Tôi nghe như vầy:
Một thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:
“Tất cả đều vô thường. Thế nào là tất cả đều vô thường? Mắt là vô thường. Sắc, nhãn thức, nhãn xúc và thọ với cảm thọ khổ, cảm thọ lạc, hay cảm thọ không khổ không lạc, phát sanh bởi nhân duyên là nhãn xúc, tất cả chúng đều là vô thường. Đối với tai, mũi, lưỡi, thân, ý lại cũng như vậy.
“Đa văn Thánh đệ tử quán sát như vậy thì đối với mắt sẽ sanh nhàm tởm. Đối với sắc, nhãn thức, nhãn xúc và thọ với cảm thọ khổ, cảm thọ lạc, hay cảm thọ không khổ không lạc, phát sanh bởi nhân duyên là nhãn xúc, đối với chúng cũng sanh nhàm tởm. Đối với tai, mũi, lưỡi, thân, ý và thanh, hương, vị, xúc, pháp, ý thức, ý xúc và thọ với cảm thọ khổ, cảm thọ lạc, hay cảm thọ không khổ không lạc, phát sanh bởi nhân duyên là ý xúc, đối với tất cả chúng cũng sanh nhàm tởm. Do nhàm tởm nên không ái lạc, do không ái lạc nên được giải thoát, giải thoát tri kiến, biết rằng: ‘Ta, sự sanh đã dứt, phạm hạnh đã lập, những gì cần làm đã làm xong, tự biết không còn tái sanh đời sau nữa.’”
Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Đức Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.
Như kinh nói về “vô thường,” các kinh nói về “khổ, không, phi ngã” cũng nói như trên vậy.
如是我聞:
一時,佛住舍衛國祇樹給T 0050a12孤獨園。
爾時,世尊告諸比丘:「一切無常。云何T 0050a13一切無常?謂眼無常,若色、眼識、眼觸,若眼觸T 0050a14因緣生受,苦覺、樂覺、不苦不樂覺,彼亦無常。T 0050a15耳、鼻、舌、身、意亦復如是。多聞聖弟子如是T 0050a16觀者,於眼生厭,若色、眼識、眼觸、眼觸因緣T 0050a17生受,苦覺、樂覺、不苦不樂覺,於彼生厭。耳、T 0050a18鼻、舌、身、意,聲、香、味、觸、法、意識、意觸、意觸因緣T 0050a19生受,苦覺、樂覺、不苦不樂覺,彼亦生厭,厭T 0050a20故不樂,不樂故解脫,解脫知見:『我生已盡,T 0050a21梵行已立,所作已作,自知不受後有。』」
佛說T 0050a22此經已,諸比丘聞佛所說,歡喜奉行。
T 0050a23如無常經,如是苦、空、無我,亦如是說。
T 0050a24 Thus have I heard. At one time the Buddha was staying at Sāvatthī in Jeta’s Grove, Anāthapiṇḍika’s Park.
At that time the Blessed One said to the monks: “All is impermanent. What is all that is impermanent? That is, the eye is impermanent, forms, eye-consciousness, eye-contact, and feeling arisen in dependence on eye-contact, be it painful feeling, pleasant feeling, or neutral feeling, that is also impermanent.
“The ear … the nose … the tongue … the body … the mind is also like this.
“A learned noble disciple who contemplates like this gives rise to disenchantment for the eye, and gives rise to disenchantment for forms, eye-consciousness, eye-contact, and feeling arisen in dependence on eye-contact, be it painful feeling, pleasant feeling, or neutral feeling.
“He gives also rise to disenchantment for the ear … the nose … the tongue … the body … the mind, and for sounds … odours … flavours … tangibles … mental objects … mind-consciousness, mind-contact, and feeling arisen in dependence on mind-contact, be it painful feeling, pleasant feeling, or neutral feeling.
“Because of being disenchanted, he does not delight in it. Because of not delighting in it, he is liberated. Being liberated, he knows and sees: ‘Birth for me has been eradicated, the holy life has been established, what had to be done has been done, I myself know that there will be no receiving of any further existence.’”
When the Buddha had spoken this discourse, hearing what the Buddha had said the monks were delighted and received it respectfully.
As with the discourse on being impermanent, in the same way also [discourses] are to be recited in this way for being dukkha, empty, and not-self.
Tôi nghe như vầy:
Một thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:
“Tất cả đều vô thường. Thế nào là tất cả đều vô thường? Mắt là vô thường. Sắc, nhãn thức, nhãn xúc và thọ với cảm thọ khổ, cảm thọ lạc, hay cảm thọ không khổ không lạc, phát sanh bởi nhân duyên là nhãn xúc, tất cả chúng đều là vô thường. Đối với tai, mũi, lưỡi, thân, ý lại cũng như vậy.
“Đa văn Thánh đệ tử quán sát như vậy thì đối với mắt sẽ sanh nhàm tởm. Đối với sắc, nhãn thức, nhãn xúc và thọ với cảm thọ khổ, cảm thọ lạc, hay cảm thọ không khổ không lạc, phát sanh bởi nhân duyên là nhãn xúc, đối với chúng cũng sanh nhàm tởm. Đối với tai, mũi, lưỡi, thân, ý và thanh, hương, vị, xúc, pháp, ý thức, ý xúc và thọ với cảm thọ khổ, cảm thọ lạc, hay cảm thọ không khổ không lạc, phát sanh bởi nhân duyên là ý xúc, đối với tất cả chúng cũng sanh nhàm tởm. Do nhàm tởm nên không ái lạc, do không ái lạc nên được giải thoát, giải thoát tri kiến, biết rằng: ‘Ta, sự sanh đã dứt, phạm hạnh đã lập, những gì cần làm đã làm xong, tự biết không còn tái sanh đời sau nữa.’”
Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Đức Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.
Như kinh nói về “vô thường,” các kinh nói về “khổ, không, phi ngã” cũng nói như trên vậy.
Thus have I heard. At one time the Buddha was staying at Sāvatthī in Jeta’s Grove, Anāthapiṇḍika’s Park.
At that time the Blessed One said to the monks: “All is impermanent. What is all that is impermanent? That is, the eye is impermanent, forms, eye-consciousness, eye-contact, and feeling arisen in dependence on eye-contact, be it painful feeling, pleasant feeling, or neutral feeling, that is also impermanent.
“The ear … the nose … the tongue … the body … the mind is also like this.
“A learned noble disciple who contemplates like this gives rise to disenchantment for the eye, and gives rise to disenchantment for forms, eye-consciousness, eye-contact, and feeling arisen in dependence on eye-contact, be it painful feeling, pleasant feeling, or neutral feeling.
“He gives also rise to disenchantment for the ear … the nose … the tongue … the body … the mind, and for sounds … odours … flavours … tangibles … mental objects … mind-consciousness, mind-contact, and feeling arisen in dependence on mind-contact, be it painful feeling, pleasant feeling, or neutral feeling.
“Because of being disenchanted, he does not delight in it. Because of not delighting in it, he is liberated. Being liberated, he knows and sees: ‘Birth for me has been eradicated, the holy life has been established, what had to be done has been done, I myself know that there will be no receiving of any further existence.’”
When the Buddha had spoken this discourse, hearing what the Buddha had said the monks were delighted and received it respectfully.
As with the discourse on being impermanent, in the same way also [discourses] are to be recited in this way for being dukkha, empty, and not-self.