Chuyển đến nội dung chính

⚙️ Tùy Chỉnh Đọc

🎨 Giao diện
✍️ Kiểu chữ
NhỏLớn
ChặtRộng
📐 Bố cục
HẹpFull
SátRộng
Tam tạng Trung A-hàm
MA205 205. Kinh ngũ hạ phần kết
MA1 1. Kinh thiện pháp MA2 2. Kinh trú độ thọ MA3 3. Kinh thành dụ MA4 4. Kinh thủy dụ(1) MA5 5. Kinh mộc tích dụ MA6 6. Kinh thiện nhân vãng MA7 7. Kinh thế gian phước MA8 8. Kinh thất nhật MA9 9. Kinh thất xa MA10 10. Kinh lậu tận MA11 11. Kinh diêm dụ MA12 12. Kinh hòa-phá MA13 13. Kinh độ MA14 14. Kinh la-hầu-la MA15 15. Kinh tư MA16 16. Kinh già-lam MA17 17. Kinh già-di-ni MA18 18. Kinh sư tử MA19 19. Kinh ni-kiền MA20 20. Kinh ba-la-lao MA21 21. Kinh đẳng tâm MA22 22. Kinh thành tựu giới MA23 23. Kinh trí MA24 24. Kinh sư tử hống MA25 25. Kinh thủy dụ (2) MA26 26. Kinh cù-ni-sư MA27 27. Kinh phạm chí đà-nhiên MA28 28. Kinh giáo hóa bịnh MA29 29. Kinh đại câu-hi-la MA30 30. Kinh tượng tích dụ MA31 31. Kinh phân biệt thánh đế MA32 32. Kinh vị tằng hữu pháp MA33 33. Kinh thị giả MA34 34. Kinh bạc-câu-la MA35 35. Kinh a-tu-la MA36 36. Kinh địa động MA37 37. Kinh chiêm-ba MA38 ma38 MA39 ma39 MA40 ma40 MA41 ma41 MA42 42. Kinh hà nghĩa MA43 43. Kinh bất tư MA44 44. Kinh niệm MA45 ma45 MA46 ma46 MA47 ma47 MA48 ma48 MA49 ma49 MA50 ma50 MA51 51. Kinh bổn tế MA52 ma52 MA53 ma53 MA54 54. Kinh tận trí MA55 55. Kinh niết-bàn MA56 56. Kinh di-hê MA57 57. Kinh tức vị tỳ-kheo thuyết MA58 58. Kinh thất bảo MA59 59. Kinh tam thập nhị tướng MA60 60. Kinh tứ châu MA61 61. Kinh ngưu phấn dụ MA62 62. Kinh tần-tì-sa-la vương nghinh phật MA63 63. Kinh tì-bà-lăng-kỳ MA64 64. Kinh thiên sứ MA65 65. Kinh ô điểu dụ MA66 66. Kinh thuyết bổn MA67 67. Kinh đại thiên nại lâm MA68 68. Kinh đại thiện kiến vương MA69 69. Kinh tam thập dụ MA70 70. Kinh chuyển luân vương MA71 71. Kinh tì-tứ MA72 72. Kinh trường thọ vương bổn khởi MA73 73. Kinh thiên MA74 74. Kinh bát niệm MA75 75. Kinh tịnh bất động đạo MA76 76. Kinh úc-già-chi-la MA77 77. Kinh sa-kê-đế tam tộc tánh tử MA78 78. Kinh phạm thiên thỉnh phật MA79 79. Kinh hữu thắng thiên MA80 80. Kinh ca-hi-na MA81 81. Kinh niệm thân MA82 82. Kinh chi-ly-di-lê MA83 83. Kinh trưởng lão thượng tôn thụy miên MA84 84. Kinh vô thích MA85 85. Kinh chân nhân MA86 86. Kinh thuyết xứ MA87 87. Kinh uế phẩm MA88 88. Kinh cầu pháp MA89 89. Kinh tỳ-kheo thỉnh MA90 90. Kinh tri pháp MA91 91. Kinh chu-na vấn kiến MA92 92. Kinh thanh bạch liên hoa dụ MA93 93. Kinh thủy tịnh phạm chí MA94 94. Kinh hắc tỳ-kheo MA95 95. Kinh trụ pháp MA96 96. Kinh vô MA97 97. Kinh đại nhân MA98 98. Kinh niệm xứ MA99 ma99 MA100 ma100 MA101 101. Kinh tăng thượng tâm MA102 102. Kinh niệm MA103 103. Kinh sư tử hống MA104 104. Kinh ưu-đàm-bà-la MA105 105. Kinh nguyện MA106 106. Kinh tưởng MA107 ma107 MA108 ma108 MA109 ma109 MA110 ma110 MA111 111. Kinh đạt phạm hạnh MA112 112. Kinh a-nô-ba MA113 113. Kinh chư pháp bổn MA114 114. Kinh ưu-đà-la MA115 115. Kinh mật hoàn dụ MA116 116. Kinh cù-đàm-di MA117 117. Kinh nhu nhuyến MA118 118. Kinh long tượng MA119 119. Kinh thuyết xứ MA120 120. Kinh thuyết vô thường MA121 121. Kinh thỉnh tỉnh MA122 122. Kinh chiêm-ba MA123 123. Kinh sa-môn nhị thập ức MA124 124. Kinh bát nạn MA125 125. Kinh bần cùng MA126 126. Kinh hành dục MA127 127. Kinh phước điền MA128 128. Kinh ưu-bà-tắc MA129 129. Kinh oán gia MA130 130. Kinh giáo MA131 131. Kinh hàng ma MA132 132. Kinh lại-tra-hòa-la MA133 133. Kinh ưu-ba-ly MA134 134. Kinh thích vấn MA135 135. Kinh thiện sanh MA136 136. Kinh thương nhân cầu tài MA137 137. Kinh thế gian MA138 138. Kinh phước MA139 139. Kinh tức chỉ đạo MA140 140. Kinh chí biên MA141 141. Kinh dụ MA142 142. Kinh vũ thế MA143 143. Kinh thương-ca-la MA144 144. Kinh toán số mục-kiền-liên MA145 145. Kinh cù-mặc mục-kiền-liên MA146 146. Kinh tượng tích dụ MA147 147. Kinh văn đức MA148 148. Kinh hà khổ MA149 149. Kinh hà dục MA150 150. Kinh uất-sấu-ca-la MA151 151. Kinh phạm chí a-nhiếp-hòa MA152 152. Kinh anh vũ (1) MA153 153. Kinh man-nhàn-đề MA154 154. Kinh bà-la-bà đường MA155 155. Kinh tu-đạt-đa MA156 156. Kinh phạm ba-la-diên MA157 157. Kinh hoàng lô viên MA158 158. Kinh đầu-na MA159 159. Kinh a-già-la-ha-na MA160 160. Kinh a-lan-na MA161 161. Kinh phạm-ma MA162 162. Kinh phân biệt lục giới MA163 163. Kinh phân biệt lục xứ MA164 164. Kinh phân biệt quán pháp MA165 165. Kinh ôn tuyền lâm thiên MA166 166. Kinh thích trung thiền thất tôn MA167 167. Kinh a-nan thuyết MA168 168. Kinh ý hành MA169 169. Kinh câu-lâu-sấu vô tránh MA170 170. Kinh anh vũ (2) MA171 171. Kinh phân biệt đại nghiệp MA172 172. Kinh tâm MA173 173. Kinh phù-di MA174 ma174 MA175 ma175 MA176 176. Kinh hành thiền MA177 177. Kinh thuyết MA178 178. Kinh lạp sư MA179 179. Kinh ngũ chi vật chủ MA180 180. Kinh cù-đàm-di MA181 181. Kinh đa giới MA182 ma182 MA183 ma183 MA184 ma184 MA185 ma185 MA186 186. Kinh cầu giải MA187 187. Kinh thuyết trí MA188 188. Kinh a-di-na MA189 189. Kinh thánh đạo MA190 190. Kinh tiểu không MA191 191. Kinh đại không MA192 192. Kinh ca-lâu-ô-đà-di MA193 193. Kinh mâu-lê-phá-quần-na MA194 194. Kinh bạt-đà-hòa-lợi MA195 195. Kinh a-thấp-bối MA196 196. Kinh châu-na MA197 197. Kinh ưu-ba-ly MA198 198. Kinh điều ngự địa MA199 199. Kinh si tuệ địa MA200 200. Kinh a-lê-tra MA201 201. Kinh trà-đế MA202 202. Kinh trì trai MA203 203. Kinh bô-đa-lị MA204 204. Kinh la-ma MA205 205. Kinh ngũ hạ phần kết MA206 206. Kinh tâm uế MA207 ma207 MA208 ma208 MA209 209. Kinh tì-ma-na-tu MA210 210. Kinh tỳ-kheo-ni pháp lạc MA211 211. Kinh đại câu-hy-la MA212 212. Kinh nhất thiết trí MA213 213. Kinh pháp trang nghiêm MA214 214. Kinh tì-ha-đề MA215 215. Kinh đệ nhất đắc MA216 216. Kinh ái sanh MA217 217. Kinh bát thành MA218 ma218 MA219 ma219 MA220 220. Kinh kiến MA221 221. Kinh tiễn dụ MA222 222. Kinh lệ
MA205

205. Kinh ngũ hạ phần kết

Tôi nghe như vầy:

Một thời Phật trú tại nước Xá-vệ, trong rừng Thắng Lâm, vườn Cấp Cô Độc.

Bấy giờ Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo rằng:

“Ta đã từng nói năm hạ phần kết, các ngươi có thọ trì chăng?”

Các Tỳ-kheo im lặng không trả lời. Thế Tôn lại hỏi đến lần thứ ba:

“Ta đã từng nói năm hạ phần kết, các ngươi có thọ trì chăng?”

Các Tỳ-kheo im lặng không trả lời đến lần thứ ba. Lúc bấy giờ Tôn giả Man Đồng tử, từ chỗ ngồi đứng dậy, chắp tay hướng về Phật bạch rằng:

“Thế Tôn đã từng nói năm hạ phần kết. Con có thọ trì.”

Thế Tôn hỏi:

“Này Man Đồng tử, Ta đã từng nói năm hạ phần kết, ngươi có thọ trì chăng?”

Tôn giả Man Đồng tử đáp:

“Thế Tôn nói dục là hạ phần kết thứ nhất, con thọ trì như vậy. Nhuế, thân kiến, giới thủ và nghi, Thế Tôn nói nghi là hạ phần kết thứ năm, con thọ trì như vậy.”

Thế Tôn quở rằng:

“Man Đồng tử, ngươi sao lại thọ trì rằng Ta nói năm hạ phần kết như vậy? Man Đồng tử, ngươi nghe từ miệng ai mà thọ trì rằng Ta nói năm hạ phần kết như vậy?”

“Này Man Đồng tử, há không phải số đông các người Dị học cật vấn chỉ trích ngươi với thí dụ về trẻ nít sơ sanh này chăng? Này Man Đồng tử, con nít mới sanh mềm yếu, nằm ngủ, trong ý còn không có ý tưởng về dục tưởng, há lại có quấn chặt nơi dục chăng? Nhưng kết sử nằm trong bản tính của chúng nên nói là dục tùy miên. Này Man Đồng tử, con nít mới sanh, mềm yếu, nằm ngửa mà ngủ, ý tưởng về chúng sanh còn không có, há lại có tâm bị quấn chặt nơi sân nhuế chăng? Nhưng do kết sử nằm trong bản tính của nó, nên nói là nhuế tùy miên. Này Man Đồng tử, con nít mới sanh mềm yếu, nằm ngửa mà ngủ, ý tưởng về tự thân còn không có, há lại có quấn chặt nơi thân chăng? Nhưng do kết sử ở nơi bản tính của nó nói là thân kiến tùy miên. Này Man Đồng tử, con nít mới sanh mềm yếu, nằm ngửa mà ngủ, ý tưởng về giới còn không có há lại có tâm quấn chặt nơi giới chăng? Nhưng do kết sử nơi bản tính của nó nên nói là giới thủ tùy miên. Này Man Đồng tử, con nít mới sanh mềm yếu, ý tưởng về pháp còn không có, há lại có tâm quấn chặt nơi pháp chăng? Nhưng do kết sử nơi bản tính của nó nên nói là nghi tùy miên. Há không phải số đông các dị học đem thí dụ con nít mới sanh này mà chỉ trích cật vấn ngươi chăng?”

Lúc bấy giờ, Tôn giả Man Đồng tử bị Thế Tôn quở trách ngay mặt, trong lòng rầu rĩ, cúi đầu im lặng, không còn lời lẽ biện bạch, suy nghĩ mông lung. Thế Tôn sau khi mắng Tôn giả Man Đồng tử ngay mặt rồi, ngồi im lặng. Lúc ấy Tôn giả A-nan đứng sau Thế Tôn, cầm quạt quạt Phật. Rồi Tôn giả A-nan chắp tay hướng về Đức Phật, bạch:

“Bạch Thế Tôn, hôm nay thật đúng lúc, bạch Thiện Thệ, nay thật đúng lúc, nếu Thế Tôn nói cho các Tỳ-kheo nghe năm hạ phần kết. Các Tỳ-kheo sau khi nghe Thế Tôn dạy sẽ khéo léo thọ trì.”

Thế Tôn nói:

“Này A-nan, hãy lắng nghe, hãy khéo tư niệm!”

Tôn giả A-nan bạch Phật:

“Xin vâng lời lắng nghe.”

Phật nói:

“A-nan, ở đây có một hạng người bị dục quấn chặt. Dục tâm sanh rồi mà không biết như thật về sự xả ly; do không biết như thật về sự xả ly, nên tham dục càng tăng thạnh, không thể chế trừ. Đó là hạ phần kết.

“A-nan, ở đây có một hạng người bị nhuế quấn chặt. Nhuế tâm sanh rồi mà không biết như thật về sự xả ly. Do không biết như thật xả ly sân nhuế càng tăng thạnh, không thể chế trừ. Đó là hạ phần kết.

“A-nan, ở đây có một hạng người bị thân kiến quấn chặt. Thân kiến tâm sanh rồi mà không biết như thật về sự xả ly. Do không biết như thật xả ly, thân kiến càng tăng thạnh, không thể chế trừ. Đó là hạ phần kết.

“A-nan, ở đây có một hạng người bị giới thủ quấn chặt. Giới thủ tâm sanh rồi mà không biết như thật về sự xả ly. Do không biết như thật xả ly, giới thủ càng tăng thạnh. Không thể chế trừ. Đó là hạ phần kết.

“A-nan, ở đây có một hạng người bị nghi quấn chặt. Nghi tâm sanh rồi mà không biết như thật về sự xả ly, nghi càng tăng thạnh. Không thể chế trừ. Đó là hạ phần kết.

“Này A-nan, y trên đạo, y trên đạo tích để đoạn trừ năm hạ phần kết. Nếu không y trên đạo này, không y trên đạo tích này mà đoạn trừ được năm hạ phần kết, trường hợp này không thể có.

“A-nan, cũng như có người muốn tìm lõi cây chắc thật. Vì để tìm lõi cây chắc thật nên y xách búa vào rừng. Người ấy thấy một gốc cây đã đầy đủ rễ, thân, cành, lá và lõi. Nhưng nếu người ấy không chặt nơi rễ nơi thân mà tìm được cái gì chắc thật mang về, trường hợp này không thể có. Cũng vậy, này A-nan, phải y trên đạo, y trên đạo tích để đoạn trừ năm hạ phần kết. Nếu không y trên đạo này, không y trên tích này mà đoạn trừ được năm hạ phần kết, trường hợp này không thể có.

“Này A-nan, y trên đạo, y trên đạo tích để đoạn trừ năm hạ phần kết. Nếu ai y trên đạo này, y trên tích này mà đoạn trừ năm hạ phần kết, trường hợp này tất có.

“A-nan, cũng như một người muốn tìm lõi cây chắc thật. Vì để tìm lõi cây chắc thật, y xách búa vào rừng. Người ấy thấy một gốc cây đã đầy đủ rễ, thân, cành, và lá với lõi. Nếu người ấy chặt nơi rễ, nơi thân và được cái chắc thật để mang về, trường hợp này chắc có. Cũng vậy này A-nan, y trên đạo và y trên tích để đoạn trừ năm hạ phần kết. Nếu ai y trên đạo này và y trên tích này mà đoạn trừ được năm hạ phần kết trường hợp này tất có.

“Này A-nan, y trên đạo nào, y trên tích nào để đoạn trừ năm hạ phần kết? A-nan, hoặc có một hạng người bị dục quấn chặt. Nếu dục triền đã sanh, liền biết như thật về sự xả ly; biết như thật về sự xả ly rồi dục triền nơi người ấy liền diệt. A-nan, ở đây một người bị nhuế quấn chặt; nếu nhuế triền phát sanh, liền biết như thật về sự xả ly. Nếu biết như thật về sự xả ly rồi, nhuế triền nơi người ấy liền diệt. A-nan ở đây có một người bị thân kiến quấn chặt. Nếu thân kiến đã quấn chặt, liền biết như thật về sự xả ly. Biết như thật về sự xả ly rồi, thân kiến triền nơi người ấy liền diệt. A-nan, ở đây có một người bị giới thủ quấn chặt. Nếu giới thủ triền đã sanh, liền biết như thật về sự xả ly. Biết như thật về sự xả ly rồi, giới thủ triền nơi người ấy liền diệt. A-nan, ở đây một người bị nghi quấn chặt, nếu nghi triền đã sanh, liền biết như thật về sự xả ly. Biết như thật về sự xả ly rồi, nghi triền nơi người ấy liền diệt.

“Này A-nan, y trên đạo này, y trên đạo tích này mà đoạn trừ năm hạ phần kết.

“Này A-nan, cũng như sông Hằng-già với nước chảy tràn lên bờ. Nếu có một người đến, có công việc ở bờ bên kia nên muốn qua sông. Người ấy suy nghĩ rằng, ‘Sông Hằng-già này nước chảy tràn lên bờ. Ta có công việc bờ bên kia nên muốn qua sông. Nhưng tự thân ta không đủ sức để bình an lội sang bờ bên kia.’ A-nan, nên biết rằng người ấy không đủ sức. Cũng vậy, này A-nan, nếu ai đối với sự chứng giác, với tịch diệt, với Niết-bàn mà tâm không thú hướng, không thanh tịnh, không trụ nơi giải thoát; A-nan, nên biết người ấy cũng giống như người gầy yếu không sức lực kia.

“A-nan, cũng như sông Hằng-già với nước chảy tràn lên bờ. Nếu có một người đến, có công việc ở bờ bên kia nên muốn qua sông. Người ấy nghĩ rằng, ‘Sông Hằng-già này với nước chảy tràn lên bờ. Ta có công việc ở bờ bên kia. Tự thân ta đủ sức để bình an lội qua bờ bên kia.’ A-nan, nên biết rằng người ấy đủ sức. Cũng vậy, này A-nan, nếu ai đối với sự chứng giác, với tịch diệt, với Niết-bàn, mà có tâm thú hướng, thanh tịnh mà trụ nơi giải thoát; A-nan, nên biết, người này cũng như người có sức lực kia.

“Này A-nan, cũng giống như giòng nước lũ rất sâu, rất rộng, chảy xiết, cuốn trôi nhiều thứ, mà ở quãng giữa không thuyền, không cầu, giả sử có một người đến, có công việc ở bờ bên kia, nên tìm cách để qua. Khi tìm cách để qua, người ấy nghĩ rằng, ‘Nay giòng nước lũ này rất sâu, rất rộng, chảy xiết, cuốn trôi mọi thứ, ở khoảng giữa lại không có thuyền, không cầu để có thể qua. Với phương tiện để ta có thể bình an sang bờ bên kia. Ta có công việc ở bờ bên kia cần đi qua. Với phương tiện nào để ta có thể bình an qua bờ bên kia?’ Rồi người ấy lại nghĩ rằng, ‘Bây giờ ở bờ bên này ta hãy thu lượm cỏ, cây buộc lại mà làm chiếc bè để bơi sang.’ Người ấy bèn ở bên này thu lượm cỏ cây buộc lại làm thành chiếc bè, rồi bình an bơi sang bờ bên kia. Cũng vậy, này A-nan, Tỳ-kheo phan duyên vào sự yểm ly, y trên sự yểm ly, an trụ nơi yểm ly, do làm an tịnh thân ác, do tâm nhập ly định, ly dục, ly ác bất thiện pháp, có tầm có tứ, có hỷ lạc do ly dục sanh, chứng đắc Sơ thiền thành tựu an trụ. Vị ấy y trên xứ này mà quán sát sự hưng suy của thọ. Vị ấy y trên xứ này mà quán sát sự hưng suy của thọ rồi, an trụ nơi đó, tất chứng đắc lậu tận. Giả sử trụ nơi đó mà không chứng đắc lậu tận, tất sẽ thăng tiến và đạt đến tịch tịnh xứ.

“Rồi vị ấy tầm tứ tịch tịnh, nội tĩnh, nhất tâm, không tầm không tứ, hỷ lạc do định sanh, chứng đắc Nhị thiền, thành tựu an trụ. Vị ấy y trên xứ này mà quán sát sự hưng suy của thọ. Vị ấy sau khi y trên xứ này mà quán sát sự hưng suy của thọ rồi, an trụ nơi đó tất chứng đắc lậu tận. Giả sử an trụ nơi đó mà không chứng đắc lậu tận, tất sẽ thăng tiến và đạt đến tịch tịnh xứ.

“Thế nào là thăng tiến và đạt đến tịch tịnh xứ? Vị ấy ly hỷ dục, an trụ xả vô cầu, với chánh niệm chánh trí, thân cảm thọ lạc, điều mà Thánh nói là Thánh xả, với niệm an trú lạc, chứng đắc Tam thiền, thành tựu an trụ. Vị ấy y trên xứ này mà quán sát sự hưng suy của thọ. Vị ấy sau khi y trên xứ này mà quán sát sự hưng suy của thọ rồi, an trụ nơi đó tất chứng đắc lậu tận. Giả sử an trụ nơi đó mà không chứng đắc lậu tận, tất sẽ thăng tiến và đạt đến Tịch tịnh xứ.

“Thế nào là thăng tiến và đạt đến tịch tịnh xứ? Vị ấy diệt lạc, diệt khổ, ưu hỷ vốn cũng đã diệt, không lạc, không khổ, xả niệm thanh tịnh, chứng đắc đệ Tứ thiền, thành tựu an trụ. Vị ấy y trên xứ này mà quán sát sự hưng suy của thọ. Vị ấy sau khi y trên xứ này mà quán sát sự hưng suy của thọ rồi, an trụ nơi đó tất chứng đắc lậu tận. Giả sử an trụ nơi đó mà không chứng đắc lậu tận, tất sẽ thăng tiến và đạt đến tịch tịnh xứ.

“Thế nào là thăng tiến và đạt đến tịch tịnh xứ? Vị ấy vượt qua tất cả sắc tưởng, diệt hữu đối tưởng, không suy niệm đến bất cứ loại tưởng nào, nhập không vô biên, chứng không vô biên xứ, thành tựu an trụ. Vị ấy y trên xứ này mà quán sát sự hưng suy của thọ. Vị ấy sau khi y trên xứ này mà quán sát sự hưng suy của thọ rồi, an trụ nơi đó tất chứng đắc lậu tận. Giả sử an trụ nơi đó mà không chứng đắc lậu tận tất sẽ thăng tiến và đạt đến tịch tịnh xứ.

“Thế nào là thăng tiến và đạt đến tịch tịnh xứ? Vị ấy vượt qua tất cả không vô biên xứ, nhập thức vô biên, chứng thức vô biên xứ, thành tựu an trụ. Vị ấy y trên xứ này mà quán sát sự hưng suy của thọ. Vị ấy sau khi y trên xứ này mà quán sát sự hưng suy của thọ rồi, an trụ nơi đó tất chứng đắc lậu tận. Giả sử an trụ nơi đó mà không chứng đắc lậu tận, tất sẽ thăng tiến và đạt đến tịch tịnh xứ.

“Thế nào là thăng tiến và đạt đến tịch tịnh xứ? Vị ấy vượt qua tất cả thức vô biên xứ, nhập vô sở hữu, chứng vô sở hữu xứ, thành tựu an trụ. Nơi vị ấy nếu có những cảm thọ nào, hoặc lạc, khổ, hoặc không lạc, không khổ, vị ấy quán sát cảm thọ này là vô thường, quán hưng suy, quán vô dục, quán diệt, quán đoạn, quán xả. Vị ấy sau khi như vậy quán thọ này là vô thường, quán hưng suy, quán vô dục, quán diệt, quán đoạn, quán xả rồi, liền không còn chấp thủ đối với thế gian này. Sau khi không còn chấp thủ đối với thế gian này, liền không sợ hãi. Do không sợ hãi mà nhập Niết-bàn. Biết như thật ‘Sự sanh đã dứt, phạm hạnh đã vững, việc cần làm đã làm xong, không còn tái sanh nữa.’

“Cũng như cách thôn không xa có một bụi chuối to lớn, nếu có một người xách búa đến đốn ngã cây chuối, xẻ thành mảnh, xả làm mười phần, hoặc làm trăm phần. Sau khi xả làm mười phần hoặc trăm phần rồi, bèn vạch từng sợi, nhưng mắt chuối không tìm thấy, há lại tìm thấy lõi được sao? A-nan, cũng vậy, Tỳ-kheo nếu có những cảm thọ nào, hoặc lạc, hoặc khổ, hoặc không khổ không lạc, vị ấy quán cảm thọ này là vô thường, quán hưng suy, quán vô dục, quán diệt, quán đoạn, quán xả. Vị ấy sau khi như vậy, quán sát thọ này là vô thường, quán hưng suy, quán vô dục, quán diệt, quán đoạn quán xả rồi, liền không còn chấp thủ đối với thế gian này. Sau khi không còn chấp thủ đối với thế gian này, liền không sợ hãi. Do không sợ hãi mà nhập Niết-bàn. Biết như thật rằng ‘Sự sanh đã dứt, phạm hạnh đã vững, việc cần làm đã làm xong, không còn tái sanh nữa.’”

Lúc bấy giờ Tôn giả A-nan chắp tay hướng về Đức Phật mà bạch:

“Bạch Thế Tôn! Kỳ lạ thay! Hy hữu thay! Thế Tôn vì các Tỳ-kheo y trên y, thiết lập y, giảng thuyết về sự xả ly lậu, nói về sự vượt qua lậu. Nhưng các Tỳ-kheo không nhanh chóng chứng đắc vô thượng, nghĩa là đạt đến cứu cánh diệt tận.”

Thế Tôn nói:

“Thật vậy, A-nan! Thật vậy, A-nan! Thật là kỳ lạ. Thật là hy hữu, Ta vì các Tỳ-kheo, y trên y, thiết lập y, nói về sự xả ly lậu, nói về sự vượt qua lậu. Nhưng các Tỳ-kheo không nhanh chóng vượt chứng đắc vô thượng, nghĩa là đạt đến cứu cánh diệt tận. Vì sao vậy? Vì sự thắng liệt nơi mỗi người cho nên sự tu học có tinh, có thô. Do sự tu học đạo có tinh có thô, cho nên mỗi người có sự thắng liệt khác nhau. A-nan, vì vậy Ta nói mỗi người có sự thắng liệt khác nhau.”

Phật thuyết như vậy. Tôn giả A-nan và các Tỳ-kheo sau khi nghe Phật thuyết, hoan hỷ phụng hành.

⏳ Đang tải MA206...

⚙️ Tùy Chỉnh Đọc