Chuyển đến nội dung chính

⚙️ Tùy Chỉnh Đọc

🎨 Giao diện
✍️ Kiểu chữ
NhỏLớn
ChặtRộng
📐 Bố cục
HẹpFull
SátRộng
Tam tạng Trung A-hàm
MA131 131. Kinh hàng ma
MA1 1. Kinh thiện pháp MA2 2. Kinh trú độ thọ MA3 3. Kinh thành dụ MA4 4. Kinh thủy dụ(1) MA5 5. Kinh mộc tích dụ MA6 6. Kinh thiện nhân vãng MA7 7. Kinh thế gian phước MA8 8. Kinh thất nhật MA9 9. Kinh thất xa MA10 10. Kinh lậu tận MA11 11. Kinh diêm dụ MA12 12. Kinh hòa-phá MA13 13. Kinh độ MA14 14. Kinh la-hầu-la MA15 15. Kinh tư MA16 16. Kinh già-lam MA17 17. Kinh già-di-ni MA18 18. Kinh sư tử MA19 19. Kinh ni-kiền MA20 20. Kinh ba-la-lao MA21 21. Kinh đẳng tâm MA22 22. Kinh thành tựu giới MA23 23. Kinh trí MA24 24. Kinh sư tử hống MA25 25. Kinh thủy dụ (2) MA26 26. Kinh cù-ni-sư MA27 27. Kinh phạm chí đà-nhiên MA28 28. Kinh giáo hóa bịnh MA29 29. Kinh đại câu-hi-la MA30 30. Kinh tượng tích dụ MA31 31. Kinh phân biệt thánh đế MA32 32. Kinh vị tằng hữu pháp MA33 33. Kinh thị giả MA34 34. Kinh bạc-câu-la MA35 35. Kinh a-tu-la MA36 36. Kinh địa động MA37 37. Kinh chiêm-ba MA38 ma38 MA39 ma39 MA40 ma40 MA41 ma41 MA42 42. Kinh hà nghĩa MA43 43. Kinh bất tư MA44 44. Kinh niệm MA45 ma45 MA46 ma46 MA47 ma47 MA48 ma48 MA49 ma49 MA50 ma50 MA51 51. Kinh bổn tế MA52 ma52 MA53 ma53 MA54 54. Kinh tận trí MA55 55. Kinh niết-bàn MA56 56. Kinh di-hê MA57 57. Kinh tức vị tỳ-kheo thuyết MA58 58. Kinh thất bảo MA59 59. Kinh tam thập nhị tướng MA60 60. Kinh tứ châu MA61 61. Kinh ngưu phấn dụ MA62 62. Kinh tần-tì-sa-la vương nghinh phật MA63 63. Kinh tì-bà-lăng-kỳ MA64 64. Kinh thiên sứ MA65 65. Kinh ô điểu dụ MA66 66. Kinh thuyết bổn MA67 67. Kinh đại thiên nại lâm MA68 68. Kinh đại thiện kiến vương MA69 69. Kinh tam thập dụ MA70 70. Kinh chuyển luân vương MA71 71. Kinh tì-tứ MA72 72. Kinh trường thọ vương bổn khởi MA73 73. Kinh thiên MA74 74. Kinh bát niệm MA75 75. Kinh tịnh bất động đạo MA76 76. Kinh úc-già-chi-la MA77 77. Kinh sa-kê-đế tam tộc tánh tử MA78 78. Kinh phạm thiên thỉnh phật MA79 79. Kinh hữu thắng thiên MA80 80. Kinh ca-hi-na MA81 81. Kinh niệm thân MA82 82. Kinh chi-ly-di-lê MA83 83. Kinh trưởng lão thượng tôn thụy miên MA84 84. Kinh vô thích MA85 85. Kinh chân nhân MA86 86. Kinh thuyết xứ MA87 87. Kinh uế phẩm MA88 88. Kinh cầu pháp MA89 89. Kinh tỳ-kheo thỉnh MA90 90. Kinh tri pháp MA91 91. Kinh chu-na vấn kiến MA92 92. Kinh thanh bạch liên hoa dụ MA93 93. Kinh thủy tịnh phạm chí MA94 94. Kinh hắc tỳ-kheo MA95 95. Kinh trụ pháp MA96 96. Kinh vô MA97 97. Kinh đại nhân MA98 98. Kinh niệm xứ MA99 ma99 MA100 ma100 MA101 101. Kinh tăng thượng tâm MA102 102. Kinh niệm MA103 103. Kinh sư tử hống MA104 104. Kinh ưu-đàm-bà-la MA105 105. Kinh nguyện MA106 106. Kinh tưởng MA107 ma107 MA108 ma108 MA109 ma109 MA110 ma110 MA111 111. Kinh đạt phạm hạnh MA112 112. Kinh a-nô-ba MA113 113. Kinh chư pháp bổn MA114 114. Kinh ưu-đà-la MA115 115. Kinh mật hoàn dụ MA116 116. Kinh cù-đàm-di MA117 117. Kinh nhu nhuyến MA118 118. Kinh long tượng MA119 119. Kinh thuyết xứ MA120 120. Kinh thuyết vô thường MA121 121. Kinh thỉnh tỉnh MA122 122. Kinh chiêm-ba MA123 123. Kinh sa-môn nhị thập ức MA124 124. Kinh bát nạn MA125 125. Kinh bần cùng MA126 126. Kinh hành dục MA127 127. Kinh phước điền MA128 128. Kinh ưu-bà-tắc MA129 129. Kinh oán gia MA130 130. Kinh giáo MA131 131. Kinh hàng ma MA132 132. Kinh lại-tra-hòa-la MA133 133. Kinh ưu-ba-ly MA134 134. Kinh thích vấn MA135 135. Kinh thiện sanh MA136 136. Kinh thương nhân cầu tài MA137 137. Kinh thế gian MA138 138. Kinh phước MA139 139. Kinh tức chỉ đạo MA140 140. Kinh chí biên MA141 141. Kinh dụ MA142 142. Kinh vũ thế MA143 143. Kinh thương-ca-la MA144 144. Kinh toán số mục-kiền-liên MA145 145. Kinh cù-mặc mục-kiền-liên MA146 146. Kinh tượng tích dụ MA147 147. Kinh văn đức MA148 148. Kinh hà khổ MA149 149. Kinh hà dục MA150 150. Kinh uất-sấu-ca-la MA151 151. Kinh phạm chí a-nhiếp-hòa MA152 152. Kinh anh vũ (1) MA153 153. Kinh man-nhàn-đề MA154 154. Kinh bà-la-bà đường MA155 155. Kinh tu-đạt-đa MA156 156. Kinh phạm ba-la-diên MA157 157. Kinh hoàng lô viên MA158 158. Kinh đầu-na MA159 159. Kinh a-già-la-ha-na MA160 160. Kinh a-lan-na MA161 161. Kinh phạm-ma MA162 162. Kinh phân biệt lục giới MA163 163. Kinh phân biệt lục xứ MA164 164. Kinh phân biệt quán pháp MA165 165. Kinh ôn tuyền lâm thiên MA166 166. Kinh thích trung thiền thất tôn MA167 167. Kinh a-nan thuyết MA168 168. Kinh ý hành MA169 169. Kinh câu-lâu-sấu vô tránh MA170 170. Kinh anh vũ (2) MA171 171. Kinh phân biệt đại nghiệp MA172 172. Kinh tâm MA173 173. Kinh phù-di MA174 ma174 MA175 ma175 MA176 176. Kinh hành thiền MA177 177. Kinh thuyết MA178 178. Kinh lạp sư MA179 179. Kinh ngũ chi vật chủ MA180 180. Kinh cù-đàm-di MA181 181. Kinh đa giới MA182 ma182 MA183 ma183 MA184 ma184 MA185 ma185 MA186 186. Kinh cầu giải MA187 187. Kinh thuyết trí MA188 188. Kinh a-di-na MA189 189. Kinh thánh đạo MA190 190. Kinh tiểu không MA191 191. Kinh đại không MA192 192. Kinh ca-lâu-ô-đà-di MA193 193. Kinh mâu-lê-phá-quần-na MA194 194. Kinh bạt-đà-hòa-lợi MA195 195. Kinh a-thấp-bối MA196 196. Kinh châu-na MA197 197. Kinh ưu-ba-ly MA198 198. Kinh điều ngự địa MA199 199. Kinh si tuệ địa MA200 200. Kinh a-lê-tra MA201 201. Kinh trà-đế MA202 202. Kinh trì trai MA203 203. Kinh bô-đa-lị MA204 204. Kinh la-ma MA205 205. Kinh ngũ hạ phần kết MA206 206. Kinh tâm uế MA207 ma207 MA208 ma208 MA209 209. Kinh tì-ma-na-tu MA210 210. Kinh tỳ-kheo-ni pháp lạc MA211 211. Kinh đại câu-hy-la MA212 212. Kinh nhất thiết trí MA213 213. Kinh pháp trang nghiêm MA214 214. Kinh tì-ha-đề MA215 215. Kinh đệ nhất đắc MA216 216. Kinh ái sanh MA217 217. Kinh bát thành MA218 ma218 MA219 ma219 MA220 220. Kinh kiến MA221 221. Kinh tiễn dụ MA222 222. Kinh lệ
MA131

131. Kinh hàng ma

Tôi nghe như vầy:

Một thời Đức Phật trú tại Bạt-kì-sấu, trong núi Ngạc, rừng Bố, vườn Lộc dã.

Lúc bấy giờ Đại Mục-kiền-liên đang coi việc dựng thiền thất cho Phật. Trong lúc Tôn giả đang kinh hành trên khoảng đất trống, bấy giờ Ma vương hóa hình nhỏ xíu, chui vào trong bụng của Tôn giả Đại Mục-kiền-liên. Lúc đó, Tôn giả Đại Mục-kiền-liên nghĩ như vầy, “Bụng ta cảm thấy nặng, giống như đang ăn phải hạt đậu. Ta hãy nhập như vậy, bằng định như vậy ta nhìn vào bụng xem.”

Rồi Tôn giả Đại Mục-kiền-liên đi đến cuối đường kinh hành, trải ni-sư-đàn, ngồi xếp kiết già, nhập định như vậy, bằng định như vậy mà nhìn vào bụng mình, Tôn giả Đại Mục-kiền-liên thấy Ma vương đang ở trong đó. Tôn giả bèn ra khỏi định, nói với Ma vương:

“Này Ba-tuần, ngươi hãy đi ra! Này Ba-tuần, ngươi hãy đi ra! Chớ có xúc nhiễu Như Lai, cũng chớ xúc nhiễu đệ tử của Như Lai. Đừng sống mãi trong sự vô nghĩa, vô ích mà phải tái sanh ác xứ, thọ vô lượng khổ.”

Khi ấy, Ma vương liền nghĩ: “Sa-môn này không thấy, không biết, thế mà lại nói: ‘Này Ba-tuần, ngươi hãy đi ra! Này Ba-tuần, ngươi hãy đi ra! Chớ có xúc nhiễu Như Lai, cũng chớ xúc nhiễu đệ tử của Như Lai. Đừng sống mãi trong sự vô nghĩa, vô ích mà phải tái sanh ác xứ, thọ vô lượng khổ’. Tôn sư của ông ta có đại như ý túc, có đại oai đức, có đại phước hựu, có đại oai thần, cũng không thể thấy mau lẹ, biết mau lẹ như vậy, huống nữa là đệ tử mà thấy biết được sao!”

Tôn giả Đại Mục-kiền-liên lại nói với Ma vương rằng:

“Ta lại biết trong ý của ngươi, ngươi nghĩ như vầy, ‘Sa-môn này không thấy, không biết, thế mà lại nói: ‘Này Ba-tuần, ngươi hãy đi ra! Này Ba-tuần, ngươi hãy đi ra! Chớ có xúc nhiễu Như Lai, cũng chớ xúc nhiễu đệ tử của Như Lai. Đừng sống mãi trong sự vô nghĩa, vô ích mà phải tái sanh ác xứ, thọ vô lượng khổ’. Tôn sư của ông ta có đại như ý túc, có đại oai đức, có đại phước hựu, có đại oai thần, cũng không thể thấy mau lẹ, biết mau lẹ như vậy, huống nữa là đệ tử mà thấy biết được sao!’”

Ma Ba-tuần kia nghĩ rằng: “Sa-môn này đã thấy và biết ta nên mới nói như vậy.” Rồi ma Ba-tuần hóa hình nhỏ xíu, từ trong miệng vọt ra, đứng ngay trước mặt Tôn giả Đại Mục-kiền-liên.

Tôn giả Đại Mục-kiền-liên bảo rằng:

“Này ma Ba-tuần, thuở xưa, có Như Lai tên là Câu-lưu-tôn, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác. Lúc đó ta làm Ma có tên là Ác. Ta có người em gái tên là Hắc. Ngươi chính là con trai của nó. Này Ma Ba-tuần, vì lẽ đó cho nên ngươi là cháu gọi ta bằng cậu.

“Này Ma Ba-tuần, Đức Câu-lưu-tôn Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác có hai đệ tử, một tên là Âm, hai tên là Tưởng. Này Ba-tuần, do ý nghĩa nào được gọi là Âm? Ba-tuần, Tôn giả đó lúc sống trên cõi trời Phạm thiên, tiếng nói bình thường của ngài vang cả ngàn thế giới, lại không có một đệ tử nào có âm thanh ngang bằng, hoặc tương tợ, hoặc trội hơn được. Này Ba-tuần, vì lẽ ấy cho nên Tôn giả đó được gọi là Âm vậy. Ba-tuần, lại do ý nghĩa nào mà Tôn giả Tưởng có tên là Tưởng? Này Ba-tuần, Tôn giả Tưởng nương nơi thôn ấp mà du hành. Khi đêm đã qua, lúc trời hừng sáng, Tôn giả ấy đắp y, mang bình bát, đi vào thôn ấp khất thực, cẩn thận thủ hộ thân, thu nhiếp các căn, giữ vững chánh niệm. Ngài sau khi khất thực xong và sau khi ăn vào lúc giữa trưa, thâu vén y bát, rửa tay chân, vắt ni-sư-đàn trên vai, đi vào rừng vắng vẻ, hoặc đến dưới gốc cây trong rừng sâu, hoặc đến chỗ không tĩnh, trải ni-sư-đàn ngồi kết già, liền nhập tưởng tri diệt định một cách nhanh chóng. Lúc ấy có những người đang lùa trâu, dê, người đi mót cỏ, hoặc người đi đường; họ vào trong núi, thấy ngài nhập tưởng tri diệt định, bèn nghĩ rằng: ‘Sa-môn này ngồi mà chết trong khu rừng vắng này. Chúng ta hãy nhặt cỏ khô chất đống phủ lên trên, ràng rịt cẩn thận, lượm củi chất chồng lên trên thân để hỏa thiêu’. Họ bèn nhặt cỏ chất đống phủ lên thân ngài, nổi lửa đốt rồi bỏ mà đi. Tôn giả kia, sau khi đêm đã qua, trời vừa hừng sáng, ra khỏi định, đập phủi y phục, du hành trở về thôn ấp, đắp y, mang bình bát vào thôn ấp khất thực như thường lệ, khéo giữ gìn thân căn, giữ vững chánh niệm. Những người lùa trâu, dê, những người mót cỏ khô, hoặc người đi đường vào trong núi đã gặp Tôn giả trước kia, họ bèn nghĩ: ‘Đây là Sa-môn ngồi mà chết trong khu rừng vắng vẻ này. Chúng ta đã nhặt cỏ khô chất đống phủ trên thân, nổi lửa đốt rồi bỏ đó mà đi. Song Hiền giả này vẫn còn biết tưởng.’ Này Ba-tuần, vì lẽ đó cho nên Tôn giả Tưởng được gọi là Tưởng vậy.

“Này Ba-tuần, lúc ấy Ác ma nghĩ rằng: ‘Sa-môn trọc đầu này bị da đen trói chặt, bị tuyệt chủng, không con cái, học thiền, dò xét, ngong ngóng dò xét, luôn luôn ngong ngóng dò xét. Giống như con lừa trọn ngày mang nặng, bị cột lại trong tàu, không được ăn lúa mạch, nó dò xét, ngong ngóng dò xét, luôn luôn ngong ngóng dò xét; Sa-môn trọc đầu này bị da đen trói chặt, tuyệt chủng, không con cái, chúng nó học thiền, dò xét, ngong ngóng dò xét, luôn luôn ngong ngóng dò xét.

“ ‘Giống như con mèo ngồi rình bên hang chuột, vì muốn bắt chuột nên nó dò xét, ngong ngóng dò xét, luôn luôn ngong ngóng dò xét; cũng vậy, Sa-môn trọc đầu này bị da đen trói chặt, tuyệt chủng không con cái, chúng nó học thiền, dò xét, ngong ngóng dò xét, luôn luôn ngong ngóng dò xét.

“ ‘Cũng giống như con cú mèo ở giữa đống củi khô, vì muốn bắt chuột nên nó dò xét, ngong ngóng dò xét, luôn luôn ngong ngóng dò xét; cũng vậy, Sa-môn trọc đầu này bị da đen trói chặt, tuyệt chủng không con cái, chúng nó học thiền, dò xét, ngong ngóng dò xét, luôn luôn ngong ngóng dò xét.

“ ‘Giống như con chim hạc ở bên bờ nước, vì muốn bắt cá nên nó dò xét, ngong ngóng dò xét, luôn luôn ngong ngóng dò xét; cũng vậy, Sa-môn trọc đầu này bị da đen trói chặt, bị tuyệt chủng không con cái, chúng nó học thiền, dò xét, ngong ngóng dò xét, luôn luôn ngong ngóng dò xét.

“ ‘Chúng dò xét cái gì? Dò xét với mục đích gì? Dò xét để mong cái gì? Chúng nó loạn trí, phát cuồng, bại hoại. Ta chẳng biết chúng nó ở đâu đến, cũng chẳng biết chúng nó đi về đâu, chẳng biết chúng nó sống ở đâu, chẳng biết chúng nó chết như thế nào, sanh như thế nào? Ta hãy dạy bảo các Bà-la-môn, Cư sĩ rằng: ‘Ngươi hãy đi đến mà chửi, mà đập, mà phá, mà rủa xả Sa-môn tinh tấn kia’. Vì sao vậy? Khi bị chửi, bị đập, bị phá, bị rủa xả, biết đâu chúng nó chẳng nổi ác tâm để ta dễ chi phối’.

“Bấy giờ Ác ma bèn xúi dục các Cư sĩ, Bà-la-môn. Các Cư sĩ, Bà-la-môn ấy chửi, đập phá, rủa xả Sa-môn tinh tấn. Các Cư sĩ, Bà-la-môn ấy hoặc dùng cây đánh, hoặc lấy đá ném, hoặc vác gậy đập, có khi gây thương tích Sa-môn tinh tấn, có khi làm rách toạc áo, có khi làm bể bình bát. Bấy giờ trong số Cư sĩ Bà-la-môn ấy do nhân duyên này thân hoại mạng chung phải đến ác xứ, sanh trong địa ngục. Chúng sanh vào đó rồi, suy nghĩ như vầy, ‘Ta đáng phải thọ khổ này, lại phải thọ cực khổ hơn nữa. Vì cớ sao? Vì chúng ta đã đối xử tàn ác với Sa-môn tinh tấn vậy’.

“Này Ba-tuần, đệ tử của Đức Câu-lưu-tôn Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, mang đầu thương tích, mang y rách toạc, mang bình bát bể, đi đến chỗ Câu-lưu-tôn Như Lai, Vô Sở Trước Đẳng Chánh Giác. Lúc bấy giờ Đức Câu-lưu-tôn Như Lai, Vô Sở Trước Đẳng Chánh Giác đang thuyết pháp cho vô lượng trăm ngàn quyến thuộc vây quanh. Đức Câu-lưu-tôn Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác trông thấy từ xa một đệ tử mang đầu bị thương tích, y rách toạc, bình bát bể đi đến. Ngài thấy vậy, bảo các Tỳ-kheo rằng: ‘Các ngươi có thấy chăng, Ác ma đã xúi dục các Cư sĩ, Bà-la-môn rằng ‘Các ngươi hãy đến mà chửi, mà đập, mà rủa xả Sa-môn tinh tấn. Vì cớ sao? Khi bị chửi, bị đập, bị rủa xả, biết đâu chúng nó chẳng nổi ác tâm để ta dễ dàng chi phối.’’ Này các Tỳ-kheo, hãy với tâm tương ưng từ, biến mãn một phương, thành tựu an trụ. Cũng vậy, hai, ba, bốn phương, tứ duy thượng hạ bao trùm tất cả, tâm tương ưng với từ, không kết, không oán, không nhuế, không não hại, rộng lớn bao la, vô lượng, khéo tu tập, biến mãn tất cả thế gian, thành tựu và an trụ. Bi và hỷ cũng vậy. Tâm tương ưng với xả, không kết, không oán, không nhuế, không tranh, rộng lớn bao la, vô lượng, khéo tu tập, biến mãn tất cả thế gian, thành tựu và an trụ. Với tâm ấy khiến Ác ma không thể chi phối’.

“Này Ma Ba-tuần, Đức Câu-lưu-tôn Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, bằng giáo pháp như vậy mà dạy đệ tử. Họ bèn thọ lãnh giáo pháp ấy, tâm tương ưng với từ, không oán, không nhuế, không tranh, rộng lớn bao la, khéo tu tập, biến mãn tất cả thế gian, thành tựu và an trụ. Với tâm ấy, ác ma kia không thể chi phối được.

“Này Ma Ba-tuần, lúc đó Ác ma lại nghĩ: ‘Bằng sự việc ấy ta muốn chi phối Sa-môn tinh tấn mà không thể được. Bây giờ ta hãy xúi dục các Cư sĩ, Bà-la-môn rằng: ‘Các người hãy đến phụng kính, cúng dường, lễ sự Sa-môn tinh tấn’. Biết đâu do sự phụng kính, cúng dường, lễ sự Sa-môn tinh tấn, chúng nó chẳng nổi ác tâm để ta dễ dàng chi phối’.

“Này Ma Ba-tuần, các Cư sĩ, Bà-la-môn kia sau khi bị Ác ma xúi dục, họ đến phụng kính, cúng dường, lễ sự Sa-môn tinh tấn. Họ lấy áo trải lên mặt đất mà nói rằng ‘Sa-môn tinh tấn, xin đạp lên mà đi. Sa-môn tinh tấn thường làm những việc khó làm, khiến cho chúng tôi mãi mãi được lợi ích, được an ổn khoái lạc’. Hoặc có Bà-la-môn trải tóc lên mặt đất, nói rằng ‘Sa-môn tinh tấn, xin đạp lên tóc mà đi. Sa-môn tinh tấn thường làm những việc khó làm, khiến cho chúng tôi mãi mãi được lợi ích, được an ổn khoái lạc’. Hoặc có Cư sĩ, Bà-la-môn hai tay bưng đủ các loại ẩm thực, đứng bên dưới đợi và nói rằng ‘Sa-môn tinh tấn, xin nhận vật thực này, xin cứ mang đi tùy ý mà thọ dụng, để cho tôi mãi mãi được lợi ích, được an ổn khoái lạc’. Các Cư sĩ, Bà-la-môn thành tín thấy Sa-môn tinh tấn, cung kính bồng bế vào nhà, đem đủ thứ tài vật ra cho Sa-môn tinh tấn và nói rằng: ‘Xin thọ nhận cái này, xin thọ dụng cái này, xin mang cái này đi, tùy ý mà thọ dụng’. Lúc bấy giờ trong số các Cư sĩ, Bà-la-môn đó có người chết, do nhân duyên này thân hoại mạng chung được đi đến thiện xứ, sanh lên cõi trời. Sau khi sanh vào đó, họ bèn nghĩ ‘Ta xứng đáng thọ hưởng sự an lạc này, lại sẽ thọ hưởng cực lạc hơn nữa. Vì sao thế? Vì chúng ta đã làm các việc lành với Sa-môn tinh tấn vậy’.

“Này Ma Ba-tuần, đệ tử của Đức Câu-lưu-tôn Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, sau khi được phụng kính, cúng dường, lễ sự, họ đi đến Đức Câu-lưu-tôn Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác. Lúc đó Đức Câu-lưu-tôn Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác đang thuyết pháp cho vô lượng trăm ngàn đệ tử vây quanh. Khi Đức Câu-lưu-tôn Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác trông thấy từ xa các đệ tử được phụng kính, cúng dường, lễ sự đang đi đến, thấy vậy, ngài bảo các Tỳ-kheo rằng: ‘Các ngươi có thấy chăng? Ác ma xúi dục các Cư sĩ, Bà-la-môn rằng ‘Các ngươi hãy đến phụng kính, cúng dường, lễ sự Sa-môn tinh tấn’. Biết đâu do phụng kính, cúng dường, lễ sự Sa-môn tinh tấn, chúng sẽ nổi ác tâm để ta dễ dàng chi phối. Này các Tỳ-kheo, các ngươi hãy quán các hành vô thường, quán các pháp hưng suy, quán vô dục, quán xả ly, quán diệt, quán đoạn, để cho bọn ác ma không thể chi phối’.

“Này Ma Ba-tuần, Đức Câu-lưu-tôn Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác bằng giáo pháp như vậy mà dạy các đệ tử; họ bèn thọ lãnh giáo pháp ấy, quán các hành vô thường, quán pháp hưng suy, quán vô dục, quán xả ly, quán diệt, quán đoạn, khiến cho ác ma không thể chi phối.

“Này Ma Ba-tuần, lúc đó Ác ma bèn nghĩ: ‘Bằng việc ấy ta muốn chi phối Sa-môn tinh tấn mà không được. Ta hãy hóa hình làm một đứa nhỏ tay cầm cây gậy lớn, đứng bên đường, đánh vỡ đầu Tôn giả Âm, khiến máu chảy ướt cả mặt’.

“Này Ma Ba-tuần, Đức Câu-lưu-tôn Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, sau đó đang du hành trong thôn ấp. Khi đêm đã qua, lúc trời hừng sáng, mang y bát vào trong thôn xóm khất thực, Tôn giả Âm đi hầu theo phía sau. Ma Ba-tuần, lúc ấy Ác ma hóa hình làm một đứa bé, tay cầm một cây gậy lớn đứng bên đường, đánh vỡ đầu Tôn giả Âm, khiến máu chảy ướt cả mặt.

“Này Ma Ba-tuần, Tôn giả Âm sau khi bị vỡ đầu chảy máu, vẫn đi theo sau Đức Câu-lưu-tôn Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, như bóng không rời hình. Này Ma Ba-tuần, Đức Câu-lưu-tôn Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác sau khi đến thôn ấp, bằng sức mạnh cực kỳ của bản thân, Ngài xoay nhìn theo phía hữu, như cái nhìn của một voi chúa, không sợ không hãi, không kinh không khiếp, quán sát khắp mọi phía. Này ma Ba-tuần, Đức Câu-lưu-tôn Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, nhìn thấy Tôn giả Âm đầu bị chảy máu ướt cả mặt, đang đi theo sau Phật như bóng không rời hình, bèn nói rằng: ‘Ác ma thật là hung bạo này có đại oai lực, Ác ma này không biết vừa đủ’.

“Này ma Ba-tuần, Đức Câu-lưu-tôn Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, nói chưa xong thì ngay tại chỗ đó Ác ma liền bị đọa vào đại địa ngục Vô khuyết. Ma Ba-tuần, đại địa ngục này có bốn tên gọi, một là Vô khuyết, hai là Bách đinh, ba là Nghịch thích, bốn là Lục cánh. Trong đại địa ngục đó có ngục tốt đi đến chỗ ác ma ở mà nói rằng: ‘Ngươi nay nên biết, nếu đinh hiệp với các đinh, phải biết mãn một trăm năm.’”

Ma Ba-tuần nghe nói như vậy xong, trong lòng hết sức rúng động, kinh sợ, khủng khiếp vô cùng, tóc lông dựng ngược, bèn hướng đến tôn giả Đại Mục-kiền-liên mà nói bài kệ:

Địa ngục kia thế nào,
Xưa Ác ma ở đó?
Nhiễu hại phạm hạnh Phật,
Xúc phạm cả Tỳ-kheo.

Tôn giả Đại Mục-kiền-liên đáp lại ma Ba-tuần bài kệ rằng:

Địa ngục tên Vô khuyết,
Ác ma từng ở trong.
Nhiễu hại đồng phạm hạnh,
Xúc phạm Tỳ-kheo Tăng.
Đinh sắt cả trăm cái,
Thảy đều đâm ngược lên.
Địa ngục tên Vô khuyết,
Ác ma từng ở trong.
Nếu như ai không biết,
Đệ tử Phật, Tỳ-kheo,
Tất nhiên khổ như vậy,
Mà thọ báo nghiệp đen.
Trong nhiều chốn công viên,
Loài người trên đất này,
Ăn loại lúa tự mọc,
Đời Bắc châu, tự nhiên.
Triền núi Đại Tu di
Xông ướp bởi nhân lành.
Tu tập nơi giải thoát,
Thọ trì tối hậu thân,
Đứng sững trên suối lớn,
Cung điện kiếp lâu bền.
Sắc vàng thật khả ái,
Như lửa rực huy hoàng.
Nhạc trời trỗi các thứ;
Đến Đế Thích thiên cung.
Kiếp xưa với nhà cửa,
Thiện Giác đã cúng dường.
Nếu Đế Thích đi trước,
Lên điện Tỳ-xà-diên,
Hân hoan chào đón Thích,
Thiên nữ vũ chúc mừng.
Nếu thấy Tỳ-kheo đến,
Nhìn lui, vẻ thẹn thùng.
Trên địên Tỳ-xà-diên,
Luận nghĩa cùng Sa-môn
Ái tận, đắc giải thoát;
Đại tiên có biết chăng?
Tỳ-kheo liền đáp lại,
Người hỏi đúng như nghĩa.
Câu-dực, ta biết đây,
Ái tận, đắc giải thoát.
Nghe lời giải đáp này,
Đế Thích hoan hỷ lạc.
Tỳ-kheo ban lợi ích,
Nói năng đúng nghĩa chân.
Trên Tỳ-xà-diên điện,
Hỡi Đế Thích thiên vương.
Cung điện tên gì vậy,
Mà Ông thủ thành trì?
Thích đáp: Đại Tiên nhân!
Tên Tỳ-xà-diên-đá.
Gọi là thế giới ngàn,
Ở trong ngàn thế giới;
Không cung điện nào hơn
Như Tỳ-la-diên-đá.
Thiên vương Thiên đế Thích,
Tự tại mà du hành.
Ái-lạc na-du-đá,
Hóa một thành trăm hàng.
Trong Tỳ-lan-diên điện,
Đế Thích tự tại chơi.
Tỳ-lan-diên đại điện,
Ngón chân đủ lung lay.
Thiên vương mắt xem thấy,
Đế Thích tự tại chơi.
Giảng đường Lộc tử mẫu,
Nền sâu, đắp kiên cố,
Khó động, khó lung lay,
Lay bởi định như ý.
Kia có đất lưu ly,
Thánh nhân bước lên đi
Trơn nhuần, cảm thọ lạc,
Trải gấm êm diệu kỳ.
Ái ngữ thường hòa hiệp,
Thiên vương thường hân hoan.
Nhạc trời hay khéo trỗi,
Âm tiết họa nhịp nhàng.
Thiên chúng đều hội tụ,
Nhưng thuyết Tu-đà-hoàn.
Biết mấy vô lượng ngàn,
Và hằng trăm na-thuật.
Đến Tam thập tam thiên,
Bậc Tuệ Nhãn thuyết pháp.
Nghe Ngài thuyết pháp xong,
Hoan hỷ và phụng hành.
Ta cũng có pháp ấy,
Như lời của Tiên nhân;
Tức lên cõi Đại phạm,
Hỏi Phạm thiên sự tình.
Phạm vẫn có thấy này:
Tức thấy có từ xưa,
Ta vĩnh tồn, thường tại,
Hằng hữu, không biến đổi.
Đại Phạm trả lời kia:
Đại tiên tôi không thấy,
Tức thấy có từ xưa,
Ta thường hằng không đổi.
Tôi thấy cảnh giới này,
Các Phạm thiên quá khứ;
Ta nay do đâu nói,
Thường hằng không biến đổi.
Ta thấy thế gian này,
Bậc Chánh Giác đã dạy.
Tùy nhân duyên sanh ra,
Luân chuyển rồi trở lại.
Lửa không nghĩ thế này:
“Ta đốt kẻ ngu dại”
Lửa đốt, ngu sờ tay,
Tất nhiên phải bị cháy.
Cũng vậy, Ma Ba-tuần,
Đến Như Lai pháp khuất,
Mãi làm điều bất thiện,
Tất thọ báo miên viễn.
Ngươi đừng trách Phật-đà,
Chớ hại Tỳ-kheo tịnh.
Một Tỳ-kheo hàng ma,
Tại Bố Lâm rừng già.
Con quỷ sầu áo não,
Bị Kiền-liên quở la.
Hãi hùng mất trí tuệ,
Biến mất bèn đi xa.

Tôn giả Đại Mục-kiền-liên thuyết như vậy. Ma Ba-tuần sau khi nghe Tôn giả thuyết, hoan hỷ phụng hành.

⏳ Đang tải MA132...

⚙️ Tùy Chỉnh Đọc