Tôi nghe như vầy:
Một thời, Phật ở trong núi Kỳ-xà-quật tại thành Vương xá. Bấy giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Nếu có Sa-môn, Bà-la-môn nào mắt quen gần gũi sắc, thì bị rơi vào chỗ tự tại của ma, cho đến không giải thoát được sự trói buộc của ma. Đối với tai, mũi, lưỡi, thân, ý lại cũng như vậy. Nếu có Sa-môn, Bà-la-môn nào, mà mắt không quen gần gũi sắc, không bị rơi vào chỗ tự tại của ma, cho đến, sẽ giải thoát được sự trói buộc của ma. Đối với tai mũi, lưỡi, thân, ý lại cũng như vậy.”
Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Đức Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.
Như kinh quen gần gũi: trói buộc, đắm nhiễm, vị ngọt, chòm xóm láng giềng, (nếu) sai sử, trói chặt, ngã sở, mong cầu, ham muốn, thuần, nồng hậu không bỏ, cũng thuyết như trên vậy.
如是我聞:
一時,佛住王舍城耆闍崛山。
T 0059b09爾時,世尊告諸比丘:「若沙門、婆羅門眼習T 0059b10近於色,則隨魔所自在,乃至不得解脫魔T 0059b11繫。耳、鼻、舌、身、意亦復如是。
「若沙門、婆羅門T 0059b12眼不習近於色,不隨魔,自在,乃至得解脫T 0059b13魔繫。耳、鼻、舌、身、意亦復如是。」
佛說此經已,T 0059b14諸比丘聞佛所說,歡喜奉行。
T 0059b15如習近,如是繫著、如是味、如是鄰聚,若使T 0059b16受持繫著,我所求欲,淳濃不捨,亦如上說。
T 0059b17 English translation not yet available.
Tôi nghe như vầy:
Một thời, Phật ở trong núi Kỳ-xà-quật tại thành Vương xá. Bấy giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Nếu có Sa-môn, Bà-la-môn nào mắt quen gần gũi sắc, thì bị rơi vào chỗ tự tại của ma, cho đến không giải thoát được sự trói buộc của ma. Đối với tai, mũi, lưỡi, thân, ý lại cũng như vậy. Nếu có Sa-môn, Bà-la-môn nào, mà mắt không quen gần gũi sắc, không bị rơi vào chỗ tự tại của ma, cho đến, sẽ giải thoát được sự trói buộc của ma. Đối với tai mũi, lưỡi, thân, ý lại cũng như vậy.”
Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Đức Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.
Như kinh quen gần gũi: trói buộc, đắm nhiễm, vị ngọt, chòm xóm láng giềng, (nếu) sai sử, trói chặt, ngã sở, mong cầu, ham muốn, thuần, nồng hậu không bỏ, cũng thuyết như trên vậy.