Tôi nghe như vầy:
Một thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:
“Kế chấp là bệnh, kế chấp là ung nhọt, kế chấp là gai nhọn. Như Lai vì không trụ kế chấp nên xa lìa bệnh, xa lìa ung nhọt, xa lìa gai nhọn. Cho nên này các Tỳ-kheo, nếu muốn cầu không trụ kế chấp, để xa lìa bệnh, xa lìa ung nhọt, xa lìa gai nhọn, thì Tỳ-kheo các ông chớ kế chấp mắt là ngã, là ngã sở, chớ kế chấp tương thuộc của mắt; chớ chấp sắc, nhãn thức và cảm thọ với khổ thọ, lạc thọ và phi khổ phi lạc thọ được cảm thọ bên trong phát sanh bởi nhân duyên nhãn xúc, cũng không chấp cho là ngã, là ngã sở, hay ở trong nhau. Đối với tai, mũi, lưỡi, thân, ý lại cũng như vậy.
Này các Tỳ-kheo, người nào không chấp như vậy, đối với mắt sẽ không có gì để chấp giữ. Vì không có gì để giữ, nên không có gì để đắm nhiễm. Vì không có gì để đắm nhiễm nên tự mình giác ngộ Niết-bàn: ‘Ta, sự sanh đã dứt, phạm hạnh đã lập, những gì cần làm đã làm xong, tự biết không còn tái sanh đời sau nữa.’”
Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Đức Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.
Như mắt… đã nói trên, còn tất cả những nội dung khác cũng như vậy.
如是我聞:
一時,佛住舍衛國祇樹給T 0055c14孤獨園。
爾時,世尊告諸比丘:「計者是病,計T 0055c15者是癰,計者是刺,如來以不計住故,離病、T 0055c16離癰、離刺。
「是故,比丘欲求不計住,離病、離T 0055c17癰、離刺者,彼比丘莫計眼我、我所,莫計T 0055c18眼相屬,莫計色、眼識、眼觸、眼觸因緣生受,T 0055c19內覺若苦、若樂、不苦不樂,彼亦莫計是我、我T 0055c20所、相在。耳、鼻、舌、身、意亦復如是。
「比丘!如是T 0055c21不計者,則無所取,無所取故無所著,無T 0055c22所著故自覺涅槃:『我生已盡,梵行已立,所T 0055c23作已作,自知不受後有。』」
佛說此經已,諸T 0055c24比丘聞佛所說,歡喜奉行。
T 0055c25如眼等所說,餘一一事亦如是。
T 0055c26 Thus have I heard. At one time the Buddha was staying at Sāvatthī in Jeta’s Grove, Anāthapiṇḍika’s Park.
At that time the Blessed One said to the monks: “Conceiving is a disease, conceiving is an ulcer, conceiving is a thorn. Because of being established in the absence of conceiving, the Tathāgata is free from disease, free from the ulcer, free from the thorn.
“Therefore a monk, who wishes to seek being established in the absence of conceiving, being free from disease, free from the ulcer, free from the thorn, that monk should not conceive of the eye as a self, as belonging to a self, and he should not conceive of the eye as [belonging] to another. He should not conceive of forms, eye-consciousness, eye-contact, and feeling arisen in dependence on eye-contact and experienced within, be it painful, pleasant, or neutral, as a self, as belonging to the self or as [belonging] to another.
“The ear … the nose … the tongue … the body … the mind is also like that.”
“Monks, one who does not conceive in this way then does not cling to anything. Because of not clinging to anything, he is not attached to anything. Because of not being attached to anything, he personally realizes Nirvāṇa, [knowing]: ‘Birth for me has been eradicated, the holy life has been established, what had to be done has been done, I myself know that there will be no receiving of any further existence.’”
When the Buddha had spoken this discourse, hearing what the Buddha had said the monks were delighted and received it respectfully.
As in relation to the eye, etc., each of the remaining topics are to be recited in this way.
Tôi nghe như vầy:
Một thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:
“Kế chấp là bệnh, kế chấp là ung nhọt, kế chấp là gai nhọn. Như Lai vì không trụ kế chấp nên xa lìa bệnh, xa lìa ung nhọt, xa lìa gai nhọn. Cho nên này các Tỳ-kheo, nếu muốn cầu không trụ kế chấp, để xa lìa bệnh, xa lìa ung nhọt, xa lìa gai nhọn, thì Tỳ-kheo các ông chớ kế chấp mắt là ngã, là ngã sở, chớ kế chấp tương thuộc của mắt; chớ chấp sắc, nhãn thức và cảm thọ với khổ thọ, lạc thọ và phi khổ phi lạc thọ được cảm thọ bên trong phát sanh bởi nhân duyên nhãn xúc, cũng không chấp cho là ngã, là ngã sở, hay ở trong nhau. Đối với tai, mũi, lưỡi, thân, ý lại cũng như vậy.
Này các Tỳ-kheo, người nào không chấp như vậy, đối với mắt sẽ không có gì để chấp giữ. Vì không có gì để giữ, nên không có gì để đắm nhiễm. Vì không có gì để đắm nhiễm nên tự mình giác ngộ Niết-bàn: ‘Ta, sự sanh đã dứt, phạm hạnh đã lập, những gì cần làm đã làm xong, tự biết không còn tái sanh đời sau nữa.’”
Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Đức Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.
Như mắt… đã nói trên, còn tất cả những nội dung khác cũng như vậy.
Thus have I heard. At one time the Buddha was staying at Sāvatthī in Jeta’s Grove, Anāthapiṇḍika’s Park.
At that time the Blessed One said to the monks: “Conceiving is a disease, conceiving is an ulcer, conceiving is a thorn. Because of being established in the absence of conceiving, the Tathāgata is free from disease, free from the ulcer, free from the thorn.
“Therefore a monk, who wishes to seek being established in the absence of conceiving, being free from disease, free from the ulcer, free from the thorn, that monk should not conceive of the eye as a self, as belonging to a self, and he should not conceive of the eye as [belonging] to another. He should not conceive of forms, eye-consciousness, eye-contact, and feeling arisen in dependence on eye-contact and experienced within, be it painful, pleasant, or neutral, as a self, as belonging to the self or as [belonging] to another.
“The ear … the nose … the tongue … the body … the mind is also like that.”
“Monks, one who does not conceive in this way then does not cling to anything. Because of not clinging to anything, he is not attached to anything. Because of not being attached to anything, he personally realizes Nirvāṇa, [knowing]: ‘Birth for me has been eradicated, the holy life has been established, what had to be done has been done, I myself know that there will be no receiving of any further existence.’”
When the Buddha had spoken this discourse, hearing what the Buddha had said the monks were delighted and received it respectfully.
As in relation to the eye, etc., each of the remaining topics are to be recited in this way.