the Brahma Heaven. The Bhagavān then told him, “Now, Brahmā, I’d like to conceal my form.”
Brahmā said to the Bhagavān, “Great sage, if you want to conceal your form, then do as you like.”
SC 38The Bhagavān then thought, “Now, I’d rather manifest a manner of supernormal ability and emit an incredible radiance that illuminates all the Brahma Heavens to conceal where I stand. That will cause Brahmā and his retinue to hear my voice but not see my form.”
SC 39The Bhagavān then manifested a manner of supernormal ability that emits an incredible radiance. It illuminated all the Brahma Heavens and concealed where he stood. It made it so Brahmā and his retinue could hear his voice but not see his form.
SC 40Brahmā and his retinue each thought, “The ascetic Gautama is rare and extraordinary! He possesses great supernormal abilities, great majesty, great fortune, and great might. What is the reason for that? He’s emitting an incredible radiance that illuminates all the Brahma Heavens and conceals where he stands. We and our retinues can hear his voice but not see his form.”
SC 41The Bhagavān again thought, “I’ve converted this Brahmā and his retinue. Now, I’d rather collect my supernormal ability.” The Bhagavān then collected his supernormal ability, returning to stand in the Brahma Heaven.
Māra Intervenes Again
SC 42King Māra then was present in that assembly three times. It was then that King Māra said to the Bhagavān, “Great sage, you see well, know well, and comprehend well, but don’t advise or instruct disciples, and don’t teach Dharma for disciples. Don’t be attached to disciples. Don’t, for you’ll be born among the lowly entertainer spirits when your body breaks up and your life ends because you were attached to disciples. Practice doing nothing, and you’ll experience well-being in the present life. What is the reason for that? Great sage, these vanities are self-afflictions.
SC 43“Great sage, in the past, ascetics and priests who advised their disciples, instructed their disciples, and taught Dharma for their disciples became attached to their disciples. They were born among some lowly entertainer spirits when their bodies broke up and their lives ended because they were attached to their disciples. Therefore, great sage, I say to you, don’t advise and instruct disciples, don’t teach Dharma for disciples, and don’t become attached to disciples. You’ll be born among the lowly entertainer spirits when your body breaks up and your life ends because you’re attached to disciples. Practice doing nothing, and you’ll experience well-being in this life. What’s the reason for that? Great sage, these vanities are self-afflictions.”
SC 44The Bhagavān then told him, “Māra Pāpīyān, speaking not for my gain, not for my happiness, nor for my comfort but to ensure I won’t pursue my goal, [you say:] ‘Don’t advise and instruct disciples, don’t teach Dharma for disciples, and don’t become attached to disciples. You’ll be born among the lowly entertainer spirits when your body breaks up and your life ends because you’ll be attached to disciples. Practice doing nothing, and you’ll experience well-being in this life. What’s the reason for that? Great sage, these vanities are self-afflictions.’
SC 45“Māra Pāpīyān, you think: ‘This ascetic Gautama teaches Dharma for his disciples. Hearing the Dharma, those disciples will leave my domain.’ Māra Pāpīyān, you therefore now tell me, ‘Don’t advise and instruct disciples, don’t teach Dharma for disciples, and don’t become attached to disciples. You’ll be born among the lowly entertainer spirits when your body breaks up and your life ends because you’ll be attached to disciples. Practice doing nothing, and you’ll experience well-being in this life. What’s the reason for that? Great sage, these vanities are self-afflictions.’
SC 46“Māra Pāpīyān, if ascetics and priests advise disciples, instruct disciples, teach Dharma for disciples, and become attached to disciples, then they’ll be born among some lowly entertainer spirits when their bodies break up and their lives end because they are attached to their disciples. Those ascetics and priests are not ascetics or priests but claim to be ascetics or priests. They are not arhats or fully awakened ones but claim to be arhats or fully awakened ones.
SC 47“Māra Pāpīyān, I really am an ascetic who claims to an ascetic, and I really am a priest who claims to be a priest. I really am an arhat who claims to be an arhat, and I really am a fully awakened one who claims to be a fully awakened one. Māra Pāpīyān, whether or not I teach Dharma for disciples, you may take your leave. I know for myself whether or not I should teach Dharma for disciples.”
Conclusion
SC 48This was Brahmā’s invitation, Māra Pāpīyān’s opposition, and the Bhagavān’s subsequent teaching. This sūtra is therefore called “Brahmā’s Invitation to the Buddha.”
SC 49The Buddha spoke thus. The Brahmā and his retinue who heard what the Buddha taught rejoiced and approved.