Chuyển đến nội dung chính

⚙️ Tùy Chỉnh Đọc

🎨 Giao diện
✍️ Kiểu chữ
NhỏLớn
ChặtRộng
📐 Bố cục
HẹpFull
SátRộng
Tam tạng sa201-300
SA273 Kinh 273. thủ thanh dụ
SA201 Kinh 201. lậu tận SA202 Kinh 202. ngã kiến đoạn SA203 Kinh 203. năng đoạn nhất pháp SA204 Kinh 204. như thật tri kiến SA205 Kinh 205. ưu-đà-na SA206 Kinh 206. như thật tri SA207 Kinh 207. tam-ma-đề SA208 Kinh 208. vô thường SA209 Kinh 209. lục xúc nhập xứ SA210 Kinh 210. địa ngục SA211 Kinh 211. thế gian ngũ dục SA212 Kinh 212. bất phóng dật SA213 Kinh 213. pháp SA214 Kinh 214. nhị pháp SA215 Kinh 215. phú-lưu-na SA216 Kinh 216. đại hải SA217 Kinh 217. đại hải (2) SA218 Kinh 218. khổ tập diệt SA219 Kinh 219. niết-bàn đạo tích SA220 Kinh 220. tợ thú niết-bàn đạo tích SA221 Kinh 221. thủ SA222 Kinh 222. tri thức SA223 Kinh 223. đoạn (1) SA224 Kinh 224. đoạn (2) SA225 Kinh 225. đoạn (3) SA226 Kinh 226. kế (1) SA227 Kinh 227. kế (2) SA228 Kinh 228. tăng trưởng SA229 Kinh 229. hữu lậu vô lậu SA230 Kinh 230. tam-di-ly-đề (1) SA231 Kinh 231. tam-di-ly-đề (2) SA232 Kinh 232. không SA233 Kinh 233. thế gian SA234 Kinh 234. thế gian biên SA235 Kinh 235. cận trụ SA236 Kinh 236. thanh tịnh khất thực trụ SA237 Kinh 237. tỳ-xá-ly SA238 Kinh 238. nhân duyên SA239 Kinh 239. kết SA240 Kinh 240. thủ SA241 Kinh 241. thiêu nhiệt SA242 Kinh 242. tri SA243 Kinh 243. vị SA244 Kinh 244. ma câu SA245 Kinh 245. tứ phẩm pháp SA246 Kinh 246. thất niên SA247 Kinh 247. tập cận SA248 Kinh 248. thuần-đà SA249 Kinh 249. câu-hi-la (1) SA250 Kinh 250. câu-hi-la (2) SA251 Kinh 251. câu-hi-la (3) SA252 Kinh 252. ưu-ba-tiên-na SA253 Kinh 253. tỳ-nữu ca-chiên-diên SA254 Kinh 254. nhị-thập-ức-nhĩ SA255 Kinh 255. lỗ-hê-già SA256 Kinh 256. vô minh (1) SA257 Kinh 257. vô minh (2) SA258 Kinh 258. vô minh (3) SA259 Kinh 259. vô gián đẳng SA260 Kinh 260. diệt SA261 Kinh 261. phú-lưu-na SA262 Kinh 262. xiển-đà SA263 Kinh 263. ưng thuyết SA264 Kinh 264. tiểu thổ đoàn SA265 Kinh 265. bào mạt SA266 Kinh 266. vô tri (1) SA267 Kinh 267. vô tri (2) SA268 Kinh 268. hà lưu SA269 Kinh 269. kỳ lâm SA270 Kinh 270. thọ SA271 Kinh 271. đê-xá SA272 Kinh 272. trách chư tưởng SA273 Kinh 273. thủ thanh dụ SA274 Kinh 274. khí xả SA275 Kinh 275. nan-đà SA276 Kinh 276. nan-đà thuyết pháp SA277 Kinh 277. luật nghi bất luật nghi SA278 Kinh 278. thoái bất thoái SA279 Kinh 279. điều phục SA280 Kinh 280. tần-đầu thành SA281 Kinh 281. oanh phát mục-kiền-liên SA282 Kinh 282. chư căn tu SA283 Kinh 283. chủng thọ SA284 Kinh 284. đại thọ SA285 Kinh 285. phật phược SA286 Kinh 286. thủ SA287 Kinh 287. thành ấp SA288 Kinh 288. lô SA289 Kinh 289. vô văn (1) SA290 Kinh 290. vô văn (2) SA291 Kinh 291. xúc SA292 Kinh 292. tư lương SA293 Kinh 293. thậm thâm SA294 Kinh 294. ngu si hiệt tuệ SA295 Kinh 295. phi nhữ sở hữu SA296 Kinh 296. nhân duyên SA297 Kinh 297. đại không pháp SA298 Kinh 298. pháp thuyết nghĩa thuyết SA299 Kinh 299. duyên khởi pháp SA300 Kinh 300. tha
SA273

Kinh 273. thủ thanh dụ

Tôi nghe như vầy:

Một thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ. Bấy giờ, có Tỳ-kheo một mình lặng lẽ tư duy: “Thế nào là ngã? Ngã làm gì? Cái gì là ngã? Ngã trụ ở đâu?” Sau khi từ thiền tịnh tỉnh giác, Tỳ-kheo này đến chỗ Đức Phật, đảnh lễ dưới chân Phật, rồi ngồi lui qua một bên, bạch Phật:

“Bạch Thế Tôn, con một mình ở chỗ vắng tư duy: ‘Thế nào là ngã? Ngã làm gì? Cái gì là ngã? Ngã trụ ở đâu?’”

Phật bảo Tỳ-kheo:

“Nay Ta sẽ vì ngươi mà nói hai pháp. Ngươi hãy lắng nghe và suy nghĩ kỹ. Thế nào là hai? Mắt và sắc là hai. Tai và tiếng, mũi và mùi, lưỡi và vị, thân và xúc, ý và pháp. Đó gọi là hai pháp.

“Này Tỳ-kheo, nếu có người bảo rằng: ‘Sa-môn Cù-đàm nói hai pháp, nhưng đó chẳng phải là hai. Nay tôi sẽ bỏ cái này để lập hai pháp khác.’ Người kia chỉ nói suông, nhưng nếu gạn hỏi thì không biết và càng tăng thêm nghi hoặc, vì chẳng phải là cảnh giới của họ. Vì sao? Vì duyên mắt và sắc nên sanh ra nhãn thức.

“Này Tỳ-kheo, mắt này là hình thịt, là bên trong, là nhân duyên, là cứng, là thọ. Đó gọi là nội địa giới, hình thịt của mắt. Này Tỳ-kheo, nếu hình thịt của mắt, hoặc bên trong, hoặc nhân duyên, chất dịch từ mắt tiết ra, là thọ. Đó gọi là nội thủy giới hình thịt của mắt. Này Tỳ-kheo, nếu hình thịt của mắt này, hoặc bên trong, hoặc nhân duyên, phát ra ánh sáng ấm nóng, là thọ. Đó gọi là nội hỏa giới hình thịt của mắt. Này Tỳ-kheo, nếu hình thịt của mắt này, hoặc ở trong, hoặc nhân duyên, dao động nhẹ nhàng, là thọ. Đó là nội phong giới hình thịt của mắt. Này Tỳ-kheo, thí như hai tay chập lại tạo thành âm thanh, cũng vậy duyên mắt và sắc sanh ra nhãn thức. Ba sự này hòa hợp sanh ra xúc, xúc sanh ra thọ, tưởng, tư. Các pháp này chẳng phải ngã, chẳng phải thường, mà đó là cái ngã vô thường; chẳng phải lâu bền, chẳng phải an ổn, đó là cái ngã biến dịch. Vì sao? Này Tỳ-kheo, vì nó là pháp thọ sanh có sanh, già, chết, tiêu mất.

“Này Tỳ-kheo, các hành như huyễn, như sóng nắng, trong khoảnh sát na, tàn lụi, không thật đến không thật đi. Cho nên Tỳ-kheo, đối với các hành vốn không, nên biết, nên hoan hỷ, nên suy niệm rằng, trống không là các hành thường tồn, vĩnh hằng, ổn trụ, pháp không biến dịch; trống không không có ngã, không có ngã sở.

“Ví như người mắt sáng tay cầm đèn sáng vào trong nhà trống, xem xét cái nhà trống ấy. Cũng vậy, Tỳ-kheo, đối với tất cả hành trống không, tâm quán sát, hoan hỷ, rằng trống không là các hành. Trống không, không ngã và ngã sở, là các pháp (được coi là) thường tồn, vĩnh hằng, ổn trụ, pháp không biến dịch. Cũng vậy, mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý và pháp làm nhân duyên sanh ra ý thức, ba sự hòa hợp thành xúc, xúc sanh ra thọ, tưởng, tư. Các pháp này vô ngã, vô thường, chi tiết cho đến không, vô ngã và ngã sở. Tỳ-kheo, ý ngươi thế nào? Mắt là thường hay là vô thường?”

“Bạch Thế Tôn, vô thường.”

Phật lại hỏi:

“Nếu vô thường là khổ chăng?”

“Bạch Thế Tôn, là khổ.”

Phật lại hỏi:

“Nếu vô thường là khổ, là pháp biến dịch, vậy đa văn Thánh đệ tử có nên ở trong ấy thấy là ngã, khác ngã, hay ở trong nhau không?”

“Bạch Thế Tôn, không.”

“Tai, mũi, lưỡi, thân, ý lại cũng như vậy. Như vậy đa văn Thánh đệ tử đối với mắt sanh nhàm tởm; nhàm tởm nên không ưa thích, không ưa thích nên giải thoát, giải thoát tri kiến: ‘Ta, sự sanh đã dứt, phạm hạnh đã lập, những gì cần làm đã làm xong, tự biết không còn tái sanh đời sau nữa.’ Tai, mũi, lưỡi, thân, ý lại cũng như vậy.”

Tỳ-kheo ấy nghe Phật thuyết về kinh thí dụ hai tay hợp lại phát tiếng, một mình đi đến chỗ vắng, tinh cần tư duy, sống không buông lung, … tự biết không còn thọ thân sau, thành A-la-hán.

⏳ Đang tải SA274...

⚙️ Tùy Chỉnh Đọc