Tôi nghe như vầy:
Một thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:
“Nếu có Sa-môn, Bà-la-môn nào tập cận với sắc, bị ma chi phối, rơi vào tay ma, theo ước muốn của ma, bị ma trói buộc, không thoát ra khỏi sợi dây trói của ma. Đối với thọ, tưởng, hành, thức lại cũng như vậy. Nếu Sa-môn, Bà-la-môn nào không tập cận sắc, thì những Sa-môn, Bà-la-môn ấy không không bị ma chi phối, không rơi vào tay ma, không chạy theo ước muốn của ma, sẽ không bị ma trói buộc, thoát sợi dây trói của ma. Đối với thọ, tưởng, hành, thức lại cũng như vậy.”
Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Đức Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.
Cũng như kinh “Tập cận”, các kinh sau đây có nội dung giống vậy:
- Tập trước giả (quen thói đam mê),
- Vị giả (hảo vị ngọt),
- Quyết định trước giả (đam mê thành tánh cố định),
- Chỉ giả (dừng nghỉ),
- Sử giả (sai sử),
- Vãng giả (đi đến),
- Tuyển trạch giả (lựa chọn),
- Bất xả (không xả),
- Bất thổ (không nhả ra),
“Những Sa-môn, Bà-la-môn nào như vậy không bị ma chi phối” như nói ở kinh trên. Như đã nói ở trên.
如是我聞:
一時,佛住舍衛國祇樹給孤T 0041b26獨園。
爾時,世尊告諸比丘:「若沙門、婆羅門T 0041b27習於色者,隨魔自在,入於魔手,隨魔所T 0041b28欲,為魔所縛,不脫魔繫。受、想、行、識亦復T 0041b29如是。若沙門、婆羅門不習色。如是沙門、婆T 0041c01羅門不隨魔自在,不入魔手,不隨魔所T 0041c02欲,解脫魔縛,解脫魔繫。」
佛說是經已,諸T 0041c03比丘聞佛所說,歡喜奉行。
T 0041c04如是,習近者、習著者、味者、決定著者、止者、T 0041c05使者、往者、撰擇者、不捨者、不吐者,如是T 0041c06等沙門、婆羅門隨魔自在,如上說。
T 0041c07 Thus have I heard. At one time the Buddha was staying at Sāvatthī in Jeta's Grove, Anāthapiṇḍika's Park.
At that time the Blessed One said to the monks: “If a recluse or Brahmin becomes habituated to bodily form, he follows Māra's power, falls into Māra's hand, follows Māra's wishes, is bound by Māra, and is not free from Māra's fetters. Feeling … perception … formations … consciousness is also like this.
“If a recluse or Brahmin does not become habituated to bodily form, then in this way the recluse or Brahmin does not follow Māra's power, does not fall into Māra's hand, does not follow Māra's wishes, is free from being bound by Māra, and is free from Māra's fetters. Feeling … perception … formations … consciousness is also like this.”
When the Buddha had spoken this discourse, hearing what the Buddha had said the monks were delighted and received it respectfully.
In the same way “one who becomes habituated to drawing close to it”, “one who becomes habituated to being attached to it”, “one who is gratified by it”, “one who is resolved on and attached to it”, “one who rests with it”, “one who has an underlying tendency for it”, “one who approaches it”, “one who opts for it”, “one who does not give it up”, “one who does not vomit it out”. In this way a recluse or Brahmin follows Māra's power … as said above.
Tôi nghe như vầy:
Một thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:
“Nếu có Sa-môn, Bà-la-môn nào tập cận với sắc, bị ma chi phối, rơi vào tay ma, theo ước muốn của ma, bị ma trói buộc, không thoát ra khỏi sợi dây trói của ma. Đối với thọ, tưởng, hành, thức lại cũng như vậy. Nếu Sa-môn, Bà-la-môn nào không tập cận sắc, thì những Sa-môn, Bà-la-môn ấy không không bị ma chi phối, không rơi vào tay ma, không chạy theo ước muốn của ma, sẽ không bị ma trói buộc, thoát sợi dây trói của ma. Đối với thọ, tưởng, hành, thức lại cũng như vậy.”
Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Đức Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.
Cũng như kinh “Tập cận”, các kinh sau đây có nội dung giống vậy:
- Tập trước giả (quen thói đam mê),
- Vị giả (hảo vị ngọt),
- Quyết định trước giả (đam mê thành tánh cố định),
- Chỉ giả (dừng nghỉ),
- Sử giả (sai sử),
- Vãng giả (đi đến),
- Tuyển trạch giả (lựa chọn),
- Bất xả (không xả),
- Bất thổ (không nhả ra),
“Những Sa-môn, Bà-la-môn nào như vậy không bị ma chi phối” như nói ở kinh trên. Như đã nói ở trên.
Thus have I heard. At one time the Buddha was staying at Sāvatthī in Jeta's Grove, Anāthapiṇḍika's Park.
At that time the Blessed One said to the monks: “If a recluse or Brahmin becomes habituated to bodily form, he follows Māra's power, falls into Māra's hand, follows Māra's wishes, is bound by Māra, and is not free from Māra's fetters. Feeling … perception … formations … consciousness is also like this.
“If a recluse or Brahmin does not become habituated to bodily form, then in this way the recluse or Brahmin does not follow Māra's power, does not fall into Māra's hand, does not follow Māra's wishes, is free from being bound by Māra, and is free from Māra's fetters. Feeling … perception … formations … consciousness is also like this.”
When the Buddha had spoken this discourse, hearing what the Buddha had said the monks were delighted and received it respectfully.
In the same way “one who becomes habituated to drawing close to it”, “one who becomes habituated to being attached to it”, “one who is gratified by it”, “one who is resolved on and attached to it”, “one who rests with it”, “one who has an underlying tendency for it”, “one who approaches it”, “one who opts for it”, “one who does not give it up”, “one who does not vomit it out”. In this way a recluse or Brahmin follows Māra's power … as said above.